Hũ sành dưới gầm phản
Sáng mười hai, Thừa không đứng dậy được.
Cậu nằm co trên tấm phản, cái chăn bông cũ của bà Tư trùm kín tới cằm, mà răng vẫn đánh vào nhau từng hồi như trống con. Người cậu nóng. Hạnh sờ trán cậu thì rụt tay lại như chạm vào nồi. Nhưng bên trong, dưới lớp da nóng ấy, cái lạnh đã đi khỏi xương cườm tay, lan ra cả hai vai, xuống tới thắt lưng, và nằm đó như nước đọng trong một cái chum.
Cả đêm cậu không dám đặt chân xuống nền. Gạch dưới gầm phản vẫn ướt. Gần sáng, nước rịn ra tới chân phản, loang thành một vệt sẫm hình bàn tay.
“Cậu nằm yên” Hạnh nói. “Em đi kêu thầy.”
“Thầy nào?”
“Ông Câm ở đình Hàng Vải. Người làm bùa cho ông nhà mình.”
Thằng Lục đã ngồi dậy được. Nó ngồi dựa vách bếp, hai ngón tay trái bó nẹp tre, mặt còn sưng một bên nhưng mắt đã mở được cả hai. Nó nhìn Thừa run trong chăn, rồi lết lại, kéo cái chăn của chính nó, cái chăn cói rách, đắp thêm lên người cậu.
“Cậu Ba lạnh hả.”
“Ừ.”
“Lạnh mà nóng.”
“Ừ.”
Thằng Lục ngồi canh bên phản, như một con chó nhỏ canh chủ, cho tới khi chị nó về.
*
Ông Câm già hơn Thừa tưởng. Lưng còng, đầu trọc, râu bạc lơ thơ như sợi bông gòn dính trên cằm. Ông mặc áo nâu bạc màu, đeo trước ngực một tấm bảng đá đen to bằng bàn tay, buộc dây gai, với một mẩu than nhét trong túi áo. Hai người lính ở cổng không hỏi gì, chỉ lùi ra cho ông đi qua, và một người lén chắp tay vái theo lưng ông.
Ông ngồi xuống mép phản, cầm cườm tay Thừa, ba ngón tay khô như rễ cây đặt lên mạch. Ông bắt mạch rất lâu. Rồi ông rút mẩu than, viết lên bảng đá, chìa cho Thừa xem.
Lạnh từ trong.
“Tôi biết” Thừa nói.
Ông Câm xóa bằng ngón cái, viết tiếp.
Không phải bệnh. Là giá.
Ông nhìn xuống ngực áo Thừa, nơi cuốn sổ nằm. Ông không chạm vào nó. Ông lấy trong túi vải ra một nắm gừng khô, ngải cứu, một thứ rễ đen Thừa không biết tên, đưa cho Hạnh, ra dấu: sắc ba chén còn một.
“Ông làm bùa cho cha tôi?”
Ông Câm gật.
“Từ khi nào?”
Ông viết: Tháng năm.
Tháng năm. Bốn tháng trước đêm mồng mười. Trước cả khi chú Ba mất.
“Cha tôi biết trước?”
Ông Câm nhìn cậu, không viết gì. Rồi ông xóa bảng, lau tay vào vạt áo, và cúi xuống nhìn vào gầm phản. Ông nhìn vệt nước hình bàn tay trên nền gạch. Ông đưa ngón tay chấm vào đó, đưa lên mũi ngửi. Ông gõ khớp ngón tay lên một viên gạch, nghe. Gõ viên bên cạnh. Gõ viên thứ ba.
Ông đứng dậy, viết:
Đêm nay. Giờ Hợi. Đừng ngủ trên phản.
Rồi ông đi, không nhận tiền, cũng không nhận cái bát nước Hạnh đưa.
*
Hội đồng tới vào giờ Ngọ.
