Đọc to (tiếng Việt) Nhấn phát để bắt đầu
(Tình trai) Ánh Ngọc Quyện Khói Sương.

CHƯƠNG 5: ĐẮNG CAY CŨNG THỂ RUỘT RÀ / NGỌT NGÀO CHO LẮM CŨNG LÀ NGƯỜI DƯNG.

CHƯƠNG 5: ĐẮNG CAY CŨNG THỂ RUỘT RÀ / NGỌT NGÀO CHO LẮM CŨNG LÀ NGƯỜI DƯNG.

 

Nghe bà Tư buông lời châm chọc, cơn giận trong lòng bà Hai bốc lên ngùn ngụt. Lời vừa dứt, bà Hai đã đứng phắt dậy, lườm bà Tư một cái sắc lẹm.

 

Đúng lúc ấy, trên chiếc sập gụ, cô hai Lam Châu dường như nghe thấy tiếng ồn ào. Cô bé khẽ ho khan mấy tiếng, lồng ngực gầy guộc phập phồng khó nhọc cố lấy hơi. Cánh tay nhợt nhạt vươn ra khỏi tấm chăn chần bông, níu lấy vạt áo của mẹ nó. Tiếng cô thều thào, thở dốc:

 

"Mẹ... mẹ ơi... Không phải... anh Cả không ép con... Là con... tự đòi viết giúp anh... Mẹ đừng trách…"

 

Thế nhưng, bà Hai đang lúc xót con, lại thêm sẵn ác cảm với con chồng nên lời giải thích của Lam Châu chẳng lọt tai được chữ nào. Bà chỉ thấy con gái mình yếu ớt, thở không ra hơi, mà căn nguyên bà tin chắc là từ cái thằng giời đánh kia mà ra.

 

"Mày nằm im đấy cho mẹ! Chả việc gì phải bênh cái thằng con hoang ấy!" Bà Hai gắt nhẹ, gỡ tay Lam Châu ra rồi nhét vội vào trong chăn, dặn con sen canh chừng rồi quay ngoắt người, vạch mành trúc bước nhanh ra khỏi cửa. Tà áo mớ ba mớ bảy màu trầm của bà phất phơ theo bước chân vội vã, chiếc khăn mỏ quạ vấn tóc xô lệch hẳn sang một bên vì cơn nóng giận, càng làm gương mặt bà thêm phần dữ tợn dưới ánh đèn dầu.

 

Buồng của bà Hai và Lam Châu nằm sâu trong dãy nhà ngang phía tây, khép kín sau ba lượt cửa gỗ và một khoảng sân nhỏ trồng cau, vốn là nơi ở dành riêng cho phận nữ trong nhà, con trai đã lớn không được phép lai vãng. Chính vì lẽ đó, từ khi Lam Điền tròn mười ba, mười bốn tuổi, ông Tường đã cho dọn cậu ra một gian buồng riêng ở phía chái nhà ngang đối diện, cách buồng mẹ một quãng sân khá xa, phải vòng qua cả một rặng cau mới tới, coi như tách bạch hẳn nếp sinh hoạt của đích tôn nhà họ Lam ra khỏi khu nhà trong của các bà. Bởi thế, bà Hai muốn qua đó dạy dỗ con trai lúc nửa đêm, cũng phải lật đật băng qua một đoạn đường tối, sương lạnh thấm cả vào gấu áo. 

 

Lúc bấy giờ, ở gian buồng chái nhà ngang, ngọn đèn hoa kỳ leo lét hắt ánh sáng vàng vọt xuống mặt phản gỗ. Sương đêm xuống bắt đầu se lạnh, Lam Điền vừa mặc tạm chiếc áo cánh lụa màu mỡ gà vào người, lười biếng cài vội mấy chiếc cúc thắt nút. Cậu Cả đang cắn chặt răng, cau mày nắn nót từng chữ "Mãng" to đùng trên giấy. Cậu vừa chép phạt vừa lầm bầm càu nhàu ông thầy đồ trẻ trong họng.

 

Cạch!

 

Cánh cửa bức bàn xô ra. Gió lùa vào làm ngọn đèn dầu chao đảo.

 

Lam Điền giật mình ngẩng lên. Chưa kịp nhìn rõ, bà Hai đã bước xồng xộc tới. Thấy thằng con đang ung dung ngồi chép bài, bà Hai không kìm được cơn tức, vươn tay chộp lấy xấp giấy bản mà Lam Điền vừa trầy trật viết được hơn chục tờ.

 

Xoẹt! Xoẹt!

 

Bà lạnh lùng xé toạc mớ giấy ra làm đôi, làm ba, vứt lả tả xuống nền gạch bát tràng.

 

"Bà làm cái trò gì thế?" Lam Điền trố mắt, cơn giận bùng lên, ném phịch quản bút xuống phản gỗ.

