Làng Hoàng Mai.
“Bà con ơi, quan tới rồi kìa!”
“Cái chi? Quan chiêu quân tới làng mình rồi ư?”
“Trời ơi là trời! Nhà tôi có mỗi đứa con trai độc nhất, tòng quân khác nào bắt nó đi chết. Ông trời ơi là ông trời!”
“Bà khoan hả kêu trời, biết đâu con bà không có võ hồn thì không cần tòng quân đâu.”
“Bà nói thiệt hả bà Thơ?”
“Thiệt, nhưng chờ quan tới kiểm tra thì mới biết được à nha.”
“Thế thì tốt quá rồi, con tôi không có võ hồn gì đó đâu.”
“Nói miệng sao được, kiểm tra mới biết chớ.”
Làng Hoàng Mai là một ngôi làng hẻo lánh, lưng tựa núi, mặt tựa sông, người trong làng chủ yếu sinh sống bằng nghề nông, không thường tiếp xúc với các thành trấn đông đúc, thông tin eo hẹp, ấy vậy mà tin chiêu quân đã lan tới tận đây, có thể thấy tình hình chiến tranh đang cam go tới chừng nào.
Nơi cuối làng, trong một căn nhà trúc rách nát, một thiếu niên ngồi co ro trong xó bếp. Cậu cầm trong tay một viên đá trong suốt, nhìn kỹ có thể thấy nó đang tỏa ra ánh sáng nhàn nhạt. Mặt cậu xanh như chàm, cặp mắt láo liên, tưởng như ngay giây sau sẽ có quan binh xông vào ép cậu đi tòng quân vậy.
Viên đá trên tay thiếu niên gọi là linh thạch dùng để kiểm tra võ hồn. Cậu đã phải tốn trăm phương nghìn kế mới mua được thứ này. Nghe nói người có võ hồn thì có thể luyện võ, tay không đập nát đá là chuyện hết sức bình thường. Trước kia cậu cũng ước ao mình có được năng lực đó, thế nhưng khi đạt được ước nguyện thì tin tức tòng quân cũng truyền tới. Cậu đã nghe ngóng được một ít tin tức từ người trên trấn, những ai đi lính, mười người thì tất thảy mười người chết trên chiến trường, thậm chí không tìm thấy xác. Cậu còn mẹ già cần chăm sóc, cậu chết cũng chẳng sao nhưng chết rồi thì ai chăm sóc cho mẹ đây.
Ngoài cửa vọng tới tiếng bước chân, cậu cắn môi, đỏ mắt nhìn ra ngoài thông qua khe cửa. Binh lính mặc áo quan, tay cầm thương giáo đang gõ cửa từng nhà một. Quả nhiên họ đã tới, cậu sắp bị họ bắt đi tòng quân. Phải làm sao đây?
“Nè nhóc, tôi có thể giúp cậu vượt qua tình cảnh rắc rối này. Cậu có tin tôi không?”
“Ai… ai vậy?”
Tuy trong lòng cực kỳ kinh hãi nhưng thiếu niên không dám lớn tiếng, chỉ nhìn dáo dác khắp nơi tìm kiếm kẻ vừa nói chuyện, nhưng rõ ràng gian nhà bếp trống trải chẳng còn bóng dáng ai khác ngoài cậu ta.
“Không có thời gian giải thích nữa đâu, cậu cứ mở cửa ra ngoài trước đi.”
Thiếu niên chần chừ đáp:
“Nhưng ra ngoài không phải sẽ bị binh lính bắt đi tòng quân sao?”
“Vậy cậu cứ trốn ở đây cả đời đi, tôi đi trước.”
“Khoan, ngài đừng đi vội.” Rất nhiều suy nghĩ hỗn loạn lướt qua cái đầu nhỏ rối bù của thiếu niên. Quả thật cậu không còn lựa chọn nào khác, nhưng trước sau gì cũng chết, cậu cần phải xác nhận một chuyện đã:
“Ngài là thần tiên hay là ma quỷ thế?”
