Đọc to (tiếng Việt) Nhấn phát để bắt đầu
Trùng Thần

Cái tên viết sai

Cái đèn lồng nhà Đào treo trên cổng họ Quỷ từ đêm qua tới sáng vẫn chưa ai hạ.

Thừa nhìn nó qua khe cửa nhà cổng lúc trời vừa rạng. Giấy trắng, khung tre, hàng chữ đen viết lối đèn đưa đám: Nhà họ Quỷ. Bốn mươi ba vong. Dưới hàng chữ ấy là hai chữ nhỏ hơn, màu đỏ thẫm, nét run như người viết bằng tay trái: Còn một.

Không ai dám hạ nó xuống. Hai người lính hội đồng đứng gác hai bên cổng, giáo dựng, mặt quay ra đường, và cả hai đều đứng lệch ra khỏi chỗ ánh đèn rọi xuống, như sợ ánh sáng ấy chạm vào người.

Ngoài đường đã có người qua lại. Ai đi ngang cũng chậm chân, ngước nhìn cái đèn, rồi nhìn vào cổng. Một bà bán xôi đặt gánh xuống, đứng nhìn hết một miếng trầu. Một ông già chống gậy dừng lại, khạc nhổ ba lần về phía cổng, rồi đi. Hai đứa con nít trèo lên bậc đá nhà đối diện, ngồi vắt vẻo, mắt dán vào khe cửa như chờ xem múa rối.

Thừa lùi vào trong. Cậu không biết người ta có thấy được cậu qua khe cửa không. Cậu chỉ biết, từ lúc người cầm đèn nhà Đào đưa cậu về đây lúc canh hai, đặt cậu ngồi xuống cái phản ở gian cạnh bếp và nói “cậu cứ ở yên, đã có lính hội đồng lo”, thì cậu chưa ngủ được một khắc.

Cậu ngồi quay lưng vào vách. Cậu đã ngồi như vậy cả đêm.

Tới giờ Thìn, ngoài đường có tiếng trẻ con hát.

Không phải hát. Là đọc vè, cái lối vè mà lũ trẻ trong xóm chợ hay bịa ra để chọc nhau, câu bốn chữ, đọc nhanh, vỗ tay theo nhịp:

Nhà ông họ Quỷ, Bốn mươi ba hòm, Thằng Thừa khom khom, Bò lên khỏi giếng. Ai mà dại miệng, Gọi nó bằng anh, Thì đi cho nhanh, Mà mua hòm sẵn.

Lũ trẻ cười rộ, chạy đi. Một giọng đàn bà quát theo. Rồi một đứa khác, xa hơn, lại bắt đầu đọc, sai mấy chữ, nhưng vẫn đúng cái tên.

Thừa ngồi im. Cậu không biết lũ trẻ học vè ấy từ đâu, sáng sớm như vậy. Cậu chỉ biết đêm qua, ngoài Đào Nghiêm, người cầm đèn, và mấy viên chức hội đồng ngồi sau tấm rèm, không ai biết cậu còn sống.

*

Cáo thị dán lên vách chợ Đông Thị lúc giờ Mão. Tới giờ Thìn, một tờ y hệt được dán lên cánh cổng họ Quỷ, ngay dưới cái đèn lồng.

Thừa không ra đọc được. Hạnh đọc cho cậu nghe.

Hạnh vào nhà lúc trời vừa sáng, theo một người làm bếp nhà Đào, gánh hai thúng gạo. Nhà Đào đã nhận giữ hương khói thì phải lo cơm cho bàn thờ, lo cơm cho người canh, và giờ, lo cơm cho cậu. Họ thuê người làm bếp theo ngày ở xóm chợ. Hạnh là một trong số đó.

Thừa nhận ra cô ngay. Con Hạnh, mười tám tuổi, làm công theo ngày cho bếp nhà họ Quỷ từ hai năm nay, người mà chiều mồng mười cha cậu trả gấp đôi tiền công rồi đuổi về, mà không chịu về, rồi bị đuổi lần nữa. Hạnh có cái nốt ruồi ở đuôi mắt trái và thói quen buộc tóc bằng sợi lạt.

