CHƯƠNG 4: MẤY ĐỜI BÁNH ĐÚC CÓ XƯƠNG / MẤY ĐỜI MẸ GHẺ LẠI THƯƠNG CON CHỒNG.
CHƯƠNG 4: MẤY ĐỜI BÁNH ĐÚC CÓ XƯƠNG / MẤY ĐỜI MẸ GHẺ LẠI THƯƠNG CON CHỒNG.
Bóng nắng nhạt dần, vạt mây chiều ngoài rặng tre ngà đã nhuộm màu ráng đỏ. Yên Vũ cẩn thận xếp lại nghiên mực, cất sách vở và quản bút vào chiếc tráp tre, chuẩn bị xách tráp về phòng.
Vừa lúc đó, tiếng bước chân huỳnh huỵch nện trên sàn gỗ vang lên. Cậu Cả Lam Điền hùng hổ bước vào, trên trán vẫn còn chói chang vệt mực son đỏ chót lúc sáng. Cậu vểnh mặt lên đầy đắc ý, vứt "phạch" tờ giấy bản lên mặt án thư trước mặt Yên Vũ.
"Đây! Ba mươi chữ "Mãng", không thiếu một nét! Thầy xem đi rồi rút lại lời đe dọa sáng nay cho tôi!" Giọng cậu Cả đầy vẻ tự mãn, hai tay khoanh trước ngực hất hàm nhìn thầy đồ.
Yên Vũ thong thả dừng tay, buông quai tráp xuống. Chàng nhặt tờ giấy lên, mượn chút ánh sáng le lói cuối ngày để xem xét. Quả thực, ba mươi chữ "Mãng" được xếp hàng ngay ngắn trên giấy. Chữ nào chữ nấy đều ra hình ra dạng, vuông vức đàng hoàng, không còn nguệch ngoạc thảm họa như con ngoé chết ban sáng.
Thế nhưng, ánh mắt sắc sảo của Yên Vũ chỉ quét qua hai hàng đầu tiên liền khẽ nhíu lại.
Chữ tuy đúng hình thù, nhưng nét chữ lại khác biệt hoàn toàn. Nét phẩy, nét mác tuy cố tình được viết cho cứng cỏi, thô kệch đi một chút hòng che mắt, nhưng lực ấn của cổ tay lại yếu ớt, mềm oặt. Tuyệt đối không phải là lối viết giương nanh múa vuốt, dùng lực bừa bãi như trâu mộng của Lam Điền. Nghĩ bằng đầu gối cũng biết, cậu Cả đã nhờ ai đó chép hộ, rồi cố tình viết xấu đi hòng qua mặt chàng.
Yên Vũ khẽ thở dài trong lòng.
"Thằng nhóc này... đến cái trò gian lận cũng làm không xong."
Chàng không vạch trần ngay, chỉ nhếch mép cười nhạt. Yên Vũ vươn tay rút lấy cây bút lông, chấm đẫm vào nghiên mực son đỏ chót ban sáng hãy còn chưa khô hẳn.
"Có vẻ như... cậu Cả đã tốn không ít công sức cho bài phạt này." Yên Vũ kéo dài giọng, thong thả cất lời.
Vừa nói, tay chàng vừa lia bút. "Xoẹt! Xoẹt!" Yên Vũ không chút nương tình, ấn bút khoanh tròn liên tục vào những chữ bị sai lực cổ tay. Chỉ chớp mắt, trên tờ giấy trắng chi chít những vết mực đỏ lự, chói lọi hệt như nốt chu sa trên trán Lam Điền, như đang tát thẳng vào sự đắc ý của cậu thiếu niên.
"Thầy làm cái quái gì thế?" Lam Điền trợn trừng mắt, nhảy dựng lên như giẫm phải than hồng: "Chữ tôi viết rành rành ra đấy, hình thù ngay ngắn, thầy còn bới lông tìm vết gì nữa? Thầy cố tình nhắm vào tôi đúng không?"
Yên Vũ thản nhiên ném cây bút lông trở lại ống cắm, lấy khăn tay lau vết mực dính trên đầu ngón tay. Chàng ngước đôi mắt phượng tĩnh lặng nhìn thẳng vào dáng vẻ bực tức của học trò, giọng lạnh tanh:
"Chép lại. Một trăm lần."
"Cái gì? Thầy bị điên à?" Lam Điền quát lên, suýt chút nữa là đấm tay xuống bàn.