Thừa nghe tiếng chiêng mở đường từ đầu phố. Rồi tiếng ngựa, tiếng kiệu, tiếng lính hô dẹp. Hạnh đỡ cậu dậy, khoác cho cậu cái áo nâu, quấn thêm cái chăn bông quanh vai. Một người lính vào tận bếp, nói cộc lốc: hội đồng tới kiểm khí, cậu ra sân.
Sân trước nhà họ Quỷ mười ngày trước là chỗ bà Tư phơi cau, giờ người ta căng một tấm bạt xanh, kê bảy cái ghế bành thành hình móng ngựa. Ở giữa, trước bậc thềm từ đường, đặt một cái chõng tre trống.
Họ để Thừa ngồi lên cái chõng tre ấy.
Bảy cái ghế có sáu người ngồi. Cái ghế thứ ba để trống, có ai đó đặt lên mặt ghế một vuông khăn trắng.
Thừa chưa từng thấy những người này cùng một chỗ. Cậu chỉ biết họ qua tiếng người ta nói ngoài chợ: bảy nhà lớn của Việt Thành, mỗi nhà giữ một mảng thành, mỗi nhà giữ một thứ khí. Ngoài chợ người ta nói khí có năm loại, rèn từ xác yêu, xác tinh, xác thần, xác quỷ, và loại cuối cùng, hiếm nhất, rèn từ xác những vị thần đã hóa quỷ. Người ta nói ai cầm khí thì gọi là Khí Chủ, và khí nào cũng đòi trả, chỉ là đòi bằng thứ gì. Cậu chưa bao giờ nghĩ có ngày mình ngồi trước mặt cả sáu nhà, với một thứ khí trong ngực áo.
Cậu nhìn họ theo lối duy nhất cậu biết: từ dưới lên, như người ở nhìn khách.
Người ngồi ghế đầu bên trái là một người đàn bà chừng năm mươi, tóc búi cao, mặc áo giáp da ngoài áo dài, hai tay đặt trên đầu gối như hai cái móng. Áo bà ám một mùi tanh, mùi chuồng thú. Dưới chân ghế bà, Thừa thấy mặt gạch có mấy vết cào mới, sâu, như có con gì vừa mài vuốt. Nhà Lê, Hạnh thì thầm bên tai cậu, giữ lính, giữ cổng. Ông đội Hai là người nhà Lê.
Người ngồi kế bà là một ông già gầy, râu cằm dài, bàn tay phải đặt trên đầu gậy. Ba ngón tay của bàn tay ấy đã đổi màu, nâu đỏ, sần sùi, như sắt để ngoài mưa lâu năm. Nhà Vũ, Hạnh nói. Giữ lò rèn khí. Thợ khí nào trong thành cũng phải có giấy nhà Vũ.
Người thứ ba là một người đàn ông béo, má đỏ, mặc áo gấm vàng, quanh người phảng phất mùi trầm. Không ai thắp trầm. Nhà Phan, giữ bến kênh. Người thứ tư là một người đàn ông trẻ hơn, mặt xanh, vạt áo bên trái ướt sũng dù trời nắng, nước nhỏ từng giọt xuống chân ghế mà không ai lau. Nhà Hồ, giữ nước, giữ giếng chung, giữ kênh đào.
Người thứ năm là Đào Nghiêm, quạt gấp trong tay.
Người thứ sáu ngồi ở ghế cuối, lệch ra ngoài vòng móng ngựa một chút, là Quý Lân.
Ở giữa, sau một cái án thư sơn đỏ, là viên chức hội đồng hôm qua, áo đỏ, mũ cánh chuồn. Hạnh nói ông là người nhà Mạc. Nhà Mạc giữ sổ sách, giữ luật, giữ giấy tờ của cả thành. Ông họ Mạc tên Tri.
Mạc Tri gõ cái thước gỗ xuống án thư.
“Kiểm khí họ Quỷ. Khí Chủ, nếu có, đưa khí ra.”