Cô không chào cậu. Cô đặt thúng gạo xuống, vo gạo, nhóm bếp, như mọi buổi sáng trong hai năm qua, như chưa có bốn mươi hai người chết trong căn nhà này. Chỉ khi người làm bếp nhà Đào ra ngoài gánh nước, cô mới nói, không ngẩng lên:

“Hội đồng dán giấy. Nói ai là người nối dõi họ Quỷ thì phải ra trình, nhận khí, trước ngày Kỷ Mão. Qua ngày đó mà không ai nhận được thì khí thuộc về hội đồng.”

“Ngày Kỷ Mão là ngày nào?”

“Hai mươi ba tháng này. Còn mười hai ngày.”

“Nhận khí là làm sao?”

Hạnh thổi lửa. Ngọn lửa bén vào rơm.

“Em không biết. Ngoài chợ cũng không ai biết. Có người nói phải đem gia phả ra. Có người nói phải có ấn tộc trưởng. Có người nói phải đứng trước hội đồng mà làm cho khí chạy một lần, cho người ta thấy” Cô ngừng, như vừa nói lỡ một chữ, rồi nói tiếp. “Có người nói phải giết một người trước mặt họ.”

Thừa nhìn xuống tay mình. Cái lạnh vẫn ngồi đó, trong xương cườm tay phải.

“Nhà mình… nhà tôi không có gia phả ở đây. Ấn tộc trưởng thì tôi chưa thấy bao giờ.”

“Em biết.”

“Sao chị biết?”

Hạnh vẫn không nhìn cậu.

“Vì cả thành này đều biết cậu không biết gì hết. Lũ con nít ngoài đường cũng biết.”

Người làm bếp nhà Đào gánh nước vào. Hạnh im. Cô xới cho cậu một bát cơm, đặt lên cái chõng tre, cạnh chỗ hai cái chén trà hôm nọ. Không còn chén nào nữa. Ai đó đã dọn đi.

Lúc cô đặt bát xuống, Thừa thấy cườm tay cô có một vết bầm mới, tím xanh, hình mấy ngón tay.

*

Thằng Lục bị đánh vào giờ Tỵ, trong con ngõ dưới chân bậc đá lên nghĩa trang tường.

Thừa biết chuyện vì Hạnh bỏ bếp chạy đi giữa chừng, nồi canh còn sôi. Người làm bếp nhà Đào chửi theo. Hai người lính ở cổng không cản cô. Một khắc sau, cô quay về, hai tay dính máu tới khuỷu, và theo sau cô là hai người đàn ông xóm chợ khiêng một tấm phản cửa, trên phản là một thằng bé chừng mười một tuổi, mặt sưng không còn nhận ra.

Họ đặt nó xuống nền bếp, chỗ gần lửa. Người làm bếp nhà Đào nhìn một cái, lùi ra sân, rồi bỏ đi luôn.

Thằng Lục là em Hạnh. Thừa biết mặt nó. Nó làm công vặt theo ngày cho bếp nhà họ Quỷ, gánh củi, quét sân, chạy chợ, cái giọng líu lo cả ngày và cái thói quen ăn vụng xôi trên bàn thờ ông Táo. Chiều mồng mười, cha cậu đuổi nó về cùng với Hạnh.

Giờ nó nằm dưới đất, không líu lo được nữa. Một bên mắt nhắm sưng, môi rách, hai ngón tay trái cong ngược theo kiểu không thể là của người còn lành. Ngực nó phập phồng ngắn, như con chim.

“Ai làm?” Thừa hỏi.

“Không ai thấy. Hạnh lấy vạt áo lau máu trên mặt em, tay không run. Người ta thấy nó nằm đó thì mấy người kia đi rồi.”

Thằng Lục mở được một bên mắt. Nó nhìn Thừa. Nhận ra cậu. Môi nó mấp máy.

