Tường Minh (1)
Tường Minh (1)
Lúc đặt chân xuống sân bay, tôi có hơi choáng ngợp một chút. Đã thích nghi dần với những đợt mưa kéo dài suốt nhiều ngày trong Nam, giờ về Bắc, cái nắng thủ đô bỗng trở nên rất đỗi lạ lùng. Đã đầu đông nhưng nắng vẫn chưa có dấu hiệu lui dần mà nhường chỗ cho những cơn gió phương Bắc. Trong sân bay, tôi vẫn thấy nhiều người ngoại quốc mặc áo phông ngắn tay, hệt như vẫn còn đang trong kỳ nghỉ hè. Nhìn những dòng người tấp nập ra ra vào vào cửa hải quan, tôi chợt nhớ ra phải gọi điện cho mẹ.
Tháng trước, khi áp phích của buổi vũ kịch Lá Ngọc Cành Vàng mới được treo quảng cáo, mẹ đã nhắn hỏi tôi muốn đi xem biểu diễn với mẹ không. Lúc đấy tôi đang bận công việc trong Nam nên ợm ờ để đó. Phải đến tuần trước, ngồi xếp lịch cùng chị Hoài trợ lý, tôi mới thông báo được giờ giấc chính xác tôi về Bắc để kịp xem biểu diễn với mẹ. Chẳng ngờ, tôi xuống sân bay đúng giờ hẹn còn mẹ tôi lại đang đi cà phê với một người bạn đạo diễn. Mẹ bảo tôi không cần qua đón mà cứ tới thẳng Nhà hát Lớn, lát mẹ sẽ đến kịp giờ.
Kết thúc cuộc gọi, tôi mở ghi chú xem lại lịch. Buổi vũ kịch hôm nay công chiếu vào lúc 18:30, còn hơn bốn tiếng nữa mới bắt đầu. Từ sân bay đến đó khoảng 45 phút đi đường, vậy là tôi có tận ba tiếng thời gian trống. Thấy thế, tôi bèn nhắn cho Hoàng Bách, hỏi cậu ta có còn bay chuyến nào hôm nay không. Hoàng Bách sửng sốt khi biết tôi lại bay đúng chuyến cậu ta làm cơ phó. Sau một tràng cảm thán tần suất bay mỗi năm của tôi thật kinh khủng, cậu chàng hẹn tôi ở quán cà phê sân bay. Tôi vào đó chờ cậu ta trước.
Uống non nửa cốc capuchino, Hoàng Bách cũng tới. Thấy tôi, cậu chàng hăm hở vẫy tay, hoàn toàn khác xa với điệu bộ lịch thiệp của vị cơ phó lúc đọc những dòng lệnh tiếng Anh thay cho cơ trưởng: “Máy bay của chúng ta đang giảm độ cao, trong vài phút tới đây sẽ hạ cánh. Nhiệt độ chiều nay là 29 độ, gió nhẹ, trời có mây rải rác. Thay mặt cho phi hành đoàn, xin cảm ơn quý khách đã bay cùng chúng tôi. Chúc quý khách những ngày tháng tốt lành và hẹn gặp lại trên những chuyến bay sau.” Thi thoảng, tôi còn thấy mình quen với giọng đọc tiếng Anh của nó hơn cả tiếng Việt.
"Mẹ nó, mấy tháng rồi chúng mình mới gặp nhau ấy nhỉ?” Vừa đặt cốc latte xuống bàn, Hoàng Bách đã liến thoắng: “Đến nửa năm chưa? Trông ní khác lần cuối ta gặp nhau phết đấy, đen hơn thì phải. Quái nhỉ, miền Nam đang là mùa mưa mà, sau lại đen đi được… mà đây là lần thứ bao nhiêu cậu bay chuyến có toai phụ trách rồi ta?"
"Tôi cũng không đếm, chắc phải đâu đó hơn cả tá rồi." Tôi trả lời câu hỏi cuối cùng của cậu ta: "Dạo này thế nào?"
"Oải vãi, không muốn làm phi công nữa đâu…” Hoàng Bách ngáp dài, nhìn bộ dạng như muốn nằm thượt ra bàn: “Nếu toai biết làm cái nghề này hành xác như vầy thì toai đã nghỉ mẹ nó từ lúc học rồi. Nhưng biết trước tương lai thì đã giàu.”
