Chương 2. Thành phố không đêm ngày.


Thành phố này rất đặc biệt, thành phố này không có đêm cũng chẳng có ngày. Người trong thành phố không biết ngủ, mỗi đêm người cũng như ma lởn vởn khắp nơi. Mỗi người đến đây đều mang trong mình một quyết tâm ngấm ngầm nào đó. Kẻ muốn tiền của, giàu sang, người muốn được yêu, tìm được một chốn quay về. 

Người đi ngoài phố có nhiều gương mặt, một với bạn bè, một với đồng nghiệp, một với người họ ghét, một với bản thân.

Thụy Vũ nắm áo cậu trai đi qua đám người như những cái xác vô hồn ấy. Ban đầu bị Thụy Vũ bắt đi, Huân Phong còn vùng vẫy muốn thoát ra, nhưng khi đi ngang qua phố, cảnh tượng ở đây khiến cậu ta không nói được câu nào.

Mỗi một người có phần hồn và phần xác. Thân xác và linh hồn tuy hai mà một, có những người thân xác đẹp đẽ như hoa, phần hồn cũng lộng lẫy ánh sáng, nhưng người ở khu này lại toát một mùi hôi thối nặng nề, bên ngoài sạch sẽ thơm tho nhưng trong lòng đã mục ruỗng từ lâu. Sự tuyệt vọng từ họ khiến cậu không thể thở được. Thành ra Thụy Vũ kéo cậu đi đâu, cậu đi đấy, chỉ mong thoát khỏi khu phố này càng sớm càng tốt.

Thụy Vũ bước ngang qua họ, ánh đèn sáng rực chiếu xuyên qua tán ô tạo thành một vệt đỏ lờ mờ trên đường đi.

“Bà giết mụ!”

Thụy Vũ liếc nhìn cậu, trần thuật một câu chuyện như thể bà không phải người tham gia trong đó: 

“Ta không giết mụ, đó là cái giá mụ phải trả khi gọi ta ra.”

“Cái giá?” Huân Phong lẩm bẩm, lúc này cậu ta đã bình tĩnh hơn. 

Gió đêm thổi bay tóc bù xù của Huân Phong, để lộ một gương mặt đầy bụi bặm. Cậu ta chưa tròn mười tám, nét trẻ con vẫn còn trên gương mặt có phần khắc khổ, nhưng đôi mắt lại rất sáng, trong đó chứa đầy những suy nghĩ quá tuổi và chịu đựng ngấm ngầm. Thụy Vũ đã gặp qua nhiều người, vốn dĩ bà không còn hứng thú tìm hiểu ai nữa, nhưng ở tuổi này của Huân Phong mà cậu ta có thể bình tĩnh ngay sau khi nhìn thấy bà giết chóc, lại có thể suy tính hành động để có lợi nhất cho bản thân, quả là trước giờ hiếm có. Bởi vậy bà mới nói thêm vài câu với cậu: 

“Ngươi đáng lý phải chết nhưng lại không chết, trốn chui trốn lủi trong nhà đấy ngần ấy năm. Ta cứu vớt ngươi, vậy mà ngươi lại buộc tội ta?” 

Thụy Vũ là linh thần, cũng là sự tồn tại cả gia đình ấy e sợ. Trong giới luật, muốn triệu hồi một linh thần thì phải trả giá, nhưng Huân Phong chỉ biết đến những cái giá rất nhỏ, chưa bao giờ thấy ai mất mạng cả. Cậu hận nhà ấy, muốn cả nhà ấy chết đi, nhưng đối diện với cảnh máu me như vậy, Huân Phong vẫn cảm thấy không đành lòng.

“Tôi chỉ…” 

“Sự lương thiện của ngươi cứu vớt ngươi. Nếu mụ ta không chết, người chết sẽ là ngươi. Còn lát nữa đến nơi đấy, ngươi phải tự cứu lấy mình.”

Huân Phong không nói gì, cậu không biết Thụy Vũ đưa mình đi đâu, nhưng sâu đâu đó nói với cậu rằng nơi ấy chẳng phải tốt lành gì. Cậu không quên lời người đàn bà kia đã ước với Thụy Vũ, đó là mang cậu đến một nơi để cậu không bao giờ làm hại được con bà ta. Nơi nào đủ quyền phép để ngăn cậu không tìm đến đứa trẻ ấy nữa? Có vẻ cũng không nhiều. 