“Cậu… Ba.”

Cậu Ba. Không ai trong nhà này từng gọi Thừa như vậy. Nhà trên gọi cậu là “thằng Thừa”, người ở gọi cậu là “cậu Thừa”. Chỉ có thằng Lục, đứa trẻ làm công theo ngày ở xóm chợ, là gọi cậu theo thứ, theo kiểu xóm chợ gọi con thứ của những nhà có tiền.

“Con… làm mất rồi.”

“Mất gì?”

Thằng Lục đưa bàn tay phải còn lành về phía Thừa. Nó mở nắm tay ra. Trong lòng bàn tay nó là một nắm giấy vàng vụn, ướt máu, chữ đỏ trên giấy đã nhòe thành những vệt hồng. Một lá bùa. Đã bị xé làm nhiều mảnh, rồi bị vò lại, rồi bị nắm chặt trong tay một đứa trẻ không chịu buông.

“Ông thầy… ở đình Hàng Vải… ông dặn đưa cậu. Đeo vô người.”

Nó ho, máu lẫn trong nước bọt.

“Con không đưa kịp.”

“Ông nào dặn? Thầy nào?”

“Ông… nhà mình. Ông dặn từ hôm trước. Đi lấy bùa, đi lấy bạc, đưa cậu.”

Cha cậu.

“Bạc gì, Lục?”

“Bạc dưới bếp. Chiều mồng mười ông cho nó đi rồi, ông dặn nó, sáng hôm sau, lúc lính khiêng xác, nó chui cống vô, đào dưới ông đầu rau lấy hết, chỉ để lại một nén. Rồi đem giữ, chờ ngày đưa tận tay cậu. Nó làm y vậy” Hạnh trả lời thay em, giọng đều đều.

Thừa nhớ cái vết chân nhỏ, mép sắc, chưa khô, ở rìa cái hố dưới bếp.

“Giờ bạc đâu?”

“Mấy người đánh nó lấy rồi. Ba mươi tám nén. Nó giấu trong bao gạo, đeo sau lưng.”

Thằng Lục khóc. Không thành tiếng, vì môi nó rách. Nước mắt chảy ra từ con mắt còn mở được, chảy xuống chỗ máu khô trên má, làm máu loang ra hồng hồng.

“Con… giữ được cái này.”

Nó há miệng. Dưới lưỡi nó, một miếng giấy gấp nhỏ bằng đốt ngón tay, nhão nước bọt và máu.

Hạnh gỡ miếng giấy ra, mở từng lớp trên lòng bàn tay mình, rất chậm, như người mở một chiếc lá non. Rồi cô đưa cho Thừa.

Nét chữ cha cậu. Chậm, nặng. Đây là nửa dưới của tờ giấy Ba Trui đã xé thả xuống rãnh nước đêm qua. Mép trên rách khớp với một nét ngang Thừa còn nhớ.

…tới đó là hết phần việc của ông thợ. Tiền công bốn mươi nén, một nén để lại dưới bếp làm tin. Ba mươi chín nén, thằng Lục giữ, đưa tận tay đứa nhỏ, để đứa nhỏ tự trả. Đứa nhỏ còn sống ngày nào, ông thợ còn được đòi ngày đó. Người họ Quý mà tới, đừng để nó…

Chỗ còn lại đã bị răng thằng Lục nghiến nát.

“Họ Quý là ai?” Thừa hỏi.

Không ai trả lời cậu. Hạnh đang nhìn ra phía cổng.

Ngoài cổng, có tiếng vó ngựa.

*

Người họ Quý tới thắp nhang lúc giờ Tỵ sắp tàn.

Thừa thấy hắn trước khi thấy mặt hắn: cái lọng xanh viền chỉ bạc, hai con ngựa kéo một cỗ xe mui gỗ sơn then, bốn người hầu áo lam đi bộ hai bên. Người hầu khiêng vào sân ba mâm lễ phủ khăn điều: mâm xôi, mâm hoa quả, mâm vàng mã. Mâm vàng mã nhiều tới mức có cả một cái nhà giấy ba gian, mái cong, cột sơn, cửa sổ chạm.