Đúng thật nhỉ? Ai mà biết trước chuyện tương lai. Cũng như Hoàng Bách không biết rằng làm trong một năm phi công phải trải qua bảy đến tám kỳ thi để giữ bằng lái, tôi cũng chẳng biết người bạn cấp ba mà tôi thường xuyên liên lạc nhất lại là cậu ta. Thường xuyên ở đây – chiếu theo thời gian biểu của tôi – là khoảng hai đến ba lần một năm. Có những đứa bạn cấp ba phải đến hơn bảy rồi tôi chưa gặp lại. Phần vì tôi chưa về họp lớp lần nào để từ khi du học, phần còn lại, có lẽ vì những người bạn học mà tôi từng cười cười nói nói hằng ngày ngày ấy không quan trọng đến thế trong cuộc đời tôi. Đến cả Hoàng Bách, tôi cũng có mục đích khi duy trì liên lạc với cậu chàng.
"Gần đây cậu có gặp Khôi Nguyên không?"
"Vãi thật, cậu có thể hỏi uyển chuyển một chút hơn không?" Hoàng Bách phê bình tôi: "Mỗi lần cậu gặp thằng này đều là hỏi về Nguyên Tử, sao không tìm nó mà hỏi đi đờ mờ!"
"Nghe như cậu đang ghen đấy Bách Bảo."
"Có cứt ấy. Toai chỉ ức chế thôi được không. Ý là cậu hỏi thì cứ hỏi, xong còn bắt thằng này không được kể cho Nguyên Tử. Mẹ nó, làm mỗi lần toai nhìn mặt nó đều thấy mình như gián điệp hai mang vậy. Tội lỗi vãi thề..."
Tôi uống thêm cà phê, chờ Hoàng Bách càm ràm xong mới lại lên tiếng:
"Thế là cậu mới gặp cậu ấy hả?"
Hoàng Bách có vẻ đã chịu thua tôi.
"Ò, mới gặp nửa tháng trước, sinh nhật nó. Nó vẫn như thường thôi, ý toai là, cuộc sống của nó chẳng có gì biến động lắm, học hành rồi tốt nghiệp, tốt nghiệp xong thì đi làm, đi làm thì vùi đầu vào công việc hoặc ra ngoài cùng đồng nghiệp. Thi thoảng toai gặp nó vẫn thấy nó chả khác gì hồi xưa." Hoàng Bách nhìn tôi: "Còn cậu thì khác thấy rõ nhỉ?"
"Thế hả?"
"Ít nói hơn là rõ, trông ngày càng nghiêm nghị. Cảm giác khác cấp ba khá rõ rệt đấy." Hoàng Bách bình phẩm: "Nếu không quen cậu từ trước, toai sẽ nghĩ mình khó mà bắt chuyện với cậu."
“Đến mức đấy à?” Tôi nhướng mày: “Bách Bảo cũng khác nhiều mà, trưởng thành, đáng tin cậy hơn là rõ.”
“Toai nghĩ lại rồi, có cứt cậu mới khác í.”
Tôi bật cười, lại nghe cậu chàng hỏi:
“Thế là vẫn không định đi gặp Nguyên Tử à?”
Chà, hỏi câu này khoai phết đấy.
“Tôi vẫn theo dõi tài khoản trên mạng của cậu ấy mà. Đây nhớ rất kỹ cậu ấy từng đạt những giải gì giải gì hồi đại học đấy nhé. Chẳng qua…” Tôi cười nhạt: “Thấy không cần thiết phải xen vào cuộc sống của nhau.”
“Cậu…”
Hoàng Bách có vẻ định nói gì đó, rồi lại thôi. Tôi lờ mờ đoán được sự khó xử trong biểu cảm của cậu ta. Tôi đang làm gì vậy nhỉ? Hẹn gặp một người bạn chỉ để hỏi về một người bạn khác đã từ lâu không liên lạc, còn chẳng hỏi được gì đáng kể. Thông tin Hoàng Bách tiết lộ còn không chi tiết bằng một phần mười những gì tôi thực sự biết về Khôi Nguyên trong suốt mấy năm chúng tôi ngừng liên lạc, nhưng gặp mặt trò chuyện với cậu chàng vẫn thoải mái vô cùng. Hẳn vì Hoàng Bách chẳng khác xưa là mấy, khiến tôi vô thức sống lại quãng thời gian đó mỗi khi gặp cậu ta.
Nhưng sự nhớ nhung ấy cũng chỉ có giới hạn. Tôi nhìn đồng hồ, thấy còn chưa được mười lăm phút trôi qua. Tiếp theo phải nói gì đây? Khả năng nói chuyện phiếm của tôi đã bị thui chột cỡ này rồi hả? Đến một cuộc trò chuyện nửa tiếng cũng chẳng duy trì được.