Yên Vũ xách chiếc tráp tre lên tay, phủi nhẹ vạt áo the xám tro, chẳng buồn đôi co thêm nửa lời. Chàng xoay người bước ra cửa, nhưng khi bước qua bậu cửa gỗ, bước chân khẽ khựng lại. Thầy đồ trẻ hơi nghiêng đầu, ném lại một ánh nhìn nửa như chế giễu, nửa như răn đe sắc lẻm:
"Nét chữ cũng như nết người. Nét của cậu ngang tàng, thô bạo, còn nét trong giấy này lại yếu ớt, nắn nót, hệt như người đang cầm kim thêu hoa. Lần này... phải là cậu tự tay chép. Sáng mai ta kiểm tra."
Gió chiều thổi tung vạt áo the dài của Yên Vũ. Giọng chàng bình thản nhưng lại là tảng đá đè lại sự ngang tàng của thiếu niên:
"Nếu không phải đích thân cậu chép, hình phạt... không chỉ là một trăm lần đâu."
Nói rồi, bóng dáng thanh mảnh của Yên Vũ thong dong khuất sau hành lang.
Chỉ còn lại Lam Điền đứng chết trân trong thư phòng. Cậu cúi xuống nhìn tờ giấy chi chít những khoanh tròn đỏ chót, lại đưa tay sờ lên trán mình, cục tức nghẹn ứ ở cổ đến mức không thở nổi. Cậu vò nát tờ giấy ném mạnh xuống góc phòng, gầm lên một tiếng đầy phẫn uất vỡ nát cả không gian tĩnh lặng của buổi chiều tà:
"Tên mọt sách, thầy đợi đó cho tôi…"
Trời trở về khuya, bóng tối trùm lên cái nhà họ Trần rộng thênh thang. Đêm ở miền quê này vắng lặng lắm, chỉ có tiếng côn trùng rỉ rả bờ ao, tiếng chó sủa ma xa xa vọng lại hòa cùng tiếng ngọn đèn dầu cháy nổ lép bép ngoài hiên gạch.
Ông Lam Tường vắt vạt áo lụa còn vương bụi đường đất đỏ, vừa bước xuống kiệu võng đã sai thằng người ở xách cái túi nải, ôm khư khư cái tráp gỗ mun đi thẳng về phía nhà ngang phía Tây, hướng buồng chỗ ở của bà Hai.
Cái cơ ngơi này rường cột chạm trổ bề thế, ruộng đất cò bay gãy cánh, nhưng đằng sau những cánh cửa bức bàn im ỉm kia lại là cả một mớ bùng nhùng rối rắm của mấy bà vợ.
Nhà họ Trần có bốn bà vợ. Bà Cả An Nhạc vốn là con nhà thuần nông, quen biết ông Tường từ thời còn trẻ, từng cùng ông rong ruổi Bắc chí Nam làm ăn, song tính nết hiền lành, quanh năm suốt tháng chỉ biết khâu vá, hương khói tổ tiên. Thế nhưng bà vắn số, Lam Điền chưa tròn năm tuổi thì trúng gió mà qua đời. Từ độ ấy, cái uy quyền tay hòm chìa khóa rơi tọt vào tay bà Hai.
Khác hẳn với bà Cả, bà Hai Gia Linh là người nổi tiếng khó tính, khó chiều. Cái ngày bà Cả vừa tắt hơi, bà Hai đã định bụng dìm chết thằng bé Lam Điền cho tiệt cái nọc đích tôn. Thế nhưng ông trời có mắt, sau này bà Hai đẻ được hai mụn con, cô hai Lam Châu và cậu ba Lam Thế. Cậu Thế thì khỏe mạnh nhơn nhơn, nhưng cô Châu từ lúc lọt lòng đẻ ra đã yếu nhớt yếu nhợt, người ngợm xanh xao như tàu lá chuối. Mời thầy mo, thầy tào về cúng bái mãi chả ăn thua, cuối cùng thầy bói mù ở đầu đình mới bấm đốt tay phán rằng:
"Cái mệnh con Hai nó mỏng manh, phải có cái vía thằng Cả nó che chở, nó gánh bớt xui xẻo thì mới thọ được."