Rồi hắn xuống xe.

Hắn chừng hai mươi tư, cao, áo dài the lam, khăn vấn đen, đi guốc sơn mũi cong. Mặt hắn dài, sống mũi thẳng, đôi mắt hơi xếch. Thừa nhìn khuôn mặt ấy và thấy da gáy mình lạnh đi, không phải vì cuốn sổ. Vì cậu đã thấy đôi mắt ấy. Thấy nó trên mặt anh Cẩn, trên mặt chú Ba, trên những bức truyền thần treo ở gian giữa mà cậu chỉ dám nhìn trộm qua cửa.

“Quý Lân, chi trưởng họ Quý, từ Lam Thành tới viếng” Người hầu đi trước hô lên một tiếng, giọng trên ngược, kéo dài và nặng.

Hai người lính gác cổng nhìn nhau.

Quý Lân vào từ đường, thắp ba nén nhang, lạy bốn lạy, đúng lễ, chậm, không sai một nhịp. Ba nén nhang cháy đều. Hắn đứng dậy, phủi vạt áo, rồi mới quay lại, nhìn Thừa đang đứng ở bậc thềm.

“Em là Thừa.”

Không phải câu hỏi.

Cuốn sổ trong ngực áo Thừa lạnh đi một nhịp. Không mạnh. Như có ai đó vừa thở vào gáy cậu.

“Để coi” Thừa nói.

Quý Lân nhướng mày. Rồi hắn cười, nụ cười của người vừa nghe một đứa trẻ nói câu của người lớn.

“Ai dạy em nói vậy?”

Thừa không trả lời.

Quý Lân đi xuống bậc thềm, đứng ngang cậu. Hắn cao hơn cậu một cái đầu. Người hắn có mùi trầm và mùi da ngựa.

“Ông cố của anh với ông cố của em là anh em ruột” Hắn nói, giọng nhỏ, như nói chuyện nhà với nhau. “Ông cố anh là con trưởng. Năm mười chín tuổi, ông bị đuổi khỏi họ, bị xóa tên trong gia phả, bị đoạn nghĩa trước bàn thờ. Ông đổi chữ Quỷ thành chữ Quý, lên Lam Thành sống. Từ đó tới nay, chi trưởng không ai về đây.”

“Vì sao bị đuổi?”

“Anh tưởng em biết.”

Quý Lân nhìn cậu một lúc.

“Ừ. Em không biết. Cả thành đều nói em không biết gì.”

Hắn quay lại nhìn lên bàn thờ. Lên tầng trên cùng, nơi cái khăn đỏ đã được ai đó phủ lại từ đêm qua, ngay ngắn, và buộc thêm một sợi dây đỏ mới quanh đế bài vị, thắt nút.

“Cái bài vị trên cùng đó” Hắn nói. “Em đã giở khăn ra rồi, phải không? Em thấy nó trống.”

Thừa không gật. Không lắc.

“Nó là của ông cố anh. Người bị đuổi thì không được ghi tên. Nhưng tổ tiên không cho bỏ hẳn, nên giữ một cái bài vị trống, phủ khăn đỏ, thờ trên cùng. Có mà như không. Một trăm hai mươi năm nay” Quý Lân nói chậm, như mỗi chữ có giá.

Hắn bước lại gần cậu hơn một chút.

“Giờ họ Quỷ chỉ còn em, mà em thì trên giấy tờ đã chết. Anh về đây để ghi tên ông cố anh lên bài vị đó, để chi trưởng nhận lại tổ. Rồi anh sẽ ra trình hội đồng trước ngày Kỷ Mão. Anh là con cháu chi trưởng. Có gia phả. Có ấn.”

“Ấn gì?”

