Người thứ bốn mươi ba
Thừa thả gàu xuống lần thứ mười một thì trống trên chòi canh phía đông đổ hồi, báo sang giờ Dậu.
Dây gàu là dây đay mới bện, còn mùi hăng, cứa vào lòng bàn tay cậu một đường rát. Cậu kéo từng sải, chân trái tì lên thành giếng cho đỡ. Chân trái cậu ngắn hơn chân phải một đốt ngón tay từ năm lên sáu, chưa bao giờ chịu nổi cùng lúc sức nặng của cả người lẫn một gàu nước đầy. Gàu lên tới miệng giếng. Nước trong, lạnh, có mùi đá. Cậu đổ vào chum thứ tư.
Ba năm nay cái giếng sau bếp nhà họ Quỷ cạn. Đáy giếng chỉ có bùn, lá bàng mục, vài con cóc và tiếng vọng. Người trong nhà quen gánh nước ở giếng chung đầu ngõ. Rồi mười hôm trước, cha cậu cho gọi người về vét. Bốn người đàn ông lạ, nói giọng không phải giọng trong thành, xuống đáy giếng ba ngày ba đêm. Lúc lên, móng tay ai cũng đen. Họ không nhận trầu, không nhận nước, chỉ nhận tiền, rồi đi khi trời chưa sáng. Sáng hôm sau giếng có nước. Nước dâng tới ngang bậc đá thứ chín thì đứng lại, không lên thêm, cũng không vơi, cả nhà múc bao nhiêu cũng vậy.
Giếng này kiểu xưa, đào từ hồi đất trong thành còn rộng, vách xây đá ong, có những bậc đá dài cắm vào vách, xoáy dần xuống như một cái cầu thang không tay vịn. Hồi nhỏ, Thừa hay trốn xuống bậc thứ ba ngồi, vì không ai nghĩ một đứa trẻ lại ngồi trong lòng giếng cạn. Không ai đi tìm cậu cả. Cậu ngồi tới khi đói thì tự lên.
“Cậu múc nữa chi. Chum nào cũng đầy rồi.”
Nhài ngồi xổm bên rổ gạo, tay vo, mắt không nhìn rổ. Con bé mười bốn tuổi, vào nhà từ năm lên bảy, cái khăn vấn trên đầu là khăn cũ của bà Tư cắt đôi.
“Bà Tư dặn đầy hết.”
“Bà Tư dặn đầy chum, đầy vại, đầy luôn mấy cái lu bể miệng ngoài chuồng gà” Nhài đếm trên đầu ngón tay ướt. “Muối ba bao. Gạo sáu bao. Nhang mua nguyên một gánh, ông hàng nhang hỏi nhà mình làm đám gì, bà Tư nói đám giỗ. Giỗ ai mà mua cả gánh nhang, cậu?”
Thừa không biết. Ở nhà này, có nhiều việc cậu không biết, và cậu đã quen không hỏi. Cậu biết cửa ngách nào đêm không cài then. Biết ông chú Tư hay về khuya bằng lối chuồng ngựa, và chú Năm hay ngồi một mình ngoài bến nước mỗi lần thua bạc. Biết anh Cẩn để sách dưới gối, đọc tới gà gáy. Còn trong từ đường người ta làm gì, bài vị nào đặt trên bài vị nào, mỗi năm nhà cúng những ai, thì cậu chỉ biết qua mùi nhang bay xuống bếp.
“Chiều nay lính đi ngựa qua cổng mình hai bận” Nhài hạ giọng. “Bận sau dừng lại, ngó vô. Bà Tư ra đứng ở cổng, họ mới đi.”
“Lính gì?”
“Lính hội đồng. Áo có viền.”
Thừa đặt gàu lên thành giếng. Cậu không biết lính hội đồng tới nhà một tộc trong thành thì có nghĩa gì. Cậu chỉ biết, từ hôm chú Ba mất tới nay đã hai mươi mốt ngày, người lớn trong nhà ăn ít, nói ít, đi lại nhẹ chân như sợ đánh thức một đứa bé.
“Cậu thắp nhang ông Táo giùm em. Tay em ướt.”
Bếp nhà họ Quỷ rộng, ba ông đầu rau bằng đất nung, khói ám đen tới rui. Trên cái kệ gỗ treo cao cạnh ống khói có bát nhang ông Táo, đôi mũ giấy, con cá chép giấy đã bạc màu từ tháng Chạp năm ngoái. Thừa rút ba nén từ bó nhang mới, châm vào lửa bếp, vẩy cho tắt ngọn, cắm xuống.