Chẳng biết lời thầy bói thiêng thật hay ông Tường thương xót mà thằng bé Lam Điền giữ được mạng. Nhưng ở cái nhà này, dưới sự cai quản của bà Hai, ngày tháng của cậu Cả có ngày nào được yên ả đâu, chẳng bị đánh chửi thì cũng bị tìm cớ, bới móc tìm sâu mà trách phạt.
Sau này, ông Tường làm ăn khấm khá, rước thêm hai bà nữa về. Bà Ba Diệp Chi vốn xuất thân là hoa khôi đào hát dạt ngoài tỉnh, cái bụng dạ sâu thẳm khó lường. Từ ngày bà Ba bước chân vào cửa, cái nhà này chẳng khác nào cái chảo lửa. Mấy bận bà Hai cậy quyền cậy thế bắt nạt, bà Ba nhẫn nhịn nhưng dăm bữa nửa tháng lại xui khôn xui dại móc mỉa trả đũa, khiến bà Hai tức hộc máu mà chẳng làm gì được.
Còn bà Tư Chi Anh thì trẻ măng, xuất thân từ nhà theo đạo, lúc nào cũng cầm một chuỗi phật châu trên tay. Lúc bước chân vào nhà này, bà may mắn mang thai hai lần nhưng đều không may chết yểu. Từ đó hàng ngày bà ăn chay niệm Phật chẳng màng sự đời.
Khi ông Tường bước vào buồng, mùi thuốc bắc đắng nghét bốc lên nồng nặc. Dưới ánh đèn dầu, bà Hai đang ngồi ủ rũ bên mép giường sập, mình vận chiếc áo mớ ba mớ bảy màu trầm, yếm lụa điều thấp thoáng bên trong cổ áo, tóc vấn khăn mỏ quạ hơi xô lệch vì thức khuya trông con ốm, gương mặt đánh phấn trắng dã càng thêm phần u ám. Trên giường, cô Châu nằm thoi thóp, thở hắt ra từng nhịp nhọc nhằn, da dẻ trắng bệch, mồ hôi vã ra lạnh toát.
"Mình cứ ngồi đấy. Bệnh tình con Châu nay sao rồi?" Ông Tường cất tiếng hỏi, giọng trầm đục xót xa.
Bà Hai rớm rớm nước mắt, lấy vạt áo mớ ba mớ bảy quệt ngang mắt:
"Chả khá hơn tí nào ông ạ… Chẳng biết thế nào mà lại ho liên tục. Thầy lang làng bên mới sắc cho mấy bát thuốc, uống vào thì nằm li bì từ chập tối tới giờ…"
Ông Tường nhíu mày, mở cái tráp gỗ mun lấy ra mấy củ sâm Cao Ly và gói kỳ nam thơm nức mũi. Toàn là đồ quý hiếm ông phải tốn bao nhiêu lạng bạc trắng mới vác về được.
"Mình đem mấy thứ này bảo con sen hầm nước sắc thuốc cho con nó uống dần. Mấy bữa nữa, tôi nhờ thầy lang có tiếng ngoài phủ về xem mạch cho nó."
Bà Hai gật đầu, nhưng ánh mắt lờ đờ chả có tí hy vọng nào. Bệnh của con Châu lạ lắm, từ độ lên mười, cứ đến rằm hay giời trở gió là cả người nó lạnh ngắt như cục nước đá, nhịp tim đập chậm rì như người sắp chết. Các thầy lang đều lắc đầu bĩu môi, mập mờ rằng bệnh này ăn mòn vào cốt tủy, khó mà sống qua tuổi mười tám.
Nhìn con gái nằm thoi thóp trên giường, lại nghĩ đến cái viễn cảnh thằng Lam Điền vẫn nhơn nhởn sống sờ sờ, bà Hai càng nghiến răng ken két.
Đúng lúc cái buồng đang chìm trong bầu không khí ngột ngạt, rầu rĩ thì tấm rèm trúc sột soạt vén lên. Bà Tư từ ngoài thong thả bước vào.
Dẫu đã tối muộn, bà Tư vẫn giữ nếp ăn mặc giản dị quen thuộc. Bà vận chiếc áo dài vải nâu sồng sẫm màu, không điểm chút trang sức lòe loẹt nào ngoài chuỗi tràng hạt bồ đề bóng nhẫy đeo nơi cổ tay, tóc búi gọn gàng dưới lớp khăn vấn tối màu giản đơn. Dáng điệu khoan thai, mỏng mày hay hạt, dáng vẻ hiền lành chẳng vướng bụi trần. Trên tay bà bưng một cái lư đồng to cỡ nắm tay, khói từ kẽ nắp lư tỏa ra những lọn mỏng dính, mang theo mùi thơm the mát, thoang thoảng như mùi hương trầm hay đốt ở tam bảo.