Quý Lân ra hiệu. Một người hầu bưng tới một cái khay gỗ phủ lụa vàng. Hắn giở lụa. Trên khay là một cái ấn đồng vuông, cỡ nắm tay, núm ấn đúc hình con rùa cõng bia. Quanh cổ con rùa quấn mấy vòng chỉ đỏ, thắt nút chết, giống y hệt sợi chỉ đỏ đang quấn quanh cuốn sổ trong ngực áo Thừa.

“Ấn tộc trưởng họ Quỷ” Quý Lân nói. “Ông cố anh mang theo năm bị đuổi. Bên này mất ấn, phải khắc cái khác. Cái này mới là cái thật.”

Thừa nhìn sợi chỉ đỏ. Cậu không nói gì về nó.

“Giờ Ngọ anh sẽ ghi tên” Quý Lân nói. “Có người của hội đồng tới chứng. Nhà Đào cũng tới. Anh không cần em đồng ý. Nhưng anh muốn em đứng đó. Em là người cuối cùng họ Quỷ ở đây. Em đứng đó thì đẹp.”

“Nếu tôi không đứng?”

“Thì anh vẫn ghi.”

Hắn mỉm cười, lần này nụ cười không còn ý gì là trẻ con nữa.

“Và lũ trẻ ngoài chợ sẽ có thêm một câu vè.”

*

Thừa đi tìm câu trả lời ở chỗ duy nhất cậu có thể tới.

Cậu không ra khỏi nhà được. Nhưng nhà cổng thì được. Hai người lính đứng ngoài cổng, không đứng trong. Bà Tư không còn, gian nhà cổng trống trơn, cái chiếu cũ từng trùm lên hình nhân vẫn còn cuộn ở góc. Cái cửa sổ con nhìn ra đường vẫn mở.

Cậu ngồi dưới cửa sổ ấy, lưng dựa vào vách, và nghe.

Người ngoài đường nói về nhà họ Quỷ như nói về giá gạo, ai cũng có một ý, ai cũng chắc. Có người nói thằng con thứ là ma, bò lên từ giếng, lính phải dán bùa đóng nắp. Có người nói nó là con hoang, không phải máu họ Quỷ, nên Thần Trùng không bắt. Có người nói nhà Đào giữ nó như giữ một con gà để đó chờ làm cỗ. Có người nói nhà họ Quý trên Lam Thành đã gửi thư cho nhà Đào từ trước Tết.

Thừa nghe câu đó và giữ lấy nó.

Từ trước Tết. Tám tháng trước. Khi chú Ba còn sống, khi cái giếng còn cạn, khi chưa ai trong nhà biết sẽ có đêm mồng mười.

Rồi một người đàn ông nói với người khác, giọng hạ thấp, ngay dưới cửa sổ:

“Sáng nay người nhà Đào mở ngăn mộ họ Quỷ trên tường. Mở ngăn thứ chín, cái ngăn không có bia.”

“Mở làm gì?”

“Để bỏ tro thằng con thứ vô. Cho đủ giấy tờ. Đám thiêu đêm qua có cái hòm nhỏ đó.”

“Ủa, mà nó còn sống mà?”

“Thì giấy tờ nói nó chết. Tro thì có. Hòm nhỏ cháy ra tro thì đó là tro nó. Nhà Đào nói vậy, hội đồng ghi vậy.”

“Rồi ngăn đó có gì?”

“Không có gì. Trống trơn. Một trăm mấy chục năm, cái ngăn không bia đó trống trơn. Không hũ tro, không xương cốt. Thằng Lục nhà con Hạnh đứng coi, bị người ta đuổi. Nghe nói lát sau nó bị đánh dưới chân bậc đá.”

Hai người đi khỏi.

Thừa ngồi dưới cửa sổ. Cậu nghĩ tới cái bài vị trống trên bàn thờ. Cái ngăn mộ trống trên tường. Cái tên cậu đọc trong văn tế đêm qua, kèm năm sinh thật. Và tờ giấy ghi tên cậu là người chết, đã được nhà Đào và hội đồng ký, giờ chỉ còn chờ một hũ tro để bỏ vào một cái ngăn trống cho đủ.