Cậu chưa kịp chắp tay thì hai nén bên trái và ở giữa cháy rụi cùng lúc. Không phải cháy nhanh. Là rụi. Tro rơi một lượt xuống bát, như có người cúi sát thổi một hơi dài. Nén bên phải vẫn còn nguyên, đầu đỏ, khói lên thẳng.
Ngoài sân, tiếng vo gạo dừng.
“Cậu thắp lại đi” Nhài nói, giọng không lớn.
Thừa rút ba nén khác. Châm. Vẩy. Cắm.
Hai nén rụi. Một nén còn.
Nhài đứng dậy. Con bé không nói gì, bốc một nhúm muối trong hũ cạnh cửa, quay lưng ném qua vai, rồi ngồi xuống vo gạo tiếp. Lần này nó vo rất kỹ, hết nước này sang nước khác, cho tới khi nước vo trong như nước giếng.
*
Nhà trên tối nay không dọn mâm.
Ngày thường, giờ này, Thừa nghe được tiếng bát đũa của ba mâm trên nhà trên: mâm các ông, mâm các bà, mâm con cháu. Cậu ăn ở bếp, trên cái ghế đẩu cạnh cửa ngách, từ hồi nào cậu không nhớ. Không ai cấm cậu lên. Chỉ là chưa bao giờ có ai gọi.
Tối nay nhà trên im. Bà Tư dặn chỉ nấu một nồi cơm trắng, một nồi canh rau, không thịt, không cá. Nồi cơm vẫn còn gần nguyên trên bếp.
Thừa đang xới cơm cho mình thì cửa sau mở.
Cha cậu bước vào bếp.
Thừa đứng bật dậy. Đôi đũa trong tay cậu rơi một chiếc. Mười sáu năm, cậu chưa thấy ông Quỷ Trọng xuống bếp lần nào. Ông là tộc trưởng. Ở nhà này, tộc trưởng ngồi ở gian giữa, sau tấm hoành phi sơn son, và người ta tới gặp ông, chứ ông không đi tới ai.
Ông không vào từ phía nhà trên. Ông vào từ cửa sau, phía nhà củi.
Áo the đen của ông có mùi nhựa thông cháy, và một mùi khác mà Thừa chỉ từng ngửi ở lò rèn ngoài chợ: mùi sắt nung đỏ nhúng vào nước. Gấu áo bên phải ướt sẫm. Ông không đội khăn xếp. Tóc ông bạc nhiều hơn Thừa nhớ.
“Ngồi xuống.”
Thừa ngồi. Cha cậu không ngồi ngay. Ông cầm cái gáo dừa trên nắp chum, múc một gáo nước giếng, uống. Ông uống chậm, hết gáo.
“Nước ngọt” Ông nói.
Rồi ông ngồi xuống cái chõng tre cạnh bếp. Trên chõng có hai cái chén. Thừa để ý, vì ở bếp này chỉ bà Tư uống trà, mà bà Tư đã ra nhà cổng từ chiều. Một chén cạn. Chén kia còn nửa, hơi trà vẫn bốc. Dưới chân chõng, trên nền đất nện, có một vệt chân bùn còn ướt, dài hơn chân cha cậu, dẫn về phía cửa nhà củi. Cửa nhà củi đóng. Then cài phía trong.
Cha cậu kéo cái chén còn nóng về phía mình, úp ngược xuống.
“Con năm nay bao nhiêu?”
“Dạ, mười sáu.”
“Sinh năm nào?”
“Dạ… năm Tân Mão.”
“Không” Ông nói, không lớn hơn lúc nãy. “Năm Nhâm Thìn.”
Thừa nhìn cha. Cậu biết năm sinh của mình. Bà Tư nói cậu sinh vào mùa nước lên năm Tân Mão, đúng cái năm đê ngoài thành vỡ, mẹ cậu sinh cậu xong thì không qua được tuần thứ hai. Cậu biết vì đó là một trong vài chuyện về mình mà có người kể cho cậu nghe.
“Ai hỏi, con nói Nhâm Thìn.”
“Dạ.”
“Nói lại.”
“Dạ. Con sinh năm Nhâm Thìn.”
Ông gật đầu. Ngoài sân, Nhài đang xếp chén vào rổ, động tác chậm hẳn lại.
“Canh ba, con xuống giếng. Theo bậc đá mà xuống, tới chỗ có nước. Ở đó. Trên này có nghe gì cũng đừng lên. Khi nào nghe cha gọi tên con ba lần, con mới lên” Cha cậu nói.
“Dạ, con hứa…”
Bàn tay ông đang đặt trên mặt chõng dừng lại. Không giật, không run. Chỉ dừng, như người đang đi thì đứng lại vì thấy rắn.