Cũng có thể vì mới đáp đất, khá mệt mỏi nên tôi muốn tranh thủ thời gian để nghỉ ngơi. Nghĩ vậy, tôi đứng dậy:
“Hỏi vậy thôi. Lát tôi còn có việc, đi trước đây.”
“Cậu đã hỏi cái quái gì đâu chứ?” Hoàng Bách tặc lưỡi: “Chi bằng hôm nào đấy hẹn cả đám Thu Thủy, An Trường đi đâu đó. Vậy thì cậu cũng chẳng cần ngại lúc đối mặt với Nguyên Tử nữa.”
“Thế thì chúng nó sẽ biết cậu làm gián điệp cho tôi mất đấy Bách Bảo.”
“À, ừ nhể…”
“Cậu vẫn thiên tài như hồi xưa ha.”
“Im đê!”
“Nói vậy thôi chứ tôi không ngại đối mặt với Khôi Nguyên đâu.” Tôi tủm tỉm: “Chẳng qua, tôi thực sự thấy không cần thiết.”
Chưa để Hoàng Bách trả lời, tôi đã vẫy tay chào cậu ta: “Vậy thôi, đi nhé. Hôm nào bay cùng chuyến sẽ lại nhắn cậu.”
***
Lấy xe từ bãi gửi xe, tôi tranh thủ chợp mắt khoảng hơn tiếng rồi lái xe đến Nhà hát Lớn, đến đó vừa vặn lúc chiều buông. Còn hơn tiếng nữa buổi vũ kịch mới bắt đầu. Tôi gửi xe, nhắn cho mẹ rồi đi bộ vào trong sảnh tòa nhà.
Mặt trời rải những tia sáng đỏ ối lên những hàng cột đều tăm tắp, đỡ lấy phần mái hiên bề thế. Tôi luôn có ấn tượng mạnh mẽ với những sản phẩm kiến trúc Đông Dương còn sót lại từ thời thuộc địa. Mỗi tòa nhà như này đều là một chứng nhân lịch sử cho những gì con người ở trên mảnh đất này đã đi qua. Dù cho những tòa kiến trúc như này có sụp đổ thì lịch sử sẽ mãi còn đó.
Bước lên những bậc thang rộng dẫn lên sảnh, tôi được dịp quan sát kỹ hơn một chút. Mặt đứng tòa nhà kết hợp hai tông màu chủ đạo: vàng kem và trắng. Tầng dưới có các vòm cửa cao và thoáng, trong khi tầng trên sử dụng cửa sổ lớn hình chữ nhật với ban công sắt trang trí. Những đường phào chỉ, phù điêu và hoa văn cổ điển chạy dọc theo mái, xuống các thức cột và cả thân tường. Mặc dù thiết kế theo dạng kiến trúc tân cổ điển châu Âu, các kiến trúc sư thời đó đã thay đổi kết cấu cho phù hợp với khí hậu nhiệt đới gió mùa. Đặc biệt, thực vật bao quanh tòa nhà đều là những loài cọ và cây nhiệt đới. Có lẽ chính những chi tiết tiểu dị đấy mới làm nên cái khác biệt của kiểu kiến trúc Đông Dương chăng?
Nghĩ đến điều này, tôi chợt nhớ về Khôi Nguyên. Nếu giờ chúng tôi vẫn còn liên lạc, hẳn cậu ấy sẽ rất vui lòng thảo luận với tôi sâu hơn về vấn đề này, dù sao đây cũng là chuyên ngành của cậu ấy. Nhưng dù không có cậu ấy, tôi vẫn có thể trao đổi với người khác trong một buổi trò chuyện ngẫu nhiên nào đó. Khôi Nguyên không quan trọng đến thế, tôi nhủ thầm. Cậu ấy không cần thiết với tôi đến thế.
Đã tự ám thị tới vậy, thế mà khi ánh nhìn lỡ bắt gặp bóng hình chưa từng mờ phai trong trí nhớ, tôi vẫn bất giác lùi lại một chút.
Vừa nhắc Tào Tháo, Tào Tháo liền đến. Tôi không ngờ mình lại bắt gặp Khôi Nguyên đột ngột tại đây. Ngay khi biết mình không nhìn nhầm, tôi muốn lùi thật nhanh ra khỏi vị trí có cơ may bị cậu phát hiện. Lấy chiếc mũ nồi lưỡi trai ra, tôi nhanh chóng đội nó lên, giấu kín phần tóc dài phía sau và che chắn một phần gương mặt.
