Câu vè thêm một đoạn
Lá bùa trên nắp giếng rách lúc nào, không ai biết.
Thừa thấy nó khi trời vừa hửng, lúc cậu ra sân sau rửa mặt. Đêm qua họ đã lấp lại cái hố dưới gầm phản, đặt gạch lên, kê phản lên trên gạch. Gần sáng nước rút, gạch khô dần từ mép vào, chỉ còn đọng lại một vệt ẩm nhỏ như dấu môi. Cậu nằm dưới đất, cạnh bếp, và lần đầu tiên từ đêm mồng mười, ngủ được một giấc không mơ.
Rồi cậu ra sân sau và thấy lá bùa.
Nó là lá bùa lính hội đồng dán lên nắp đá sáng mười một, giấy vàng, chữ son, dán chéo qua kẽ nắp. Giờ nó rách làm đôi, theo đúng kẽ đá, như có ai đó từ bên dưới đẩy nắp lên một khe vừa đủ. Mép giấy rách còn ướt.
Nắp đá lệch ra một chút. Không nhiều. Bằng một ngón tay.
Trên thành giếng có dấu tay. Dấu tay nhỏ, ướt, năm ngón xòe ra bám vào mép đá, rồi thêm một dấu nữa thấp hơn, như người đang bò lên. Thừa đặt bàn tay mình lên một dấu. Vừa khít. Cậu rụt tay lại.
Dưới chân thành giếng, trên nền sân lát gạch, có một hàng vết ướt dẫn ra phía cửa ngách. Không phải dấu chân. Là dấu của một thứ gì đó đi khom, hai tay chống xuống đất, chân trái kéo lê.
Hàng vết ấy dừng ở cửa ngách. Ngoài cửa ngách là ngõ. Ngoài ngõ là phố.
*
Anh Tư Nhuộm tới trước cổng họ Quỷ vào giờ Thìn.
Thừa không biết tên anh ta lúc đó. Cậu chỉ thấy, qua khe cửa nhà cổng, một người đàn ông chừng ba mươi, áo cộc, hai bàn tay xanh lè tới khuỷu vì nhuộm chàm, đứng giữa đường, tay cầm một hũ rượu con. Anh ta không say lắm. Vừa đủ để nói to.
“Nhà ông họ Quỷ, bốn mươi ba hòm!”
Mấy người đi chợ dừng lại. Hai người lính gác cổng nhìn nhau, một người bật cười.
“Thằng Thừa khom khom, bò lên khỏi giếng!”
Anh ta đọc hết bài vè, vỗ tay theo nhịp, cái hũ rượu sóng sánh. Rồi anh ta bước lên bậc cổng, ghé sát mặt vào khe cửa, chỗ Thừa đang đứng, như biết chắc có người đứng sau.
“Anh Thừa ơi! Ra đây cho anh em mình coi mặt cái coi!”
Người đứng xem cười rộ. Có người đẩy vai anh ta. Có người kéo anh ta xuống. Anh ta vừa cười vừa đi, vừa đi vừa ngoái lại đọc tiếp:
“Ai mà dại miệng, gọi nó bằng anh…”
Thừa đứng sau khe cửa cho tới khi người ta tản hết. Cậu không giận. Cậu chỉ thấy lạnh, như mọi lúc. Rồi cậu nghĩ tới hàng vết ướt dẫn ra cửa ngách, và cái lạnh trong người cậu không thay đổi gì, nhưng tim cậu đập nhanh hơn một nhịp.
Gần trưa, tin về tới.
Người mang tin là một bà bán rau đi ngang. Bà nói với người lính gác, người lính gác nói với người làm bếp nhà Đào, người làm bếp nhà Đào chạy vào bếp, mặt tái mét, và đánh rơi cả rổ hành. Hạnh hỏi. Người đó nói. Hạnh nói lại với Thừa.
Anh Tư Nhuộm chết rồi.
Chết ngồi, bên cái vại chàm sau nhà, hai tay vẫn ngâm trong nước chàm tới khuỷu, mặt ngửa lên, mắt mở. Không có vết gì. Người nhà anh ta gọi mãi không thưa, ra coi thì thấy vậy. Người ta nói mặt anh ta quay về phía phường Đông Thị. Về phía nhà họ Quỷ.