“Đừng nói chữ đó.”
Thừa không hiểu. Cậu cúi đầu.
“Nói ‘dạ’ là đủ.”
“Dạ.”
“Cha ơi… nhà mình có chuyện gì?”
Cha cậu nhìn bát cơm trước mặt cậu. Nhìn chiếc đũa rơi dưới đất. Ông cúi xuống nhặt chiếc đũa, lau vào vạt áo mình, đặt lại cạnh bát.
“Con ăn chưa?”
“Dạ chưa.”
Ông cầm đôi đũa cả, xới thêm cơm vào bát cậu cho đầy tới ngọn, rồi gắp rau trong nồi canh đặt lên trên. Thừa nhìn đôi tay cha làm việc đó. Bàn tay phải của ông có một vết bỏng mới, đỏ, phồng, kéo dài từ cườm tay xuống tới mu bàn tay, hình như vết một vật gì dài và hẹp vừa được áp vào.
“Ăn đi.”
Thừa ăn. Cha cậu ngồi nhìn cậu ăn. Lâu lắm. Đến lưng bát, ông nói một câu, giọng như nói với cái bếp:
“Con giống mẹ con.”
Rồi ông đứng dậy, đi ra bằng cửa sau. Không đi lên nhà trên. Đi về phía nhà củi. Thừa nghe tiếng then cài phía trong được kéo ra, rồi cài lại.
Cậu ăn hết bát cơm. Cậu không nhớ lần cuối có ai xới cơm cho cậu là lúc nào.
*
Trống canh hai, bà Tư gọi cậu ra nhà cổng.
Nhà cổng là gian nhỏ xây liền với cổng chính, mái thấp, có một cửa sổ con nhìn ra đường. Bà Tư ở đó đã ba mươi năm, giữ chìa khóa, giữ sổ chợ, giữ luôn những chuyện mà người nhà trên không muốn ai khác giữ. Bà ngồi bên ngọn đèn dầu, cái kéo to trong lòng.
“Thay áo.”
Bà đưa cho cậu một cái áo nâu mới, vải dày. Tuần trước bà đã bắt cậu đứng thẳng giữa sân, đo vai, đo tay, đo từ gáy xuống tới gót. Cậu hỏi may áo gì vào tháng chín, bà bảo áo mặc rét. Giờ cậu mặc vào, vừa khít.
“Bà Tư, lính ngoài đó…”
“Đứng bên kia đường từ chiều” Bà không nhìn ra cửa sổ. “Không gõ cửa. Không đi.”
Thừa nhìn qua khe cửa sổ. Ngoài đường, dưới hai ngọn đuốc cắm vào cột đá, năm con ngựa buộc sát nhau, phì hơi trắng. Người cưỡi đứng thành hàng, không ai nói chuyện. Một người đang cúi xuống, lấy từ trong bao ra thứ gì đó dài, sáng, đếm.
Đinh. Một bó đinh dài cỡ gang tay.
“Những người làm công theo ngày, ông cho về hết rồi. Ông trả gấp đôi. Thằng Lục với con Hạnh không chịu về, ông đuổi. Chỉ còn mấy đứa có giấy” Bà Tư nói.
“Giấy gì hả bà?”
Bà Tư không trả lời. Bà đặt vào tay cậu một gói vải nhỏ, buộc chéo.
“Gạo với muối. Ở dưới đó, lạnh quá thì ngậm một hạt muối. Đói thì nhai gạo sống. Không được khóc thành tiếng. Nước trong giếng truyền tiếng xa lắm.”
Thừa cầm gói vải. Cậu định hỏi vì sao bà cũng biết chuyện xuống giếng, thì mắt cậu dừng ở góc nhà cổng.
Ở đó, dựa vào vách, có một hình nhân.
Hình nhân bằng giấy bồi trên khung tre, loại người ta đốt trong đám, nhưng không mặc áo giấy. Nó mặc một cái áo nâu bằng vải thật, vải dày. Giống hệt cái áo cậu đang mặc. Mặt nó trắng trơn, chưa vẽ mắt, chưa vẽ miệng. Nó cao đúng bằng cậu. Chân trái nó, cậu nhìn kỹ, ngắn hơn chân phải một chút, đầu gối hơi khuỵu xuống, như người đứng quen dồn sức sang một bên.
“Bà Tư…”
“Đồ cúng” Bà đứng dậy, kéo tấm chiếu cũ trùm lên hình nhân. “Đừng đụng vô. Đi đi.”