Thừa rút cuốn sổ từ ngực áo.
Cậu không biết người ta sẽ làm gì với nó. Cậu chỉ cầm nó trên hai bàn tay, đặt lên đùi. Bìa đen sần. Chỉ đỏ quấn gáy. Cây bút cán xương buộc ở nút.
Không ai bước tới.
Ông già nhà Vũ chống gậy đứng lên. Ông đi tới còn chừng năm bước nữa là chạm cái chõng tre thì dừng lại. Bàn tay phải của ông, bàn tay có ba ngón đã gỉ, run lên một cái. Ông nhìn cuốn sổ rất lâu, nhìn sợi chỉ đỏ, nhìn cây bút. Rồi ông quay lại, nói với Mạc Tri, giọng khàn như tiếng bễ lò:
“Quỷ Thần Khí. Nhận chủ rồi. Ai giật thì mất tay.”
“Nhận chủ là ai?”
Ông già nhìn Thừa.
“Thằng nhỏ này.”
Mạc Tri gật. Thư lại ghi.
“Theo giấy tờ, con thứ họ Quỷ đã chết đêm mồng mười” Mạc Tri nói, giọng đều như đọc kinh. “Có văn tế nhà Đào đọc trước đông người. Có tro. Có ngăn mộ chờ.”
“Tôi chưa chết.”
Thừa không biết câu ấy từ đâu ra. Giọng cậu khàn, run vì sốt, nhỏ tới mức người ngồi ở ghế cuối phải nghiêng đầu. Nhưng cậu nói xong rồi, và không ai rút lại được.
“Tôi chưa chết. Ghi tôi vô.”
Sáu người ngồi im. Người đàn bà nhà Lê nhếch mép. Ông nhà Phan phe phẩy tay áo như xua ruồi. Người nhà Hồ không nhìn cậu, chỉ nhìn nước nhỏ dưới chân mình.
Đào Nghiêm mở quạt. Lần đầu tiên Thừa thấy hắn mở quạt. Mặt quạt giấy trắng, trên đó có mấy hàng chữ mực đen.
“Cậu ấy nói đúng” Đào Nghiêm nói. “Người đứng đây thì không thể là người trong hũ tro. Nhà Đào xin làm chứng cậu ấy còn sống. Và vì nhà Đào đang giữ hương khói họ Quỷ, nhà Đào xin được trông nom cậu ấy cho tới ngày Kỷ Mão.”
“Không” Quý Lân nói.
Hắn không đứng dậy. Hắn chỉ ngả người ra sau ghế.
“Chi trưởng họ Quý đã nhận tổ. Người trông nom con cháu họ Quỷ, nếu phải có, là chi trưởng.”
“Chi trưởng nhận tổ hôm qua bằng một cái tên viết lên một bài vị chưa đóng ấn” Đào Nghiêm nói. “Ấn đang nằm trong tay cậu Thừa. Mà đã nứt.”
Quý Lân không trả lời. Hắn nhìn Thừa. Thừa nhớ cái tên bốn chữ son hôm qua: Quỷ Văn Đạt công. Cậu nhớ giọng cha nói từ ngực áo: không phải tên đó.
Mạc Tri gõ thước.
“Ghi. Lập giấy hiện diện cho con thứ họ Quỷ. Người làm chứng, nhà Đào. Người trông nom, tạm, nhà Đào, cho tới ngày Kỷ Mão. Tên?”
“Quỷ Thừa.”
“Năm sinh?”
Thừa mở miệng. Trong đầu cậu hiện lên giọng đọc văn tế trên mặt thành: sinh năm Tân Mão. Rồi giọng cha trong bếp, tối mồng mười, khi ông xới cơm cho cậu: Ai hỏi, con nói Nhâm Thìn.
“Nhâm Thìn.”