Mọi chuyện đã được sắp đặt, khít như những bậc đá xoáy trong lòng giếng. Có người đã viết sẵn tên cậu vào đó, như viết vào một tờ khế, chỉ chừa lại chỗ để cậu điểm chỉ.

Cậu không biết ai đã viết. Cậu chỉ biết đó không phải là cậu.

*

Giờ Ngọ.

Từ đường lại đông người, lần đầu tiên từ đêm mồng mười. Một viên chức hội đồng áo đỏ, đội mũ cánh chuồn, ngồi ở ghế khách, bên cạnh là một thư lại ôm tráp bút nghiên. Đào Nghiêm đứng phía sau, áo gấm xanh, tay cầm quạt giấy gấp, không mở. Người hầu họ Quý đứng thành hàng dọc hai bên cửa. Hạnh bưng khay trà, đứng ở góc bếp thông sang. Thằng Lục nằm trong bếp, Thừa còn nghe được tiếng nó thở.

Thừa đứng ở cuối từ đường, chỗ người ở hay đứng trong những ngày giỗ. Không ai mời cậu lên.

Quý Lân thay áo tế, đứng trước bàn thờ. Một người hầu bắc ghế, hắn bước lên, lấy cái bài vị trống từ tầng trên cùng xuống, cởi sợi dây đỏ quanh đế, giở khăn. Hắn đặt bài vị xuống bàn thờ, trên một tấm lụa trắng. Người hầu thứ hai bưng tới nghiên mực son và một cây bút lông mới.

Thừa thắp một nén nhang ở bát hương nhỏ cuối bàn thờ, chỗ của những người không ai nhớ tên. Cậu cắm nó xuống. Không ai để ý.

Quý Lân chấm bút vào mực son. Hắn viết. Chữ đầu tiên. Chữ thứ hai. Nét chữ hắn đẹp, cứng, nghiêng về bên phải như nét chú Ba.

Từ ngực áo Thừa, giọng cha cậu nói. Rất khẽ. Rất gần.

“Không phải tên đó.”

Thừa đứng chết lặng. Quý Lân viết tiếp chữ thứ ba. Chữ cuối cùng. Rồi hắn đặt bút xuống, lùi một bước, chắp tay. Viên chức hội đồng gật đầu với thư lại, thư lại mở tráp, chấm bút, ghi.

“Giờ đóng ấn” Quý Lân nói.

Người hầu bưng khay ấn tiến lên. Cái ấn đồng ngồi trên lụa vàng, con rùa cõng bia, gáy quấn chỉ đỏ.

Thừa không nghĩ. Sau này, cậu nhớ lại, và cậu biết mình đã không nghĩ gì hết. Cậu chỉ thấy cái ấn đi ngang qua trước mặt cậu, chỉ xa cậu ba bước, và cậu thấy giọng cha mình vẫn còn đọng lại trong ngực, và cậu thấy chân trái mình bước lên trước khi chân phải kịp.

Cùng lúc đó, Hạnh ở góc bếp bước ra với khay trà.

Cô không vấp. Thừa thấy rõ cô không vấp. Cô chỉ nghiêng khay, rất nhẹ, đúng một góc tay, đúng lúc người hầu bưng ấn đi qua. Năm chén trà nóng đổ xuống vai và tay áo người hầu ấy. Hắn la lên, giật tay. Cái khay gỗ chao đi.

Thừa chụp lấy cái ấn.

Đồng nặng hơn cậu nghĩ. Lạnh hơn cậu nghĩ. Khi bàn tay phải cậu khép lại quanh núm ấn, sợi chỉ đỏ quanh gáy con rùa thít lại một vòng, cứa vào kẽ ngón tay cậu, như một con rắn nhỏ vừa thức dậy và quấn chặt lấy chỗ ấm nhất nó tìm được. Cậu không mở tay ra được nữa. Cậu cũng không muốn mở.

Từ đường im phăng phắc.