Thừa ra khỏi nhà cổng bằng lối hành lang dọc dãy nhà ngang. Lối này người ở không được đi, vì nó chạy sát sau từ đường, ai đi qua sẽ thấy được bên trong qua những ô cửa gió. Thừa đã đi lối này nhiều lần, ban đêm, đi rất chậm, kéo chân trái sao cho guốc không chạm nền.
Từ đường sáng trưng.
Cậu chưa từng thấy nó đông như vậy. Hơn bốn chục người họ Quỷ, các ông, các bà, các anh chị em họ mà cậu chỉ biết mặt không biết tên, quỳ thành hàng trên chiếu, áo the đen, đầu chít khăn trắng như đã có tang. Không ai khấn thành tiếng. Trên bàn thờ, nhang không cắm từng bát mà cắm thành rừng, khói dày tới mức mấy tầng bài vị phía trên chỉ còn là những khối đen đứng trong sương.
Trên cùng, cao hơn mọi bài vị khác, có một cái phủ khăn đỏ. Thừa đã thấy cái khăn đỏ ấy từ năm lên năm, khi lần đầu bò được lên bậc thềm từ đường và bị bà Tư bế xốc xuống. Cậu chưa bao giờ biết dưới khăn là tên ai.
Ở cửa hông từ đường, cha cậu đứng nói chuyện với anh Cẩn. Họ đứng quay lưng về phía hành lang. Thừa áp người vào bóng cột.
Anh Cẩn hai mươi hai tuổi, con trưởng, người mà từ nhỏ ai cũng đã nói sẽ ngồi vào gian giữa sau cha. Tay anh cầm một thanh đao dài quấn kín giấy vàng, chữ đỏ viết chồng lên nhau, đã ngấm dầu.
“Lính ngoài cổng là ai gọi tới?”
“Không phải người nhà mình.”
“Vậy là có người biết đêm nay.”
“Người biết thì nhiều.”
Cẩn im một lúc.
“Cha đã nói con sẽ đứng trước.”
“Con là trưởng. Con đứng trước.”
“Còn thằng Thừa?”
Cha cậu không trả lời ngay. Ông chậm, lúc nào cũng chậm, như đất. Thừa thấy vai ông nhô lên rồi hạ xuống một lần.
“Nó không có việc gì đêm nay.”
Cẩn quay lại, và thấy cậu.
Anh không mắng. Anh đi tới chỗ cột, thanh đao dựng vào tường, cúi xuống cho mặt ngang mặt cậu. Mắt anh đỏ. Hơi thở anh có mùi rượu gạo, thứ rượu người ta uống để không sợ.
“Mày đi đâu giờ này?”
“Em… đi ngủ.”
“Ừ. Đi ngủ” Anh xoa đầu cậu, mạnh tay như hồi cậu còn bé. “Mai anh dẫn ra chợ đêm ăn bánh đúc nóng. Chỗ bà cụ có cái nồi đồng to đó.”
“Anh hứa nha.”
Cẩn cười. Không trả lời. Anh vỗ lên vai cậu hai cái, rồi cầm thanh đao, quay vào từ đường. Ở bậc cửa, anh dừng lại, không quay đầu.
“Thừa. Đừng đứng ở hành lang nữa. Đi đi.”
*
Cậu không đi ngủ.
Gần hết canh hai, Thừa nằm trên tấm phản ở gian nhỏ cạnh bếp, áo nâu mới, gói gạo muối giắt trong bụng áo, mắt mở. Cậu nghe tiếng trống canh ba từ chòi phía đông vọng tới. Tiếng thứ nhất. Tiếng thứ hai. Tiếng thứ ba. Cậu ngồi dậy.
Từ gian bếp ra giếng, gần nhất là đi tắt qua dãy nhà ngủ của các chú. Đó là dãy nhà dài, một hàng cửa gỗ, trước mỗi cửa đặt một đôi guốc. Thừa thuộc từng đôi: guốc mộc to bản của chú Tư, guốc quai nhung của thím Năm, hai đôi guốc nhỏ y hệt nhau của hai đứa em sinh đôi con chú Sáu. Từ trước tới giờ, guốc để trước cửa đều quay mũi ra sân. Người ta cởi guốc bước vào, sáng ra xỏ chân là đi được ngay.
Đêm nay đôi nào cũng quay mũi vào nhà.
Cậu đứng lại. Cậu nghĩ có ai đã đi dọn. Cậu nhìn dọc dãy nhà, mười hai cửa, mười hai đôi guốc, đôi nào cũng chĩa vào trong như những con chó nhỏ đang chờ cửa mở.
Ngay trước mắt cậu, chiếc guốc bên trái của thằng em sinh đôi nhỏ hơn xoay một vòng nửa, chạm vào chiếc bên phải, rồi nằm yên. Không có gió. Ngọn đèn treo dưới hiên không lay.