Thừa nghe xong thì đi ra sân sau, đứng nhìn cái giếng. Nắp đá vẫn lệch một ngón tay. Lá bùa rách vẫn bay phần phật.
“Không phải cậu” Hạnh nói. Cô đứng sau lưng cậu từ lúc nào.
“Sao chị biết?”
“Vì em biết cậu không biết làm.”
*
Đến giờ Mùi, cả thành đã biết.
Người ta không còn đứng nhìn từ bên kia đường nữa. Người ta tới tận chân cổng. Có người ném muối, từng vốc, trắng xóa bậc thềm. Có người đốt giấy vàng ngay giữa đường, lửa bén vào ống quần một người đứng gần, phải dập. Có một bà già quỳ xuống trước cổng, lạy ba lạy, rồi để lại một đĩa xôi và một quả trứng luộc. Có người ném qua tường một con gà chết, đầu bị vặn ngoặt. Lính nhà Lê phải dàn ra hai lớp.
Rồi người nhà anh Tư Nhuộm tới. Anh trai anh ta, một người đàn ông to bè, mắt đỏ, tay cũng xanh chàm, cầm theo một tờ đơn. Anh ta không vào được cổng. Anh ta đứng ở bậc dưới cùng, đọc to tờ đơn cho cả phố nghe, giọng run mà không dừng:
“…con thứ họ Quỷ, cầm khí Thần Trùng, dùng khí giết em tôi là Tư Nhuộm, người không có tội tình gì ngoài việc hát mấy câu vè con nít. Xin hội đồng bắt nó ra xét. Xin hội đồng tịch khí, đem đi đâu thì đem, cho thành này được yên.”
Người đứng quanh xì xào. Có người gật. Có người lắc. Một người đàn ông nói to: “Thần Trùng bắt theo dây máu. Thằng Tư Nhuộm có phải họ Quỷ đâu!” Một người khác cãi: “Ai biết! Khí đó giết bốn mươi mấy mạng một đêm, ai biết nó còn bắt theo cái gì!”
Đào Nghiêm tới vào giờ Thân. Hắn đi bộ, không kiệu, chỉ mang theo hai người hầu. Đám đông tự rẽ ra cho hắn đi. Hắn nhận tờ đơn từ tay anh trai Tư Nhuộm, đọc, gật đầu, nói gì đó với anh ta bằng giọng nhỏ tới mức Thừa đứng sau khe cửa không nghe được. Anh ta khóc. Đào Nghiêm vỗ vai anh ta, rồi đi vào cổng.
*
“Hội đồng sẽ xét” Đào Nghiêm nói. “Sáng mười bốn.”
Họ ngồi ở gian bếp, vì đó là gian duy nhất Thừa chịu ngồi. Đào Nghiêm ngồi trên cái chõng tre, ngay chỗ cha cậu đã ngồi tối mồng mười, áo gấm xanh quét xuống nền đất. Hắn không tỏ ra khó chịu. Hắn còn nhận chén nước Hạnh đưa, uống một ngụm.
“Tôi không giết anh ta.”
“Tôi biết” Đào Nghiêm đặt chén xuống. “Thần Trùng không bắt người không có dây. Cả thành ai học qua mấy câu ở trường làng cũng biết. Nhưng cả thành không cần biết, cậu Thừa. Cả thành cần một cái tên để chửi. Tên cậu thì có sẵn.”
Thừa nhìn mặt quạt của hắn. Hôm nay hắn không mở.
“Tôi có việc cần nhờ nhà Đào.”
“Cậu cứ nói.”
“Cái hũ dưới phòng tôi. Tôi muốn đem nó lên ngăn thứ chín. Ngăn không bia.”
Đào Nghiêm im một lúc. Hắn nhìn Thừa, rồi nhìn cái phản kê trên gạch mới, rồi nhìn lại Thừa.
“Cậu biết trong hũ là ai.”
“Để coi.”
Đào Nghiêm bật cười, lần này là tiếng cười thật.