Rất lâu sau vẫn không nghe được tiếng đáp lại, đến mức thiếu niên cho là mình lo lắng quá mức nên đâm ra ảo giác. Bỗng dưng có thứ gì đó rơi trúng đầu cậu. Cậu xoa đầu, nhìn xuống chân thì phát hiện đó là một thỏi vàng. Cậu kích động nói:
“Ngài đã có bản lãnh tay không biến ra vàng thì dù là tiên hay ma tôi cũng tin ngài. Xin ngài hãy giúp tôi vượt qua tai nạn lần này, ngoại trừ mạng tôi ra thì ngài muốn gì tôi cũng xin đáp ứng.”
“Dài dòng quá, binh lính đang đứng trước cửa rồi kìa, mau ra thôi.”
Thiếu niên bật dậy, mặt mày sáng sủa, nào còn bộ dạng sống dở chết dở như vừa rồi? Cậu nắm chốt cửa, một giây sau lại buông xuống, nói với không khí trước mặt rằng:
“Tôi tên Nguyễn Bình An, ngài đang ở đâu thế?”
“Tôi luôn ở bên cạnh cậu, cứ yên tâm đi.”
Nhìn theo bóng lưng thiếu niên tên Nguyễn Bình An, tâm trạng Phạm Lịch cực kỳ phức tạp. Sau khi thoát khỏi khoảng không gian vô định kia, linh hồn hắn rơi xuống ngọn núi phía sau ngôi làng này, đến nay đã được mười năm rồi.
Linh hồn của Trần Đào chứa nhiều thứ hơn những gì hắn tưởng, dẫu sao ký ức suốt nghìn vạn năm tuổi thọ của gã cũng rất khổng lồ nên phải mất bảy năm hắn mới tiêu hóa hết được, song đó chỉ những vùng ký ức chứa thông tin quan trọng chứ chưa nói đến ti tỉ thứ linh tinh vụn vặt khác. Theo đuổi con đường trường sinh là một điều vô cùng truân chiên. Người muốn tu tiên trước hết cần phải có thiên phú, sau mới xét đến ngộ tính và cơ duyên. Tiên đạo chú trọng cơ duyên hơn hết thảy, kẻ đạt được cơ duyên có thể đi nhanh gấp mười lần kẻ chỉ cắm đầu vào tu luyện. Nhưng cũng không phải cứ muốn cắm đầu vào tu luyện là được. Có những giai đoạn bắt buộc người tu đạo cần phải vượt qua để tiến đến một vùng trời cao hơn. Trong đó tám giai đoạn chính là Luyện Khí, Trúc Cơ, Kim Đan, Nguyên Anh, Hóa Thần, Xuất Khiếu, Hợp Thể, Đại Thừa. Mỗi giai đoạn lại được chia nhỏ thành ba cấp: sơ, trung và cao, riêng Luyện Khí có tới mười, gọi là mười tầng Luyện Khí, vô cùng phức tạp và ảo diệu.
Ba năm còn lại hắn dành hết cho việc nghiên cứu bản tâm pháp Vạn Mộc Quy Tâm. Lời nói trước khi chết của Trần Đào không hoàn toàn là gian dối. Ký ức của gã quả thật có nhắc tới bản tâm pháp này, sau khi xác nhận kỹ càng hắn đã có thể yên tâm tu luyện. Điều trùng hợp là bản tâm pháp này cũng có tám tầng. Sau ba năm không ngừng nỗ lực hấp thu Mộc khí trong núi, hắn đã thành công đặt bước chân đầu tiên vào tiên đạo, chạm đến tầng thứ nhất của giai đoạn Luyện Khí.
Phạm Lịch đã ra khỏi làng để tìm hiểu tin tức về thế giới này, nhưng hắn không dám đi quá xa. Từng trải nghiệm sức mạnh không thể chống cự của Trần Đào, hắn không dám có bất cứ sơ xuất nào, huống gì bản thân vẫn còn ở trạng thái linh hồn yếu ớt. Sau nhiều lần nghe ngóng ở các quán trà, hắn biết được mình đang ở nước Châu An. Người ở đây không có linh căn, nhưng lại có một thứ tương tự gọi là võ hồn. Võ hồn giúp hấp thu linh khí trực tiếp vào da thịt gân cốt, giúp thân thể trở nên cường tráng, khỏe mạnh hơn, nếu tích tụ lâu dài, linh khí hội tụ vào đan điền sẽ sinh ra nội công, tuy không thể phá núi dời biển như người tu tiên, nhưng lấy một địch trăm là chuyện trong tầm tay.