Thừa đi tiếp. Cậu không chạy được, nên cậu đi nhanh nhất mà chân trái cho phép.
Tới góc bếp thì cậu nghe tiếng búa ngoài cổng.
Không phải tiếng gõ cửa. Là tiếng búa đóng đinh, đều tay, từng nhát nặng, ở phía ngoài cánh cổng gỗ lim. Một. Rồi một nữa. Rồi một nữa. Ai đó trong nhà la lên. Thừa nhận ra giọng anh Sửu, người ở giữ ngựa, một người to con hay cõng cậu đi chợ hồi cậu bé. Tiếng guốc chạy về phía cổng. Tiếng then cửa ngách bị giật.
Rồi một tiếng rất ngắn, như tiếng dao chặt vào cây chuối.
Rồi im.
Ngoài đường, có tiếng ngựa giậm chân. Có tiếng người nói, bình thản như đang hỏi giá gạo:
“Đóng cái ngách luôn đi.”
Búa lại gõ.
Thừa xuống giếng.
*
Bậc đá thứ nhất trơn. Bậc thứ hai có rêu. Tới bậc thứ năm, ánh đèn hiên chỉ còn là một vòng tròn vàng nhạt trên đầu. Cậu đếm bậc bằng chân phải, vì chân phải chắc hơn. Bậc thứ tám. Cậu ngồi xuống. Bậc thứ chín nằm ngay dưới chân cậu, ngập trong nước.
Nước lạnh tới mức cậu không còn biết mình đang lạnh. Cậu co chân lên. Trong giếng có mùi đá ướt, mùi rêu, và một mùi khác cậu không gọi tên được, như mùi một cái rương lâu năm vừa mở nắp.
Một lúc, trên miệng giếng có ánh đèn.
“Cậu ơi.”
Là Nhài. Con bé quỳ ở thành giếng, cái đèn dầu con đặt bên cạnh, tay ôm một cái bát.
“Bà Tư biểu em đem cơm. Cậu đưa gàu lên đi.”
Thừa với tay kéo dây gàu, thả xuống, nghe con bé đặt bát vào, rồi cậu thả cho gàu tụt lại. Bát cơm nắm, ba miếng dưa, một nhúm muối vừng. Cơm còn ấm.
“Nhài. Cổng bị đóng đinh rồi. Lính ở ngoài.”
“Em biết.”
“Anh Sửu…”
“Em biết” Giọng Nhài không run, chỉ nhỏ. “Bà Tư không cho em ra coi.”
“Sao không chạy cửa sau? Cửa sau ra ruộng rau, rồi ra bờ kênh…”
“Em có giấy bán ở trong rương ông” Con bé nói như nói chuyện mưa nắng. “Em chạy đâu, cậu.”
Thừa không hiểu tờ giấy trong rương thì giữ chân người ta được ra sao. Cậu chỉ biết, năm Nhài lên chín, có lần con bé trốn về quê, ba hôm sau tự quay lại, người tái xanh, sốt mê man, bà Tư phải đốt bồ kết xông cả đêm. Từ đó Nhài không trốn nữa.
“Vậy em xuống đây với anh… với tôi.”
Cậu dừng ở chữ đó. Cậu không biết vì sao mình dừng. Ở nhà này, Nhài gọi cậu là cậu, xưng em, và cậu chưa bao giờ biết mình nên xưng gì với con bé.
“Ông chỉ biểu cậu xuống” Nhài nói. “Em ngồi đây. Chừng nào cậu ngủ em mới đi.”
Rồi con bé hát. Không phải hát, ầu ơ thì đúng hơn, cái giọng con gái miền quê ru em, đứt quãng, mấy chữ cuối mỗi câu kéo dài ra cho tới khi hết hơi.
Cái ngủ mày ngủ cho lâu, Mẹ mày đi cấy đồng sâu chưa về…
Thừa ăn cơm. Cậu ăn một nửa, gói nửa còn lại vào vạt áo. Tiếng ầu ơ trên miệng giếng vọng xuống, đập vào vách đá, chồng lên nhau, nghe như có hai ba đứa con gái cùng ru một lúc.
Cậu không biết mình thiếp đi lúc nào.
Cậu thức dậy vì tiếng trên nhà.
Đầu tiên là tiếng giấy. Hàng trăm trang giấy cùng lật một lúc, như một trận gió thổi qua một kho sổ sách, mà trên miệng giếng không có gió. Tiếng lật từ phía từ đường tràn xuống, đi dọc dãy nhà ngang, dừng ở dãy nhà ngủ của các chú.