Thấy ông Tường cũng ở đấy, bà Tư khẽ cúi đầu chào, rồi bưng cái lư đồng đặt lên chiếc đôn gỗ cạnh đầu giường cô Châu.
"Mình cũng vừa về tới nhà đấy ư?" Bà Tư cất giọng ỏn ẻn, ngọt xớt: "Chiều nay em cất công lên chùa xin sư thầy được ít nụ hương quý, nghe bảo đốt lên có linh khí Phật, giúp định thần, người ốm ngửi vào thì lồng ngực nhẹ nhõm, dễ thở hơn. Em xót cái Châu quá nên vội đem sang đây ngay."
Ông Tường nghe thế thì gật gù, nét mặt dãn ra chiều ưng ý:
"Dì Tư có lòng thế là quý."
Bà Hai ngồi đó, dẫu trong bụng chả ưa gì mụ này nhưng đang lúc bề bộn lo ốm lo đau cho con, lại thấy bà Tư ra vẻ quan tâm sượng sùng, đành nhếch mép gượng gạo:
"Thế thì đội ơn dì."
Khói hương lượn lờ tỏa ra, mùi the mát quẩn quanh mành trướng, xua bớt đi cái mùi thuốc bắc đắng nghét. Bà Tư lần tràng hạt, kéo chiếc ghế đẩu rón rén ngồi xuống mép giường. Bà đưa bàn tay mềm ỉu nắn nắn vạt chăn bông đắp cho con Châu, buông một tiếng thở dài thườn thượt, ánh mắt xót xa hệt như ruột thịt:
"Tội nghiệp con bé, người ngợm lạnh ngắt thế này... Gái lớn rồi mà mỏng manh như chiếc lá úa."
Bà Tư ngập ngừng một lát, đưa mắt lấm lét nhìn sang ông Tường rồi liếc về phía bà Hai, làm như vô tình buông thõng một câu, giọng đầy vẻ ái ngại:
"Cái Châu... người nó yếu thế, sao nhà mình không để nó nghỉ ngơi... Hình như chiều nay em đi ngang qua chỗ hiên thư phòng, thấy thấp thoáng bóng nó cắm cúi viết bài hộ thằng Cả thì phải…"
Lời còn chưa dứt, bà Tư vội đưa tay bụm miệng, làm bộ như lỡ lời:
"Chết, em dại mồm dại miệng! Chả biết có nhìn nhầm không, nhưng thằng Cả nó khỏe như vâm, sao lại đi bắt con em ốm vặt làm thay bài thầy giao cơ chứ? Khổ thân con bé, chắc rướn sức hầu anh nên giờ mới ốm thập tử nhất sinh thế này…"
Câu nói nhẹ tênh, rón rén của bà Tư như mồi lửa ném thẳng vào đống rơm khô.
Bà Hai giật bắn người, mắt trợn ngược lên, vằn vện những tia máu đỏ lựng. Bàn tay đang nắm vạt áo gấm bấu chặt lại đến mức móng tay cắm phập vào lòng bàn tay rớm máu.
Ông Tường nghe nhắc đến thằng con, sắc mặt lập tức sầm lại, hàng chân mày giao nhau tối sầm. Tiếng thở hắt ra nằng nặng tức giận.
"Thật có chuyện thằng Điền ép cái Châu chép phạt thay nó?" Ông Tường gằn giọng, quay sang nhìn bà Hai.
Bà Hai tức đến run bần bật, nhớ lại cảnh con gái sống dở chết dở chiều nay, lại thêm lời khích tướng đâm chọt của bà Tư, cơn uất hận bao năm dồn nén bùng lên không sao cản nổi. Bà nghiến răng ken két, buông thõng một câu rít qua kẽ răng:
"Ông thấy rồi đấy! Nó cậy nó là đích tôn, là bùa hộ mệnh của cái nhà này nên nó có coi mẹ con tôi ra gì đâu! Có ngày, mẹ con tôi chết mục xương dưới tay nó ấy mất!"
Bà Tư ngồi thu lu bên mép giường, tay vẫn đều đặn lần từng hạt bồ đề.