Những tin tức cơ bản đó không thể khiến Phạm Lịch thỏa mãn được, hắn cần phải nhanh chóng tìm ra cách tái tạo lại thân thể. Ở trạng thái linh hồn có rất nhiều điều bất tiện, hắn sợ gặp phải đạo sĩ hay đại sư trừ tà như trong phim thì nguy to. Mấy ngày nay hắn tình cờ nghe được tin tức chiêu quân bèn nghĩ ra kế giả ma giả quỷ lừa con nít. Hắn đã quan sát cậu bé tên Bình An này được một thời gian, người hơi khù khờ nhưng rất hiếu thảo, hắn rất hài lòng với kết quả quan sát được nên không hề có ý định cân nhắc chọn người khác.
Quan phủ yêu cầu thanh thiếu niên từ mười lăm đến ba mươi phải tiến hành kiểm tra võ hồn. Dụng cụ kiểm tra là một viên linh thạch lớn bằng nắm tay, gấp năm lần viên linh thạch của Bình An. Làng Hoàng Mai không tới hai trăm nhân khẩu. Hơn ba mươi người gồm đàn ông, trai tráng và thiếu niên tập trung trước sân nhà trưởng làng, trong đó có Bình An.
Người đứng đầu toán binh là một thanh niên mặt nhọn, không mặc y phục quan như các binh lính khác. Gã ăn mặc y như con công, áo quần lòe loẹt được cắt may từ tơ lụa thượng hạng, trên cổ đeo tận ba sợi dây chuyền vàng, hông treo hai miếng ngọc bội to bản. Khi thấy mọi người đã tập trung đông đủ, gã quát:
“Yên lặng, yên lặng nào, từng người một bước lên đặt tay vào linh thạch. Lẹ lẹ cái chân lên!”
Người làng Hoàng Mai bị gã quát cho tái mặt, họ có bao giờ được tiếp xúc với người của quan bao giờ đâu. Trong làng có kiện tụng cũng chỉ kêu trưởng làng phán xử, nhắc đến quan là y như rằng tâm lý của người dân trở nên hoang mang sợ sệt ngay.
Phạm Lịch thấy mặt Bình An đã tái mét, hai chân run lẩy bẩy, buột miệng nói:
“Sao mà nhát như cáy thế? Không thấy mẹ cậu vẫn bình tĩnh à?”
Bình An nhìn mẹ, thấy bà đứng lẫn trong đám người, khi phát hiện cậu nhìn sang còn cười cười trấn an, có vẻ thật sự không lo lắng. Bà có một lòng tin sắt đá rằng ai có võ hồn chứ thằng con khờ của bà chắc chắn không. Nghe nói võ hồn gì đó rất hiếm, chỉ người tài giỏi và bản lĩnh mới có được, cho nên nó càng không thể xuất hiện trên người con bà, chẳng việc chi phải lo sốt vó.
Màn kiểm tra võ hồn diễn ra vô cùng nhanh chóng, mới đó mà sắp đến lượt Bình An rồi. Trước đó đã có một người kiểm tra có võ hồn, đó là anh Sơn ở đầu làng, không cha không mẹ không vợ con. Biết chắc phải tòng quân nhưng trên mặt anh chàng vẫn bình tĩnh, thậm chí còn có vẻ thỏa mãn.
Bình An là người cuối cùng, cậu run rẩy bước lên đặt tay vào linh thạch, dù đã biết trước kết quả nhưng vẫn không tránh khỏi hồi hộp. Viên đá dưới lòng bàn tay cậu phát ra một chùm sáng dịu nhẹ, không lộng lẫy nhưng lại cực kỳ bắt mắt. Thanh niên mặt nhọn đứng gần đó nên nhìn thấy rất rõ ràng. Gã trợn mắt, chỉ vào Bình An, mấp máy một hồi mới thốt ra được vài câu:
“Võ hồn thượng đẳng, ở cái chỗ khỉ ho cò gáy này vậy mà lại xuất hiện người có tư chất bậc này. Tốt, rất tốt, lần này thu hoạch lớn rồi!”
