Chương 17: Sân đình
Cổng đình làng giáp với với hồ sen. Đang độ khoe sắc, lá xanh ẩn hiện dưới hàng trăm búp sen bung nở kín hồ. Mấy cậu lính vừa vào đình vừa ngoái đầu nhìn, không khỏi hít hà mấy hơi như sợ bỏ lỡ hương hoa đang du đãng cùng gió chiều.
Đại đình nằm ở trung tâm, hai đầu mái đình nhô cao, vút lên như hình con thuyền, Lạc Long thủy quái** cưỡi mây phía trên sống động đến mức chỉ cần nhìn lâu thêm một chốc sẽ có ảo giác rằng chúng sắp bay khỏi lớp gạch hoa chanh đều tăm tắp, lao thẳng xuống hồ sen. Cột đình trơn nhẵn, không sơn son thếp vàng hay trang trí hoa văn rồng mây như các đình làng khác.
Tả quân nghỉ chân tại đình làng, đám đông tập hợp nghe căn dặn xong thì tản ra, việc ai nấy làm.
“Nhà tôi phía sau đình làng, có củi bếp, có nồi niêu, quan lớn cứ mượn dùng thoải mái, đừng cả nể. Trong đình cấm củi lửa, cấm ẩu đả…”
Ông Từ - người trông coi đình làng - cười vô cùng hiền từ, chỉ tay về hướng nhà mình. Cụ đã lớn, râu tóc bạc phơ nhưng lưng vẫn thẳng tắp, đôi mắt sáng rõ, vô cùng minh mẫn. Ông không dè dặt khi đứng trước quan lớn, cũng không luồn cúi khép nép, cử chỉ hết mực kính trọng và khuôn khép.
“Vâng.”
“Ấy là tấm lòng của dân làng, mong quan lớn đừng chê cười. Mấy nay nắng nóng, gắt hơn những năm trước nhiều, nếu không có quan lớn, đoán chừng nhà ả Sợi thu gặt nửa tháng chưa xong nổi.”
Ả Sợi là cách dân làng gọi người phụ nữ mang bầu nọ. Chồng ả cờ bạc rồi nợ nần, không trả nổi nên bị đánh què chân, mấy người phụ nữ trong nhà nghiễm nhiên trở thành lao động chính.
Lúc này đây, sát cổng đình đặt ba bốn mẹt tre đựng khoai mì, rau củ cùng với gà và trứng, là ả Sợi thay mặt dân làng đến tặng. Việt Trang nói thế nào cụ Từ cũng chẳng chịu nhận lại, đành mỉm cười gật đầu.
Cụ Từ rời sân đình, đi về phía con ngõ nhỏ, bên cạnh Việt Trang chỉ còn Nam Ngạn đang đăm chiêu nhìn con gà trống vạm vỡ bị trói gô, tay anh vẫn đang ôm rổ quả vả chín mọng.
Lê Văn Trác chưa trở lại.
“Không nhận thì thành làm giá quá, mà nhận thì…”
Nhận, nhưng nhận không khéo, chẳng may sau này truy tra, thêm kẻ xấu đặt điều, cái tội nhận của biếu, đút lót từ dân rơi oạch xuống đầu, khó tránh một phen biện bạch. Một người tính trước tính sau, nghiêm minh và cẩn trọng như Nam Ngạn tất nhiên sẽ không tán thành với hành động này của Việt Trang. Chẳng qua, trước nay, cái cậu Việt Trang trước mắt anh vốn chẳng bao giờ chịu theo lẽ thường.
“Nếu sau này tôi không may bị trách, bị phạt, Nam Ngạn có xót tôi không?”
“...”
“Nam Ngạn có chịu đứng ra, thay tôi làm chứng không? Hay sẽ…”
Nam Ngạn nhìn cậu, giữ nguyên vẻ kiệm lời thường ngày, trông như hết sức ghét bỏ. Đòi Trịnh Nam Ngạn thay mình làm chứng? Anh không đứng ra chỉ trích, vạch tội đã là phước phần rồi ấy chứ? Việt Trang nghĩ tới đây không khỏi bật cười.“Trêu anh thôi, Nam Ngạn đừng để trong lòng. Tôi sẽ tự viết sớ tâu lên vua trên, bẩm rõ việc này, không để cơ hội lọt vào tay kẻ có lòng.”
“À phải rồi, Nam Ngạn có sợ quỷ không?”
Thấy người bên cạnh nhíu mày, Việt Trang ghé lại gần, cúi đầu, thì thầm:
“Hữu vu chất đồ để ngày rằm lễ đình, thành thử chỉ có Tả vu có thể nghỉ ngơi được.”