Người hầu bị bỏng ôm tay rên. Hạnh quỳ xuống nhặt chén, đầu cúi gằm, miệng lí nhí xin lỗi, như mọi đứa ở vụng về khác. Viên chức hội đồng đứng dậy. Đào Nghiêm vẫn không mở quạt.

Quý Lân nhìn cái ấn trong tay Thừa. Rồi nhìn sợi chỉ đỏ đang thít vào da cậu. Hắn không giật lại. Hắn không gọi người. Hắn chỉ nhìn, lâu, rồi một nụ cười chầm chậm hiện lên trên khuôn mặt giống anh Cẩn ấy.

“Ừ” Hắn nói. “Em cầm đi.”

Hắn quay lại bàn thờ, nâng cái bài vị đã có tên bằng hai tay, đặt nó lên lại tầng trên cùng, không phủ khăn đỏ nữa. Bốn chữ son mới viết đỏ tươi dưới ánh nhang.

“Tên đã ghi” Hắn nói với viên chức hội đồng. “Có ngài chứng. Ấn thì đóng sau cũng được. Ấn thật thì ai cầm cũng vẫn là ấn thật.”

Viên chức hội đồng nhìn Thừa. Nhìn bàn tay đang bị sợi chỉ đỏ trói vào cái ấn. Ông ta nói với thư lại, giọng không lên không xuống:

“Ghi: con thứ họ Quỷ đã chết theo giấy tờ, có mặt tại từ đường, tự tay giữ ấn tộc trưởng.”

Thư lại ghi. Ngòi bút sột soạt.

Thừa đứng giữa từ đường, cái ấn trong tay, và không biết mình vừa thắng hay vừa thua. Cậu nhìn sang Quý Lân. Quý Lân đang mỉm cười với cậu như người anh mỉm cười với em trai vừa giành được miếng bánh lớn nhất trên mâm.

Cậu biết hắn cũng nghĩ mình vừa thắng.

*

Đến giờ Thân, cái ấn nứt.

Thừa đang ngồi trong bếp, cạnh chỗ thằng Lục nằm, cái ấn đặt trên đùi vì cậu vẫn không gỡ được tay ra khỏi nó. Sợi chỉ đỏ đã lỏng ra một chút sau giờ Ngọ, đủ để máu chảy lại vào mấy đầu ngón tay, nhưng không đủ để cậu buông. Hạnh nấu một nồi nước lá đắp cho em. Bếp lửa reo. Ngoài sân, nắng xiên.

Không có tiếng gì. Cậu chỉ thấy, khi nhìn xuống, một đường nứt mảnh như sợi tóc đã chạy từ góc đáy ấn lên tới chân con rùa. Cậu không làm rơi nó. Cậu không đập nó vào đâu. Nó tự nứt, trong lúc nằm yên trên đùi cậu.

Qua khe nứt, cậu thấy bên trong ấn không đặc. Có một khoảng rỗng nhỏ. Trong khoảng rỗng ấy, có một sợi gì đó màu đỏ, mảnh, chạy dọc như mạch máu dưới da, từ đáy ấn lên tới tận núm, nối liền với sợi chỉ quấn quanh gáy con rùa bên ngoài.

Sợi chỉ đỏ không quấn quanh cái ấn. Sợi chỉ đỏ đi ra từ trong lòng nó.

Thừa nhìn nó rất lâu. Rồi cậu kéo vạt áo che cái ấn lại.

Thằng Lục cựa mình, mở con mắt lành.

“Cậu Ba.”

“Ừ.”

“Bạc mất rồi. Con xin lỗi.”

“Không phải lỗi của mày.”

Thằng Lục nhìn cậu bằng một con mắt. Nó không tin. Thừa không biết phải nói gì thêm để nó tin, nên cậu không nói gì. Cậu ngồi đó với nó, bàn tay trái đặt lên trán nó, cho tới khi nó ngủ lại.