May mắn, lúc này trời đã nhập nhoạng, lại sắp tới giờ biểu diễn nên người tới lui sảnh nhà hát cũng nhiều hơn. Trong tình huống này, Khôi Nguyên sẽ chẳng bất thần mà nhận ra tôi, nên tôi đã quan sát cậu ấy kỹ hơn một chút.
Cậu vẫn thế, vẫn là cái ngoại hình nổi trội mà chỉ cần ai liếc nhìn cũng phát hiện giữa đám đông. Vẫn mang cái vẻ bình tĩnh mà thảnh thơi chẳng ăn nhập với những hối hả xung quanh. Ánh mắt cậu vẫn chỉ hướng đến những thứ khiến cậu để tâm, ở đây là những thức cột chạy dọc mặt tiền Nhà hát Lớn.
Cậu vẫn thế, nhưng cậu cũng đã khác. Khi cậu mở lời mà trò chuyện với người đồng nghiệp (tôi đoán là cấp trên của cậu) bên cạnh, khi cậu bật cười về – vẫn là tôi đoán – một trò ví von nào đó của anh chàng cấp trên kia, nghiêng khẽ cái đầu khi đáp lại, một cử chỉ khéo léo và tao nhã đến không ngờ, tôi thảng thốt phát hiện đây chính là phần khuyết thiếu mà tôi đã để lỡ trong năm năm ấy. Thời gian vẫn chảy trôi trên cậu trong khi dường như nó đã dừng lại nơi tôi. Chẳng xê dịch nửa bước.
Chỉ trong giây lát đó, tôi chợt ý thức được rằng mình đã nhìn cậu lâu hơn thời gian tôi tự đặt ra cho bản thân. Nhưng tôi vẫn muốn tiếp tục neo ánh mắt lại đó, lẫn trong đám đông dập dìu ở sảnh nhà hát, giấu gương mặt mình trong chiếc mũ che đủ để cậu không nhận ra tôi, chỉ ở đó và tiếp tục quan sát cậu. Tôi muốn vậy, nên tôi đã ngầm tắt chiếc đồng hồ tâm trí đi.
Cậu rút chiếc máy tính bảng và bút để tốc ký trong khi vẫn trò chuyện với đồng nghiệp. Có vẻ như mục đích khi đến đây của tôi và cậu không giống nhau. Chúng tôi đã và sẽ luôn đi trên hai bước đường khác biệt. Dù vậy, từng một thời tôi lầm tưởng rằng chúng ta giống nhau, đều là hai số nguyên tố sống trong những thế giới tách biệt với những người còn lại. Tôi hồi mười bảy luôn neo cái suy nghĩ rằng mình khác biệt với (và thậm chí là ngông cuồng hơn, đặc biệt hơn) bạn bè đồng trang lứa bởi cuộc sống của tôi khác họ. Tôi từng muốn sống một cuộc sống "giống như những đứa trẻ khác" và chuyển vào ký túc xá, kết bạn với những người khác tôi và nghĩ rằng dù bước đường có khác nhau thì những mối quan hệ đã gắn kết sẽ còn đó. Mãi ở đó.
Năm ấy, dường như tôi đã quá lý tưởng và tự tin về tương lai.
Thêm một lúc nữa, cậu và người đồng nghiệp đã di chuyển ra chỗ khác, có vẻ đang nghiên cứu cảnh quan bên ngoài nhà hát. Tôi phân vân giữa việc nên đi theo hay để bóng hình cậu lại ở đó thì chợt nghe điện thoại rung lên. Mẹ đã gọi tới. Tôi vừa nhấn vào nút xanh vừa trông cậu ngược dòng người đi xuống bậc thềm.
"Vâng, mẹ ạ."
“Mẹ đến nơi rồi, đang di chuyển vào chỗ ngồi. Con tới chưa?”
“Con tới rồi, đang ở ngoài sảnh. Con vào ngay đây.”
"Ừ, nhớ chỗ ngồi chưa?"
"Con nhớ rồi."
Tôi cười khẽ rồi cúp máy. Ngoảnh lại, cậu đã biến mất khỏi tầm mắt tôi, như những người xa lạ bước qua nhau. Vậy là đủ, tôi thầm nghĩ khi bỏ điện thoại vào túi áo. Được tận mắt thấy cậu sống động trong một buổi chiều đầu đông như này, lướt qua thôi cũng đã đủ. Phần nhiều hơn, giữa tôi và cậu ấy, thực sự không cần thiết.
Xoay người, tôi bật lại chiếc đồng hồ kia và rảo bước vào trong.