“Ai dạy cậu câu đó? Ông thợ miệt sông hả?” Hắn lắc đầu. “Không cần để coi. Tôi biết. Nhà Đào cũng có người ngủ không được đêm qua, ngồi canh cửa sổ nhà cậu. Quỷ Tồn. Không phải Quỷ Văn Đạt.”
Thừa không nói gì.
“Cậu có biết cậu vừa đưa cho tôi cái gì không?” Đào Nghiêm hỏi, giọng gần như dịu dàng. “Ông Quý Lân đã đứng trước hội đồng, trước bài vị, viết một cái tên sai lên ông cố mình. Cái tên trong gia phả nhà Quý. Nếu ông cố thật là Quỷ Tồn, thì gia phả nhà Quý chép sai từ gốc. Chép sai từ gốc thì cái chi trưởng ấy có còn là chi trưởng không?”
“Tôi không đưa gì cho anh hết.”
“Cậu không đưa. Cậu đặt nó dưới gầm giường” Đào Nghiêm đứng dậy, phủi vạt áo. “Đêm nay giờ Tuất, tôi đem chìa khóa tới. Cậu đem hũ. Lính nhà Lê sẽ đi theo. Giấy nói mọi việc dính tới khí họ Quỷ phải có người nhà Đào. Tôi chỉ làm đúng giấy.”
Hắn đi ra tới cửa thì dừng lại.
“À. Ông cụ trong hũ. Cậu đừng mở ra.”
“Ông Câm cũng nói vậy.”
“Ông Câm đâu có nói” Đào Nghiêm nói, và cười. “Ông ấy viết.”
*
Đường lên nghĩa trang tường ban đêm dài hơn ban ngày.
Họ đi bằng cổng tây, theo bậc đá dẫn lên mặt thành. Hai người lính nhà Lê đi trước cầm đuốc, hai người đi sau cầm giáo. Đào Nghiêm đi bên cạnh, tay cầm đèn lồng, chiếc chìa khóa đồng to như bàn tay đeo ở thắt lưng. Hạnh gánh cái hũ sành trong một cái thúng, một đầu đòn gánh là hũ, đầu kia là một thúng gạch cho cân. Thừa đòi gánh. Hạnh không cho. Cậu đi cạnh cô, một tay đỡ đòn, chân trái kéo trên từng bậc đá.
Cái hũ nặng hơn cậu nghĩ. Như có nước bên trong.
Mặt thành ban đêm im như một cái sân nhà vắng chủ. Gió từ ngoài thành thổi vào, mang theo mùi ruộng, mùi bùn, mùi khói đốt đồng ở đâu rất xa. Những dãy mộ thấp hai bên chạy dài vào bóng tối. Giữa mặt thành, chỗ giàn hỏa đêm mồng mười, vẫn còn một khoảng đá cháy đen loang lổ, chưa ai cọ.
Ngăn mộ họ Quỷ ở gần cuối dãy phía bắc, mười hai ngăn xây liền nhau, mỗi ngăn có một tấm bia đá nhỏ. Ngăn thứ chín không có bia. Chỉ có một mặt đá trơn, có lỗ khóa đồng ở giữa.
Đào Nghiêm tra chìa vào ổ. Ổ khóa kêu một tiếng khô khốc như xương gãy.
Bên trong ngăn trống. Thừa đã nghe người ta kể, nhưng nhìn tận mắt thì khác. Đó là một cái hộc xây bằng gạch vồ, sâu chừng một sải tay, nền lát đá. Không có gì. Không có hũ tro, không có xương, không có lấy một mảnh vải. Chỉ có bụi. Và một vệt khô ở giữa nền đá, hình tròn, đúng bằng đáy một cái hũ, như có cái gì đã ngồi ở đó rất lâu rồi bị nhấc đi.
Hạnh hạ gánh. Thừa ôm cái hũ ra khỏi thúng, đặt vào trong ngăn, đúng lên cái vệt tròn ấy.
Vừa khít.
Đào Nghiêm cúi xuống, soi đèn lên nắp hũ. Hắn đọc tên, đọc dòng đoạn nghĩa, đọc dòng cuối. Môi hắn mấp máy không thành tiếng. Hắn mở quạt. Thừa thấy trên mặt quạt, ở chỗ còn trống, mực đen tự hiện ra từng nét, rồi chuyển đỏ, như ai đó đang chép lại những gì hắn vừa đọc.