Hạnh đứng ở bếp, lưng quay lại, khuấy nồi lá. Cô nói, không quay đầu:

“Cậu đừng để nó gọi cậu là cậu Ba nữa.”

“Sao vậy?”

Hạnh không trả lời. Cô khuấy nồi lá thêm mấy vòng nữa, rồi mới nói:

“Ngoài chợ người ta đọc vè rồi. Cậu nghe rồi đó.”

*

Gần tối, người hội đồng dán thêm một tờ cáo thị nữa lên cổng, đè lên tờ sáng nay.

Lần này Thừa ra tới tận cổng để đọc. Hai người lính không cản. Cậu đọc chậm, từng chữ, ngón tay dò theo hàng như anh Cẩn đã dạy trên nền đất. Cậu đọc được gần hết.

Hội đồng thành, xét việc họ Quỷ tuyệt tự ở Việt Thành, việc chi trưởng họ Quý nhận lại tổ, việc con thứ họ Quỷ có mặt dù giấy tờ đã ghi chết, thấy rằng việc ai giữ khí họ Quỷ cần xét thêm, giữ nguyên hạn ngày Kỷ Mão.

Trong khi chờ, toàn bộ nghĩa trang trên mặt thành phía tây, từ ngăn mộ họ Quỷ tới lò thiêu góc tây bắc, giao cho nhà Đào trông coi và giữ chìa khóa, kể từ hôm nay.

Thừa đọc dòng cuối hai lần. Rồi cậu nhìn lên cái đèn lồng vẫn còn treo trên cổng. Bốn mươi ba vong. Còn một. Mực đỏ đã khô, sẫm lại thành màu gan.

Cậu nghĩ tới Quý Lân với cái tên mới viết. Nghĩ tới chính mình với cái ấn nứt. Cả hai đứa đều đã giành được một thứ. Cả hai đứa đều đã đứng trong từ đường mà mỉm cười, hoặc tưởng là mình nên mỉm cười.

Còn Đào Nghiêm thì không mở quạt lấy một lần. Hắn không giành gì cả. Hắn chỉ đứng đó. Và giờ hắn giữ chìa khóa của mọi ngăn mộ họ Quỷ, kể cả ngăn thứ chín không bia, kể cả cái ngăn mà theo giấy tờ đang chờ tro của cậu.

*

Đêm đó, Thừa nằm trên tấm phản ở gian cạnh bếp, cái ấn đặt cạnh gối vì cuối cùng cậu cũng gỡ được tay ra, cuốn sổ ép trong ngực áo.

Trống canh hai điểm. Cậu đếm. Một. Hai. Thói quen ấy cậu chưa bỏ được từ đêm mồng mười, và cậu nghĩ có lẽ sẽ không bao giờ bỏ được.

Rồi cậu thấy lạnh.

Không phải cái lạnh trong xương cườm tay. Không phải cái lạnh của cuốn sổ. Cái lạnh này ở dưới cậu, xuyên qua tấm phản gỗ, như có ai đó vừa mở nắp một cái giếng ngay dưới gầm.

Cậu ngồi dậy. Gian phòng tối. Ngọn đèn dầu con đã tắt từ lâu. Cậu đưa tay sờ khắp mặt phản. Gỗ khô. Cậu sờ tường. Tường khô. Cậu sờ cái ấn. Đồng lạnh, nhưng chỉ lạnh như đồng.

Trong phòng có mùi nhang. Không ai thắp nhang ở gian này. Bát nhang gần nhất là bát nhang ông Táo ở bếp, xa hai bức vách, và tối nay Hạnh không thắp vì thằng Lục ngủ.

Thừa cúi xuống, thò tay vào gầm phản. Cậu áp lòng bàn tay xuống nền gạch.

Gạch ướt.

Trong phòng không có nước.

Bình luận đoạn văn

Bình luận

Trả lời bình luận

Chỉnh sửa bình luận

Thiết lập văn bản

Xem trước

Nội dung sẽ hiển thị như thế này

Chọn font chữ

Cỡ chữ

12px 30px