Đám người ngồi ghế xì xào. Thư lại ngừng bút, ngẩng lên nhìn Mạc Tri. Quý Lân bật cười một tiếng ngắn. Người đàn bà nhà Lê nheo mắt nhìn Thừa như nhìn một con thú lạ vừa lòi ra đôi cánh.
“Văn tế nhà Đào đọc Tân Mão” Mạc Tri nói.
“Tôi sinh năm Nhâm Thìn.”
Thừa không biết vì sao cha bắt cậu nói vậy. Nhưng cha đã bắt. Và trong tất cả những thứ cha để lại cho cậu, đó là một trong vài thứ cậu còn giữ được nguyên.
Đào Nghiêm nhìn cậu qua mép quạt. Rồi hắn khẽ cười, và Thừa thấy trên mặt quạt, hàng chữ mực đen cuối cùng đã chuyển sang màu đỏ.
“Ghi Nhâm Thìn” Đào Nghiêm nói. “Người sống tự khai thì ghi theo người sống.”
Thư lại ghi. Rồi hắn mang tờ giấy tới, đặt lên chõng tre, đặt cạnh một hộp son. Thừa ấn ngón tay cái xuống son, rồi ấn lên giấy. Ngón tay cậu lạnh tới mức son đông lại trên da, để lại một dấu vân tay đỏ sẫm, rõ từng đường.
Lúc thư lại cầm tờ giấy lên, nếp gấp ở giữa rách toạc một đường, từ mép trên xuống hơn nửa.
Không ai làm rách nó. Nó tự rách.
“Rách thì vẫn là giấy” Mạc Tri nói, không chớp mắt. “Đóng dấu.”
*
Chiều đó, Hạnh đọc tờ giấy cho cậu nghe hai lần.
Quỷ Thừa, con thứ họ Quỷ, tự khai sinh năm Nhâm Thìn, hiện diện tại Việt Thành, có nhà Đào làm chứng. Tạm ở dưới sự trông nom của nhà Đào cho tới ngày Kỷ Mão. Trong thời hạn đó, mọi việc dính tới khí họ Quỷ, phải có mặt người nhà Đào.
“Mọi việc là việc gì?” Thừa hỏi.
“Mọi việc” Hạnh nói.
Cô gấp tờ giấy lại theo nếp rách, đưa cho cậu. Thừa nhét nó vào ngực áo, cạnh cuốn sổ. Hai thứ nằm sát nhau. Một cái lạnh, một cái không.
Cậu đã có giấy. Trên giấy, cậu còn sống. Cũng trên giấy, cậu sống dưới mái hương khói nhà Đào, như một cái bài vị được người ta giữ hộ.
Thằng Lục ngồi ngoài bậc bếp, lấy que vạch xuống đất. Nó đang tập viết chữ. Thừa nhìn qua vai nó. Nó viết chữ Lục. Viết xong, nó viết thêm hai chữ nữa bên cạnh, nét xiêu vẹo, chữ thứ hai thiếu một nét: cậu Ba.
“Ai dạy mày?” Thừa hỏi.
“Con coi chữ trên cái giấy cậu đó” Nó nói. “Con nhớ hình.”
Hạnh đi ngang, cầm chổi, quét qua mấy chữ dưới đất một nhát, không nói gì, rồi đi tiếp.
Thằng Lục nhìn chị nó, nhìn chỗ đất vừa bị quét, rồi lặng lẽ viết lại chữ Lục. Lần này nó không viết thêm gì.
*
Trống canh hai. Rồi giờ Hợi.
Ông Câm tới bằng lối cống, Thừa không biết vì sao ông biết lối ấy. Ông mang theo một cây xà beng sắt, một cái xẻng cán ngắn, một bó nhang và một nắm muối. Hạnh cầm đèn. Thằng Lục bị chị nó bắt nằm yên trong bếp, nhưng Thừa thấy cái đầu nó thò ra ở khung cửa.
Họ khiêng tấm phản ra. Dưới đó, vệt nước hình bàn tay đã loang rộng bằng cái nia.