Rồi tiếng cửa. Hai cánh cửa gỗ cùng đập vào khung một lúc. Rồi hai cánh khác. Rồi hai cánh khác nữa.
Rồi tiếng anh Cẩn. Không ra chữ. Một tiếng hô, như người ta hô khi cùng khiêng một cây cột.
Rồi tiếng sắt. Không phải sắt chạm sắt. Sắt chạm vào một thứ gì như da trâu căng, rất dày, rồi xuyên qua.
Có một tiếng thét. Thừa nghe, và không bao giờ quên được, vì nó không giống tiếng của con người hay của con vật nào cậu từng nghe. Nó giống tiếng một cuốn sổ dày bị xé đôi theo chiều dọc, chậm, từ gáy ra tới mép, nếu cuốn sổ ấy có họng.
Rồi im.
Im tới mức Thừa nghe được tiếng nước giếng nhỏ giọt từ vạt áo mình xuống bậc đá.
Cậu đếm giọt nước. Mười giọt. Hai mươi.
Trên đầu cậu, tiếng ầu ơ của Nhài đã ngừng từ lúc nào.
“Nhài?”
Rồi trong căn nhà, nơi nào đó, có một giọng nói. Không phải một người. Như cả trăm người cùng thì thầm một chữ ở trăm góc khác nhau, cùng lúc, cùng một hơi.
“Một.”
Có tiếng vật nặng đổ xuống sàn gỗ.
“Hai.”
Một tiếng nữa, ở xa hơn, gần từ đường.
Rồi lặng một quãng bằng một hơi thở dài. Rồi lại:
“Một. Hai.”
Hai tiếng đổ, cùng lúc, ở hai đầu dãy nhà ngủ.
“Một. Hai.”
Thừa bịt tai. Không được. Tiếng không đi vào tai. Nó đi vào bằng nước, bằng đá, bằng cái lạnh đang ngấm vào lưng cậu. Cậu áp trán vào vách giếng và đếm theo, môi mấp máy không thành tiếng, vì bà Tư dặn không được khóc thành tiếng, và cậu sợ nếu mở miệng thì cậu sẽ khóc.
Đến một lúc, ngay trên đầu cậu, cái giọng ấy nói:
“Một. Hai. Ba.”
Có thứ gì nhẹ rơi xuống nước bên cạnh cậu. Cái bát. Cái bát đất Nhài vừa dùng đựng cơm, con bé đã kéo nó lên lại theo dây gàu để mai đem đi rửa. Nó rơi xuống, lật úp, chìm một nửa, rồi nổi lềnh bềnh cạnh chân cậu, vài hạt cơm sót tách ra trôi thành vòng.
Thừa ngẩng lên.
Trên miệng giếng, một bàn tay buông thõng qua thành đá. Bàn tay con gái, ngón ngắn, móng cắt sát, đầu ngón còn đen màu dưa muối. Nó không động.
“Nhài.”
Bàn tay không động.
Trăng tháng chín vừa ngang qua miệng giếng. Cậu thấy nó dưới chân mình, trong nước, tròn quá nửa, sáng tới mức thấy được cả những vết rỗ trên mặt nó. Bên mép vầng trăng dưới nước là bóng bàn tay Nhài, năm ngón đen thẫm, xòe ra như đang với xuống.
Thừa đưa tay xuống nước, chạm vào vầng trăng. Nó vỡ thành trăm mảnh, rồi liền lại, nguyên như cũ, với bàn tay ở bên cạnh.
Cậu ngồi im như vậy cho tới khi trăng đi qua.
*
Gần canh năm, có tiếng chân trên sân sau.
Tiếng chân kéo lê. Một bước, rồi một tiếng thở, rồi một bước. Thừa biết tiếng chân ấy, dù chưa bao giờ nghe nó kéo lê. Cậu bám vào vách giếng, ngửa đầu lên.
Cha cậu ngồi xuống thành giếng, cạnh bàn tay Nhài. Ông không nhìn xuống ngay. Ông ngồi đó, thở. Mỗi hơi thở có một tiếng lục bục như nước sủi trong ấm.
Rồi có tiếng bút.
Thừa nghe tiếng bút lông lướt trên giấy. Lâu. Lâu hơn thời gian người ta cần để viết một cái tên. Có lúc ngòi bút dừng lại giữa chừng, như người viết quên mất nét tiếp theo, rồi lại đi tiếp.
“Thừa.”
Một lần. Chỉ một lần.
Cậu không lên. Cha dặn ba lần.