 

"Tao làm gì à? Tao xé đống giấy này của mày đấy!" Bà Hai chống nạnh, lớn tiếng mắng: "Mày hại con Châu rướn sức chép bài cho mày, giờ nó nằm bên kia thở không ra hơi, sống dở chết dở, mà mày còn dám ngồi đây nhởn nhơ à?"

 

Nghe tin Lam Châu khó thở, Lam Điền sững người mất một nhịp. Tuy bề ngoài bỗ bã, hay trêu chọc, nhưng tự thâm tâm cậu không hề ghét đứa em gái ốm yếu ấy. Thế nhưng, thái độ hống hách, vô lý của bà Hai lập tức chọc vào cái tính ngang tàng của cậu. Cậu đứng phắt dậy, hất hàm cãi lại:

 

"Bà Hai đừng có ngậm máu phun người! Tôi ép nó bao giờ? Chiều nay thấy tôi bị ông thầy phạt, nó lân la đến đòi chép hộ, tôi đuổi đi không được thì để nó viết dăm ba chữ. Nó ốm o là do cái bệnh bẩm sinh, can cớ gì sểnh ra tí là bà đổ vạ lên đầu tôi?"

 

"Á à! Mày giỏi! Mày làm sai mày còn cãi chem chẻm thế hả?" Bà Hai tức đến nghẹn họng, vỗ đùi bành bạch tru tréo lên: "Bớ người ta! Thằng con giời đánh nó bắt nạt mẹ kế đây này! Trời ơi là trời, mày cậy mày là con bà Cả, là đích tôn, mày chả coi ai ra gì nữa phải không!"

 

Tiếng ồn ào đánh động mấy người ở dưới nhà ngang. Vài ba gã hầu cầm đã lấp ló ngoài hè nhưng không dám bước vào. Bà Hai chỉ tay thẳng ra cửa, gằn giọng ra oai:

 

"Tao không dạy được mày thì để tổ tiên nhà mày dạy mày! Bay đâu! Lôi cổ nó ra gian thờ họ cho tao! Bắt nó quỳ gối trước hương án. Không có lệnh của tao, không đứa nào được cho nó đứng dậy!"

 

Mấy gã hầu rụt rè định sấn tới, nhưng Lam Điền đã gạt phắt tay họ ra, dẫu sao đây cũng không phải lần đầu tiên bị phạt quỳ. Cậu xốc lại vạt áo lụa đang mặc dở, vỗ ngực cái rầm, bướng bỉnh hất mặt lên:

 

"Không cần chúng mày đụng vào! Tao có chân tự đi! Quỳ thì quỳ, tôi chả làm gì sai mà phải sợ bà!"

 

Nói đoạn, thiếu niên mười sáu tuổi dậm chân thình thịch, hùng hổ bước thẳng ra ngoài màn đêm sương lạnh, hướng về phía gian thờ họ khói hương nghi ngút. Bỏ lại sau lưng bà Hai đang tức tối thở hồng hộc và một bề bộn những mảnh giấy vụn bị vò nát tươm.

 

Bóng cậu vừa khuất sau rặng cau tăm tối, một tràng cười trong trẻo mà lanh lảnh như tiếng khánh bạc chợt vang lên từ ngoài bậu cửa, xé toạc bầu không khí căng thẳng của gian buồng.

 

"Chà chà, đêm hôm khuya khoắt mà nhà ngang ngõ tắt rộn ràng đáo để…"

 

Bà Ba Diệp Chi thong thả bước vào. Trái ngược với dáng vẻ tất tưởi, tức tối của bà Hai, bà Ba trông vô cùng kiêu kỳ và nhàn nhã. Bà vận chiếc áo dài lụa màu hồng cánh sen thêu hoa văn phượng vũ tinh xảo, bên trong lấp ló lớp yếm điều thắm màu, cổ đeo kiềng vàng chạm trổ, tay đeo đến ba bốn chiếc vòng cẩm thạch cùng lúc, tóc vấn cao cài trâm hoa lộng lẫy. Toàn bộ diện mạo phảng phất phong thái sân khấu quen thuộc của một đào hát ngày nào, chỉ khác là nay khoác thêm lớp áo mệnh phụ nhà giàu. Một tay bà vịn khung cửa, tay kia phe phẩy chiếc quạt giấy dó vẽ cành mai. Từng bước đi, điệu bộ của bà đều mềm mại, thướt tha nhưng ánh mắt lúng liếng lại sắc sảo vô cùng.

 

Đôi mắt sắc như dao cau của bà Ba lướt qua đám giấy lộn xé nát tươm trên nền gạch, lại nhìn sang khuôn mặt đang bầm gan tím ruột vì tức của bà Hai, bà mím môi cười nhạt, chúm chím móc mỉa:

 

"Chị Hai rèn con uy phong quá cơ, chả trách đám người ăn kẻ ở sợ xanh cả mặt, đứng nem nép như chịu trận. Cơ mà em tưởng... cái Châu nhà bà đang ốm đau bề bề ra đấy, chị phải túc trực canh chừng, sắc thuốc hầu hạ chứ? Hóa ra chị vẫn dư dả thì giờ sang tận chái nhà này để xé giấy, mắng nhiếc con chồng cơ à?"