Ông Câm cắm ba nén nhang ở góc phòng, rắc muối thành một vòng quanh chỗ gạch ướt. Rồi ông kê mũi xà beng vào kẽ gạch, ấn xuống.
Viên gạch đầu tiên bật ra. Bên dưới là cát. Cát ướt, đen, lạnh như cát đáy giếng. Viên thứ hai. Viên thứ ba. Ông Câm đào bằng xẻng, chậm, đều, như người đào đã quen tay. Đến một gang tay, xẻng chạm vào một thứ cứng, phát ra tiếng cộc trầm.
Ông đặt xẻng xuống, đào tiếp bằng tay.
Đó là một cái hũ sành, cỡ cái chum nhỏ đựng tương, miệng bịt bằng một nắp đất nung trát đất sét kín mép. Hũ ngồi trong một cái hõm, và cái hõm ấy đầy nước. Nước trong, lạnh, bốc lên mùi đá. Mùi nước giếng.
Thừa quỳ xuống bên mép hố. Cậu không thấy lạnh hơn. Cậu không còn biết lạnh hơn là ra sao nữa. Nhưng cậu thấy cuốn sổ trong ngực áo nặng xuống một chút, như người đang ngủ bỗng trở mình.
Trên nắp hũ, có chữ. Chữ khắc vào đất nung trước khi nung, nét sâu, đã đóng rêu. Hạnh hạ đèn xuống thấp. Thừa đọc, chậm, ngón tay dò theo như anh Cẩn đã dạy.
Quỷ Tồn.
Đoạn nghĩa năm Quy Hồi thứ năm mươi tư.
Chôn dưới phòng con thứ. Đời nào con thứ cũng ngủ trên.
Thừa đọc dòng cuối lần nữa. Rồi lần nữa.
Cậu nghĩ tới căn phòng này. Cái phản này. Từ năm cậu biết nhớ, cậu đã ngủ ở đây, gian nhỏ cạnh bếp, chỗ người ta xếp cho đứa con thứ. Cậu đã nghĩ người ta xếp cậu ở đây vì không ai cần cậu ở chỗ nào khác. Cậu chưa bao giờ hỏi trước cậu, ai đã ngủ ở đây.
“Quỷ Tồn” Hạnh đọc theo, rất khẽ. “Không phải Văn Đạt.”
Ông Câm đã rút mẩu than, viết lên bảng đá, chìa ra.
Không mở.
“Tôi không mở.”
Ông Câm gật, rồi viết tiếp:
Không phải của cậu để mở.
Nước trong hõm đang dâng lên. Chậm, nhưng dâng. Nó đã ngập tới vai hũ, rồi tới miệng hũ, rồi chạm vào mép nắp. Không có tiếng chảy. Nó chỉ dâng, từ dưới lên, như có ai đó ở rất sâu dưới lòng đất đang thở ra.
Ông Câm vội xúc cát lấp xung quanh, nhưng cát vừa đổ xuống đã sũng nước, sụt thành bùn. Nước tràn khỏi hõm, loang ra mặt gạch, chảy về phía chân Thừa. Nó lạnh. Thừa biết nó lạnh, vì Hạnh rụt chân lại và kêu lên khẽ. Còn cậu thì không thấy gì.
Thừa thò tay vào ngực áo, rút cuốn sổ ra.
Cậu chưa bao giờ đọc những trang đầu. Đêm dưới giếng, cậu chỉ lật tới trang có tên nhà mình. Những trang trước đó, chữ đã nhòe màu nâu, cậu chỉ lướt qua như lướt qua những ngôi mộ không bia.
Cậu lách ngón tay vào khe giữa sợi chỉ đỏ, hé trang đầu tiên.
Trang ấy chỉ có một dòng. Một cái tên, viết dọc, ở giữa trang, mực đã phai thành màu rỉ sắt, nét chữ cứng và nghiêng, như của một người viết bằng tay trái.
Tồn.