Cái gàu tụt xuống. Không thả theo nhịp, mà tụt từng đoạn ngắn, giật cục, như bàn tay trên kia đã không còn đủ sức giữ dây. Gàu chạm mặt nước, ngay trước mặt cậu, nghiêng đi, rồi nằm yên.
“Cầm lấy.”
Trong gàu có một cuốn sổ.
Nó nhỏ hơn cậu nghĩ, chỉ bằng hai bàn tay úp lại. Bìa đen, sần như vỏ quả trám khô. Gáy khâu bằng chỉ đỏ, quấn nhiều vòng quanh cả cuốn, thắt nút chết. Buộc vào nút chỉ đỏ là một cây bút lông ngắn, cán xương, đầu bút đã khô.
Thừa không cầm.
“Cha dặn gọi ba lần…”
“Cầm.”
Cậu đưa tay vào gàu.
Bìa sổ nóng như vừa lấy ra từ lò, nóng tới rát tay. Nhưng chỉ có lớp bìa. Khi những ngón tay cậu khép lại, cái lạnh từ bên trong cuốn sổ đi lên, xuyên qua cái nóng, xuyên qua da, vào tới xương cườm tay rồi theo xương mà đi tiếp lên vai. Nó không giống lạnh của nước giếng. Nước giếng lạnh từ ngoài vào. Cái này lạnh từ trong ra, như một mảnh của mùa đông vừa được nhét vào trong người cậu và đang tìm chỗ ngồi.
Cậu cầm được cuốn sổ ra khỏi gàu thì trên miệng giếng, tiếng thở lục bục dừng lại.
Không yếu dần. Dừng.
Dây gàu vẫn còn quấn trong bàn tay ông, Thừa biết, vì sợi dây căng lên một chút, rồi chùng xuống, rồi cứ chùng như vậy.
“Cha?”
Không có gì đáp.
Cậu đợi người trên kia gọi tên cậu lần thứ hai. Cậu đợi tới khi chân trái cậu tê dại, tới khi gói gạo muối trong bụng áo ướt sũng, tới khi bầu trời tròn trên đầu cậu đổi từ đen sang xám.
*
Lúc trời bắt đầu có ánh, đủ cho cậu thấy mặt cuốn sổ, Thừa mới dám mở.
Nút chỉ đỏ không cởi được. Cậu thử bằng ngón tay, bằng răng. Sợi chỉ không đứt, không lỏng, càng kéo càng siết vào. Nhưng chỉ quấn ở gáy và quanh mép, chừa một khe đủ cho cậu lật từng trang ra một nửa, như hé một cánh cửa đang bị xích.
Giấy bên trong màu vàng sậm, mỏng và dai, không giống bất cứ thứ giấy nào ngoài chợ. Mỗi trang kín tên. Tên viết dọc, hàng nối hàng, bằng đủ mọi kiểu chữ, có kiểu nét thanh như thầy đồ, có kiểu xiêu vẹo như con nít mới tập, có kiểu cậu nhìn mãi không ra là chữ. Những trang đầu chữ đã nhòe màu nâu cũ. Càng về sau mực càng đen.
Anh Cẩn dạy cậu biết chữ. Không ai biết chuyện đó. Mỗi tối mười ngày một lần, sau khi cả nhà trên đã ngủ, anh xuống sân sau, lấy que viết lên nền đất cạnh giếng cạn, dạy cậu từng chữ, sáng ra lấy chổi xóa. Cậu đọc chậm. Nhưng tên người thì cậu đọc được.
Trang cuối cùng có chữ là tên nhà cậu.
Trên đầu là tên chú Ba, nét chữ cứng, nghiêng về bên phải, chú Ba vẫn viết kiểu đó trên những tờ giấy nợ dán trước cửa nhà củi. Ngày ghi bên cạnh là hai mươi mốt ngày trước.
Sau đó là tên các chú, các thím. Tên hai đứa em sinh đôi, hai cái tên đứng sát nhau, cùng một nét chữ non nớt, như cùng một đứa viết hai lần. Tên anh Sửu, nét to như vết chân trâu. Tên những người cậu chỉ biết mặt. Tên bà Tư, nét chữ đều, nhỏ, cẩn thận, giống y nét chữ trong sổ chợ.
Tên anh Cẩn. Thừa nhận ra nét chữ ấy từ nét ngang đầu tiên, vì đó là nét chữ đã viết lên nền đất cạnh giếng hai năm nay.
Rồi một cái tên không có họ. Chỉ một chữ: Nhài. Nét chữ to, run, cái móc cuối cùng kéo quá dài, đúng như lần đầu Thừa cầm tay con bé dạy nó viết tên mình bằng que than ở góc bếp, năm ngoái, sau tết. Con bé đã hỏi viết tên mình thì để làm gì, và cậu không biết trả lời.