“Xong” Đào Nghiêm nói. Hắn gập quạt. “Khóa nhé.”
Thừa nhìn cái hũ lần cuối. Cậu không biết phải nói gì với nó. Ông Quỷ Tồn. Người đã ngủ dưới phòng cậu một trăm hai mươi năm, dưới những đứa con thứ khác mà cậu không bao giờ biết tên.
Cậu chắp tay, cúi đầu. Không khấn. Cậu vẫn chưa biết khấn.
Ổ khóa đồng kêu một tiếng nữa.
Lúc Thừa đứng dậy, cậu thấy trong ngực áo nhẹ đi một chút. Không phải cuốn sổ. Cuốn sổ vẫn nặng như cũ, lạnh như cũ. Nhẹ đi là cái gì khác, cái gì đó đã đè trên cậu từ đêm mười hai mà cậu không biết là có, cho tới khi nó không còn.
*
Ở góc tây bắc, chỗ lò thiêu, có một ngọn đèn dầu nhỏ.
Đào Nghiêm đã xuống trước, mang theo hai người lính. Hai người còn lại đứng ở đầu bậc đá chờ. Thừa nói với họ cậu muốn thắp một nén nhang ở chỗ giàn hỏa. Họ không cản. Không ai muốn cản cậu lâu.
Bên cạnh lò thiêu, ngay cái chỗ đá cháy đen mà đêm mồng mười có một cái cáng tre phủ chiếu, có một người đàn bà ngồi xổm. Cạnh bà là một thằng bé chừng tám tuổi ngủ gục trên đùi mẹ. Trước mặt bà là ba nén nhang cắm vào một kẽ đá, và một cái nồi đất nhỏ đậy nắp.
Bà ngẩng lên khi nghe tiếng guốc kéo lê của Thừa.
“Cậu là thằng nhỏ dưới giếng.”
Không phải câu hỏi.
Thừa đứng lại. Người đàn bà chừng gần bốn mươi, mặt tròn, da rám, tóc vấn khăn mỏ quạ. Áo bà là áo nâu của người bán hàng ngoài chợ đêm, trên vạt còn dính mấy vệt trắng như bột.
“Chồng tôi là đội Hai” Bà nói. “Người ta gọi vậy.”
Thừa không biết phải làm gì với hai tay mình. Cậu quỳ xuống, đối diện bà, bên kia ba nén nhang.
“Tôi…”
“Sáng mười một, trước khi người ta gọi ông ấy lên hội đồng, ông ấy về nhà ăn cơm” Bà nói, như kể chuyện người khác. “Ông ấy nói một câu. Ổng nói: ‘Có thằng nhỏ dưới giếng nhà họ Quỷ. Tôi ghi đủ số cho nó sống.’ Rồi ổng đi. Tới tối, người ta khiêng ổng lên đây, không hòm, không tên, đốt chung với người ta.”
Thằng bé trên đùi bà cựa mình. Bà vuốt tóc nó.
“Tôi không đến đây để đòi cậu cái gì” Bà nhìn Thừa. “Ổng tự ghi. Không ai ép. Cái đó là của ổng.”
Bà mở nắp nồi đất. Hơi nóng bốc lên. Trong nồi là tào phớ, trắng mịn, nước đường gừng vàng sóng sánh. Bà múc ra một cái bát sành, đưa cho Thừa.
“Ăn đi. Nhìn cậu là biết mấy ngày nay không ăn được cái gì ra hồn.”
Thừa cầm bát. Bát nóng. Cậu biết nó nóng vì cậu thấy hơi bốc lên, chứ cậu không thấy gì ở lòng bàn tay. Cậu húp một ngụm. Ngọt. Gừng cay ở cuống họng. Đó là thứ đầu tiên cậu cảm thấy trọn vẹn từ đêm mồng mười.
Cậu ăn hết bát. Bà múc thêm. Cậu ăn hết bát thứ hai.
“Thằng Tư Nhuộm” Bà nói, khi cậu đặt bát xuống. “Không phải cậu.”
“Sao bà biết?”