Nhìn người nọ ôm khư khư rổ quả vả, vành tai đỏ lên vì bực bội,Việt Trang không khỏi hạ giọng:
“Lính tráng nghỉ ở hông đình cả, trong đình vừa rộng vừa tối, không lửa không than, Nam Ngạn có sợ quỷ không?”
Tả vu và Hữu vu là hai khu có mái che, đặt hai bên Đại đình. Để tránh làm ảnh hưởng đến sự yên tĩnh và trang nghiêm của đình làng, toàn quân sẽ dựng lều bên hông đình, chỉ có mấy vị “quan lớn” được phép nghỉ lại trong đình, chẳng hạn như Trịnh Nam Ngạn và Võ Việt Trang.
Theo lệ thường, Việt Trang sẽ ở cùng lính của mình, ngại phân chia cao thấp trên dưới là một chuyện, tính cậu vốn không ưa chuyện tỏ ra đặc biệt hay trên cơ người khác. Lính ở đâu, Võ Việt Trang ở đó, không chỉ thêm gắn bó tình cảm mà còn dễ phòng thủ nếu chẳng may có nguy hiểm xảy đến bất ngờ.
“Trong đình chỉ còn mình tôi?”
“Nam Ngạn sợ quỷ à?”
Chỉ có kẻ làm việc xấu thành thói, nửa đêm mới sợ ma quỷ tới quấy phá. Cố ý nhắc đi nhắc lại, không khỏi khiến người ta có ảo giác mình đang bị ám chỉ. Tay nắm vành rổ tre siết chặt đến mức run khẽ, đầu ngón tay trắng bệch.
“Vậy thì tôi cùng nghỉ trong đình, ý Nam Ngạn thế nào?”
“...”
Quân lính nghe Đề đốc câu đầu là “bảo vệ rường cột nước nhà”, câu sau là “không yên tâm rường cột nước nhà”, chỉ đành thở dài quay đi. Quan hệ của hai người họ như nước với lửa, dù bề ngoài ngụy trang thế nào thì thực chất vẫn không ưa gì nhau. Nếu thật sự cùng nghỉ ngơi trong đình, Đề đốc của họ không nhân nhân cơ hội đánh lén cho bõ ghét thì thôi, làm gì có chuyện trân trọng “rường cột nước nhà” cơ chứ?
“Được.”
Đề đốc Võ Việt Trang ngẩn ra, kinh ngạc đến độ khẽ “hả” một tiếng. Cậu vốn tưởng Nam Ngạn sẽ giận quá hóa rồ, phất tay áo bỏ đi…
Nam Ngạn cũng biết đối phương lại giở thói xấu, muốn trêu ngươi mình, không những để bụng mà còn ghi thù, thế là nhẹ giọng lặp lại:
“Không phải cậu nói cùng nghỉ ở Tả vu à? Tôi thấy ý này rất hay.”
Việt Trang nhìn người nọ cười một cách hòa nhã, sau đó bình tĩnh quay lưng đi về phía cổng đình, vẻ như muốn ra hồ sen hóng gió, không khỏi nheo mắt đánh giá. Cậu càng lấn tới, người này càng nhượng bộ. Cậu càng quá phận, người này càng xem nhẹ. Từ đầu ngày đến giờ, Trịnh Nam Ngạn cứ như con bói cá nọ, chỉ bình tĩnh đứng trên đầu bù nhìn rơm, chăm chú vào cá tép dưới nước, hoàn toàn ngó lơ mấy kẻ dòm ngó, thăm dò, muốn rình bắt mình ở xung quanh.
Rốt cuộc tại sao lại muốn theo chân Tả quân, dù chịu khổ chịu mệt, thậm chí chịu sự nghi kỵ lẫn chế giễu, vẫn cắn răng chịu đựng? Võ Việt Trang tự nhận bản thân biết nhìn mặt đoán ý, nhưng đôi lúc thật sự không hiểu nổi suy nghĩ của vị quan văn nào đó.
* Đình làng: Đình làng là nơi thờ thành hoàng và cũng là trung tâm sinh hoạt cộng đồng của làng. Đình làng thường diễn ra các hoạt động như: phân chia công điền thổ, giải quyết tranh chấp, thu thuế, ăn khao, hội làng, biểu diễn hát múa dân gian, rước lễ… Đình làng triều nhà Giao gồm các khu: Đại đình, tả vu và hữu vu, nghi môn, hậu cung, tiên tế và ao hồ trước cửa đình.
** Lạc Long thủy quái (thường được gọi đầy đủ là con Kìm Lạc Long thủy quái hoặc Si Vẫn) là một linh vật huyền thoại trong tín ngưỡng dân gian và kiến trúc cổ Việt Nam, thường được đắp nổi ở hai đầu bờ nóc trên mái đình, chùa hoặc đền miếu.