Dòng cuối cùng là tên cha cậu. Quỷ Trọng. Nét chữ ông, chậm, nặng, ngừng lại giữa chữ thứ hai như người viết quên mất nét tiếp theo, rồi lại đi tiếp.
Thừa chạm ngón tay vào tên cha. Mực đã khô. Khô như đã viết từ mười năm trước.
Cậu đếm. Cậu đếm lại. Cậu đếm lần thứ ba, chạm từng cái tên bằng đầu ngón tay đã không còn biết lạnh.
Bốn mươi hai.
Cậu lật lại từ đầu trang, tìm tên mình. Không có.
Trên miệng giếng, tiếng trống canh trên chòi phía đông báo sang giờ Thìn. Cùng lúc là tiếng cổng gỗ lim bị phá. Không phải mở, là phá: tiếng đinh bật ra khỏi gỗ, tiếng xà ngang gãy, tiếng nhiều đôi ủng da bước qua sân gạch, không vội.
“Không ai đụng vào xác. Đếm.”
Giọng người đàn ông ấy bình thản, giọng của người đã làm việc này nhiều lần.
Tiếng chân tản ra khắp nhà. Tiếng cửa mở, cửa đóng. Tiếng một người đọc to, như đọc trong sổ:
“Sổ đinh Việt Thành, năm Quy Hồi thứ một trăm bảy mươi tư, nhà họ Quỷ, phường Đông Thị. Bốn mươi ba khẩu, kể cả người ở có giấy.”
Một lúc lâu. Tiếng chân quay về.
“Bốn mươi hai, thưa ông đội.”
“Đếm lại.”
“Đã đếm ba lượt. Bốn mươi hai.”
“Khí đâu?”
“Không thấy. Từ đường không có. Gian giữa không có. Trên tay xác ông già cũng không có.”
Im lặng. Rồi tiếng ủng đi về phía sân sau. Chậm. Dừng lại bên thành giếng.
Một khoảng tròn trời xám trên đầu Thừa bị che mất một nửa. Một cái đầu đội nón dấu, một khuôn mặt cậu không thấy rõ vì ngược sáng, cúi xuống nhìn vào lòng giếng.
Thừa đã kịp lách vào khe dưới bậc đá thứ tám, nơi vách giếng khoét lõm vào thành một cái hốc nhỏ mà hồi bé cậu hay nằm. Nước ngập tới ngực cậu. Cuốn sổ ép chặt vào ngực, dưới hai lớp áo. Cậu không thở.
Khuôn mặt trên kia nhìn rất lâu. Lâu tới mức Thừa nghĩ người ấy đã thấy cậu. Lâu tới mức một con nhện nhỏ kịp bò từ mép nón người ấy xuống vách giếng.
Rồi người ấy đứng thẳng dậy.
“Đậy giếng lại. Dán bùa, rắc muối. Chưa có lệnh hội đồng, không ai được mở.”
“Còn con nhỏ này, ông đội?”
“Để đó. Chờ người nhà tới nhận.”
“Nó là người ở. Ai nhận.”
Không ai trả lời câu đó.
Tiếng đá nặng bị đẩy lê trên sân gạch. Cái khoảng trời tròn trên đầu Thừa khuyết dần, từ một vầng thành một nửa vầng, thành một mảnh lưỡi liềm xám, thành một đường chỉ sáng. Có vài hạt gì đó lọt qua đường chỉ ấy, rơi xuống mặt nước quanh cậu, tách tách. Muối.
Rồi đường chỉ cũng tắt.
Bóng tối trong giếng là thứ bóng tối không có màu. Thừa không thấy tay mình, không thấy nước, không thấy cuốn sổ. Cậu chỉ nghe tiếng nước nhỏ giọt, và nghe tim mình đập, chậm hơn cậu nhớ, chậm tới mức giữa hai nhịp cậu kịp nghĩ có khi nó sẽ không đập nữa.
Rồi có tiếng gọi.
Không phải từ trên miệng giếng. Từ rất gần. Gần tới mức cậu nghe được cả tiếng người gọi nuốt khan trước khi nói, gần như từ chính trong ngực áo cậu, nơi cuốn sổ đang ép vào da.
Giọng cha cậu. Không lục bục, không kéo lê. Giọng của buổi tối trong bếp, khi ông xới cơm cho cậu.
“Cẩn.”
Một khoảng lặng.
“Cẩn.”
Thừa mở miệng. Không có tiếng nào ra.
“Cẩn ơi. Lên đi con.”
*