“Thần Trùng bắt theo dây. Tư Nhuộm với nhà cậu có bà con gì đâu” Bà rút trong túi áo ra một gói vải, đặt xuống đá giữa hai người. “Mà tôi ở cùng xóm với nó. Sáng nay tôi thấy cái vại chàm nhà nó. Nước chàm có dấu tay. Nhỏ, như tay cậu. Từ trong nước ra.”
Thừa nhìn gói vải.
“Trong này là bốn nén bạc” Bà nói. “Của ổng dành dụm mười năm để cho thằng Tí đi học chữ. Tôi đưa cậu.”
“Để làm gì?”
“Để cậu biết người ta đã giết ổng” Giọng bà không cao lên, không run. “Rồi tới ngày cậu biết dùng cái thứ trong ngực áo cậu, cậu dùng nó lên đứa nào đã cắt họng ổng rồi vứt ổng lên đây như vứt một con chó.”
“Tôi không…”
“Tôi không bắt cậu hứa” Bà đặt tay lên gói vải, đẩy nó về phía Thừa thêm một chút. “Tôi biết người ta không bắt cậu hứa được. Ổng có kể. Cậu cứ cầm. Cầm rồi tính.”
Thừa nhìn gói vải rất lâu. Rồi nhìn thằng bé đang ngủ. Rồi nhìn ba nén nhang. Ba nén cháy đều. Không có nén nào tàn trước.
Cậu cầm gói vải lên.
“Để coi” Cậu nói.
Bà đội Hai gật đầu, như đó đúng là câu bà chờ.
*
Lúc họ xuống tới chân thành, trống canh hai vừa điểm.
Phố đã vắng. Chỉ còn tiếng ếch ngoài mương thành, tiếng chó sủa từng chập ở xóm xa. Hai người lính đi trước, đuốc kéo bóng họ dài ra trên mặt đường lát đá. Hạnh gánh hai cái thúng không, đòn gánh kẽo kẹt. Thừa đi cạnh, gói bạc của bà đội Hai nằm trong ngực áo, cạnh cuốn sổ và tờ giấy rách.
Ngang qua một con ngõ nhỏ, có tiếng trẻ con.
Không phải tiếng chơi. Là tiếng đọc vè, khe khẽ, như mấy đứa nằm chung chiếu đọc cho nhau nghe để khỏi sợ. Thừa dừng lại. Hạnh cũng dừng.
Bài vè vẫn là bài vè cũ, những câu cậu đã thuộc. Nhưng tới cuối, có một đứa đọc thêm. Bốn câu mới. Giọng nó lí nhí, như vừa học, còn chưa chắc lời:
Ai kêu cậu Ba, Ra đường gặp ma, Ma khom ma khòm, Ma đi mua hòm.
Mấy đứa kia cười khúc khích. Một giọng người lớn quát vọng ra từ trong nhà. Rồi im.
Thừa đứng giữa đường. Cậu không thấy lạnh hơn. Cậu không còn biết lạnh hơn là ra sao nữa. Nhưng cậu thấy Hạnh đã buông đòn gánh, hai cái thúng không đổ xuống mặt đường.
Rồi cô chạy.
Thừa chạy theo. Cậu không chạy được, nên cậu kéo chân trái mà đi, nhanh nhất nó cho phép, qua hai dãy phố, qua cổng họ Quỷ, nơi hai người lính gác nhìn theo không kịp hỏi, qua nhà cổng, qua sân trước, qua từ đường tối om, xuống bếp.
Bếp còn lửa than. Thằng Lục ngủ trên manh chiếu cạnh lò, co người như con tôm, cái tay bó nẹp đặt trên ngực.
Nó còn thở.
Hạnh quỳ xuống bên em, ôm lấy nó, run.
Thừa đứng ở cửa bếp. Dưới chân cậu, trên nền đất nện, có một hàng vết ướt. Không phải dấu chân. Là dấu của một thứ đi khom, hai tay chống xuống đất, chân trái kéo lê. Hàng vết ấy đi vào từ cửa sau, từ phía sân giếng, băng qua bếp, tới sát mép manh chiếu của thằng Lục.
Và dừng ở đó.