Xuyên nhanh qua thành phố không đêm ngày, qua rất nhiều con ngách nhỏ không đủ hai người đi, ngoằn ngoèo quanh co đến hoa mắt như sợ người ta nhớ được đường về, cuối cùng họ cũng đến nơi cần đến. 

Cuối con hẻm sâu hun hút tối om, có một ánh sáng yếu ớt hắt ra.

Từ xa nhìn lại, ánh đèn ấy chiếu từ một bảng hiệu cũ bụi bặm, dơ hầy. Ánh sáng không phải màu vàng sẫm thường thấy mà chủ của nó lại chọn màu đỏ để làm nổi bật bảng hiệu kỳ dị, trên đó có một con số như viết bằng máu thật, số “bốn mươi bốn”.  

Số bốn trong quan niệm phương đông là số tử, số xấu, mà người chủ còn lấy số ấy để đặt tên cho cửa tiệm này. 

Ở nơi khác thường, gặp những chuyện lạ là điềm gở, vì vậy Huân Phong quan sát kỹ nơi này hơn. 

Đây hình như đây là một quán lề đường. Quán ở nơi vắng tanh, lúc hai người bay đến đây, cậu thấy xung quanh mấy chục mét không có nhà dân, chỉ toàn những công trường, cửa hàng cũ, đất hoang, thậm chí còn có một nghĩa trang nhỏ. Tất cả những nơi ấy đều có một điểm chung là hoang vắng, không người. Huân Phong không nghĩ ra được có ai lại đến nơi khỉ ho cò gáy này để mở tiệm kinh doanh. 

Đến gần trước cửa, cậu mới thấy rõ toàn bộ cấu trúc của quán ăn. 

Đây là một ngôi nhà nhỏ, rất nhỏ, làm bằng gỗ, có hai tầng, tầng dưới khá lớn, tầng trên như một căn gác lửng. Biển hiệu to quá khổ gần như che mất cửa sổ của tầng trên, làm cậu có cảm giác tầng gác sinh ra chỉ để treo đúng biển hiệu chứ không còn tác dụng gì khác, bởi người nào muốn đi lại cũng sẽ phải khom lưng uốn gối mới di chuyển trong tầng trên được. 

Tòa nhà không hợp với thời hiện đại, hay phải nói rằng trong đời Huân Phong chưa bao giờ gặp một ngôi nhà nào vừa cũ vừa cổ xưa, không mang chút phong cách hiện đại nào như vậy. Đã thế nó còn ở nơi mà cậu chưa từng đặt chân đến bao giờ. Ánh đèn màu đỏ hắt ra tạo đủ hình thù kỳ lạ như những sinh vật sống bám lấy chân cậu, khi Huân Phong rùng mình rụt chân, tất cả lại trở về bình thường. 

Huân Phong không thích những nơi cậu không thể đoán trước chuyện gì sẽ xảy ra nên không muốn vào chút nào, nhưng Thụy Vũ đã đưa tay gõ cửa. Ánh sáng đỏ trong mắt cậu càng lúc càng lan ra, cái suy tính mình có bao nhiêu phần trăm đánh thắng được một linh thần lướt qua đầu Huân Phong. Sau đó, cậu phải thừa nhận tạm thời mình không đánh lại được Thụy Vũ. Không chỉ Thụy Vũ, Huân Phong cũng chẳng thể làm xây xước ngay cả một linh thần yếu nhất. Vì vậy, cậu trầm lặng hẳn, đăm đăm theo sau Thụy Vũ như một bóng ma.  

Từ lúc gõ cửa, thái độ của Thụy Vũ thay đổi hẳn. Bà ta không còn vẻ cao quý không xem ai ra gì mà gõ rất nhẹ nhàng, như sợ làm phiền người bên trong.