 

Bà Hai nghe thế, mặt mày đang đỏ gay gắt bỗng chuyển sang xám ngoét. Bà nắm chặt tay gậy, gằn giọng:

 

"Chuyện mẹ dạy con, không mượn đến dì Ba xen vào! Dì lo mà chải chuốt cái thân dì đi!"

 

Bà Ba chẳng hề nao núng, khẽ khép chiếc quạt lại, gõ gõ vào cằm ra chiều ngẫm nghĩ, giọng nói nhỏ nhẹ mà đâm thẳng vào tim đen người khác:

 

"Ây dà, em nào dám xen vào chuyện dạy dỗ của chị. Em chỉ lo xa thay cho chị thôi. Nay ông Tường nhà ta vừa về đến nhà, bụng dạ đang rối bời vì con Châu ốm, chị lại mượn cớ ầm ĩ, tống cổ thằng Cả ra gian thờ họ bắt quỳ giữa đêm sương lạnh lẽo thế kia... Nhỡ ngày mai ông ấy biết chuyện, tiếng ác "mẹ ghẻ con chồng", e là chị gánh còng lưng chả hết."

 

Nghe đến đây, bà Hai bỗng bật cười, chẳng hề có lấy nửa điểm chột dạ hay lo sợ. Bà hất mặt, giọng đầy khinh khỉnh:

 

"Dì Ba khéo lo bò trắng răng! Dì định đem ông Tường ra dọa tôi đấy à?"

 

Bà Ba nhún vai, nhếch mép cười nhạt, lấy vạt áo che miệng ngáp dài một cái ra vẻ buồn ngủ.

 

"Thế cơ à? Thôi, đêm sương lạnh, em về buồng đắp chăn đây. Chị Hai cứ nán lại mà dọn cho sạch đống giấy lộn này nhé, kẻo bẩn hết cả gạch bát tràng."

 

Bà Ba đủng đỉnh xoay người, thắt lưng lụa uốn lượn thướt tha bước ra phía hành lang. Nhìn cái dáng vẻ õng ẹo chướng mắt ấy, máu nóng trong người bà Hai bốc lên tận đỉnh đầu, bà liền ném theo một câu móc mỉa chua chát:

 

"Người ta nói cấm có sai:

 

Lẳng lơ đeo nhẫn chẳng vừa,
Nhẫn thì rơi mất lẳng lơ vẫn còn.

 

Thân đào hát xuất thân thấp hèn, quen thói uốn éo mua vui cho thiên hạ, đừng tưởng bước chân qua cửa nhà này là tẩy sạch được mùi son phấn rẻ tiền mà đòi lên mặt dạy đời chính thất!"

 

Bước chân bà Ba khựng lại nơi bậu cửa. Nụ cười nhạt trên môi chẳng những không tắt mà còn đậm thêm nét trào phúng. Bà từ từ quay người lại, khẽ phe phẩy chiếc quạt vờn trên ngực áo, ánh mắt lúng liếng găm thẳng vào khuôn mặt đang nhăn nhúm vì giận dữ của bà Hai, giọng êm ái du dương:

 

"Chà, chị Hai dạy chí phải, em đâu dám quên thân phận mình. Em bề mọn, mang tiếng lẳng lơ nên nhẫn có rơi, ông Tường nhà ta lại tất tả đi sắm ngay cho chiếc khác, to hơn, chói lọi hơn để dỗ dành. Còn người cao sang, gia giáo như chị, mười ngón tay dát đầy vàng son gấm vóc mà đêm đêm vẫn phải nằm không phòng lạnh, uất ức đến mức trút giận lên đầu một đứa con chồng bị ghẻ lạnh. Thiết nghĩ... tiếng là chính thất mà chẳng giữ được trái tim chồng, thì cái cao quý ấy, phỏng có sung sướng gì hơn mụ đào hát này không thưa chị?"

 

Nói đoạn, bà Ba bật cười một tiếng lanh lảnh rồi đủng đỉnh gót ngà khuất hẳn sau rặng cau. Trong gian buồng tối, chỉ còn lại bà Hai đứng chết trân, mặt đỏ phừng phừng, lồng ngực tức tối nghẹn họng đến mức không thở nổi, tay run bần bật nắm chặt cây gậy gõ cồm cộp xuống nền gạch.

Bình luận đoạn văn

Bình luận

Trả lời bình luận

Chỉnh sửa bình luận

Thiết lập văn bản

Xem trước

Nội dung sẽ hiển thị như thế này

Chọn font chữ

Cỡ chữ

12px 30px