Bình An hoang mang nhìn xung quanh. Cậu hoàn toàn không hiểu thanh niên mặt nhọn nói vậy là ý gì. Mẹ cậu đã sớm ngã lăn dưới đất, được mấy hàng xóm xung quanh đỡ dậy. Mặt bà tái xanh, như không thể tin vào tai vào mắt mình. Song, câu nói tiếp theo của thanh niên mặt nhọn mới thật sự khiến mọi người bùng nổ.
“Được rồi, ba mươi người các ngươi theo ta trở về. Kẻ không có võ hồn phải tòng quân ba năm.” Đoạn, gã nhìn Bình An và và anh Sơn nói: “Hai người rất may mắn, được vào bang hội Trấn Hổ của ta xem như kiếp trước đã tích nhiều phước đức.”
Dân làng nghe xong thì ngớ ra, một lúc sau mới tỉnh lại. Họ châu đầu bàn tán rùm beng, trưởng làng thấy vậy nên chủ động đứng ra hỏi chuyện:
“Thưa cậu, không phải chỉ người có võ hồn mới bị bắt đi tòng quân sao ạ?”
Thanh niên mặt nhọn không phải người kiên nhẫn. Gã nhìn mặt trời đã treo trên đỉnh ngọn cây, qua loa nói:
“Ai nói người có võ hồn mới phải tòng quân? Tất cả trai tráng đủ tuổi đều phải đi hết! Còn những người có võ hồn sẽ được vào bang hội Trấn Hổ của chúng ta làm đệ tử, sau này sẽ có tiền đồ vô hạn. Làng của các ngươi may mắn lắm mới được hai tên có võ hồn đấy.”
Có vài người nói xen vào:
“Vậy, vậy sao được! Chồng tôi đi tòng quân rồi còn về được nữa sao? Trời ơi, con tôi chỉ mới lên ba thôi.”
“Cái gì? Con tôi không có võ hồn kia mà. Cho nó về nhà đi, đừng bắt nó đi chết, nó còn nhỏ lắm!”
Âm thanh gào khóc ngày càng lớn, ngày càng có nhiều người đòi trả chồng con về cho họ, cứ như nếu thật sự ra khỏi phạm vi làng Hoàng Mai thì chồng con họ sẽ một đi không trở về vậy. Ba mươi thanh niên vừa kiểm tra không có võ hồn thì hai mặt nhìn nhau, thấy người nhà khóc lóc khổ sở họ cũng nóng ruột.
Lần đầu tiên thanh niên mặt nhọn gặp phải tình cảnh này, thoạt đầu gã hơi sửng sốt nhưng bình tĩnh lại rất nhanh. Gã ra hiệu cho nhóm binh lính. Các binh lính nghiêm mặt, dộng thẳng cáng thương xuống đất phát ra một tiếng huỳnh rất lớn. Dân làng lập tức im phăng phắc.
“Ta nói cho các ngươi hay. Có không bằng lòng điều chi thì cứ lên quan huyện mà trình bày. Ta chỉ làm theo lệnh, nếu ai cố tình chống đối thì đừng trách sao ta lại sử dụng bạo lực trấn áp.”
Nghe đến quan là dân làng bình tĩnh lại ngay. Bình An cố gắng trấn an mẹ mình bằng ánh mắt. Sau khi nghe tin con mình phải vào bang hội Trấn Hổ thay vì đi tòng quân thì bà như được sống dậy. Chỉ cần không phải ra chiến trường thì vẫn còn cơ hội sống sót, bà tin là vậy.
“Bình An à, bình thường trông cậu khờ khạo thế mà không ngờ cũng có võ hồn đấy.”
Thái độ của anh Sơn từ đầu đến giờ vẫn luôn rất thong dong. Anh ta chỉ có một thân một mình nên chẳng phải bận tâm điều chi. Anh ta làm việc ở trên trấn, rất ít khi về làng, tình cảm với bà con trong làng không mặn không nhạt. Dù vậy, Bình An là một tên khờ vô dụng thì anh ta có biết. Cậu nhóc này còn nổi tiếng đến tận nơi anh ta làm việc, nên anh ta có hơi ngoài ý muốn khi biết cậu có võ hồn.
Bình luận
Chưa có bình luận