Ba tiếng gõ, cửa mở ra. Huân Phong theo Thụy Vũ đi vào tiệm, chưa vào đến bên trong đã ngửi thấy mùi hương mì thơm lừng. Đó là một mùi hương rất kì lạ, vừa thơm tho vừa ngon lành, đủ để người ta chảy nước miếng.

Trong cửa tiệm chỉ có vài bộ bàn ghế đơn sơ. Thụy Vũ nhìn thoáng một lượt rồi thì thầm:

“Thì ra đang có khách.”

Cửa tiệm ở nơi khỉ ho cò gáy, bên ngoài lại rách rưới tồi tàn, giao thông chẳng mấy thuận tiện mà cũng có khách ăn, vậy có lẽ nó thật sự ngon đủ để người ta lặn lội đường xa đến đây. Người khách ngồi ăn giữa cửa tiệm, đó là một người phụ nữ mập mạp mặc đồ công sở. Bà ta ăn vận sang trọng, túi xách phiên bản giới hạn đặt trên ghế cạnh bên. Bà ta cắm cúi ăn, đến mức nước mì bắn lên bàn cũng không buồn để ý. Đáng lẽ người có tiền thì không ham của ngon vật lạ, hoặc sẽ không có tướng ăn thế này.

Huân Phong đánh giá bà ta một lúc rồi quay đi. Việc nhìn người khác chằm chằm là không phải phép.

Thụy Vũ không thể hiện thái độ gì, chỉ đứng chờ đợi, không dám ngồi xuống.

Huân Phong nhìn thì giống người tự do hoạt động, nhưng chỉ cậu mới biết chân cậu nặng như chì không thể nhấc lên một bước. Thụy Vũ đứng đâu, cậu chỉ có thể đứng đó chờ.

Bà khách không nói gì, chỉ húp sụp soạt cho xong tô mì rồi đứng dậy bỏ lên bàn tờ tiền một trăm ngàn. Bà ta hất mặt: 

“Khỏi thối.”

Một khách hàng chi sộp, tô mì có đắt đến đâu cũng không thể quá một trăm ngàn, xem ra đêm nay chủ cửa hàng hốt bội đây. Người đàn bà lèm bèm:

“Quán gì dở tệ, ăn phí tiền. Chủ thì chửi khách, nhân viên thì thái độ…”

Huân Phong nhìn người đàn bà đi ngang qua hai người họ, nhưng bà ta không buồn liếc mắt. Mùi nước hoa trên cơ thể phốp pháp xộc vào mũi khiến Huân Phong suýt không thở được. Người đàn bà ra ngoài, cửa tự động mở ra, rồi tự khép lại.

Huân Phong nhìn lại bàn, không biết nhân viên phục vụ đâu mà chưa dọn dẹp. Nhưng khi vừa nhìn đến chỗ bà ta đã ngồi, cậu thấy trên ghế đọng một vũng nước đen không rõ từ đâu. Thứ nước ấy dần bay lên rồi uốn éo như làn khói tản ra. Tô mì bà ta đã ăn cũng tự động biến mất, cả cửa hàng lại yên tĩnh như thể chưa có khách nào.

“Bà ta sẽ còn quay lại.” Thụy Vũ bỗng nói một câu như vậy. 

Huân Phong thì lại nghĩ khác, cậu nhớ đến mấy câu bà khách nói khi đi ra, có vẻ bà ta không hài lòng chút nào. Chẳng ai muốn đến một quán ăn có thái độ phục vụ không tốt cả, nhưng cậu không nói ra điều này. Huân Phong không quen biết gì Thụy Vũ, cũng không có nghĩa vụ phải đáp lời vị linh thần này.

Đèn trong tiệm đổi màu xanh nhạt, chủ quán có vẻ là người không thích ánh sáng chói chang, trong tiệm chọn những màu mà người thường không chọn bao giờ. Nếu người phụ nữ khi nãy không phải người, Huân Phong sẽ ngỡ đây là nơi dành cho ma quỷ đến. Nhưng bà ta là người, thật sự là một con người bình thường, nên cậu cũng yên tâm phần nào. Miễn đó là con người, thì cậu còn có cơ hội rời khỏi đây.

Thụy Vũ lặng lẽ vỗ tay, chiếc ô đỏ bay ngang người thu lại. Đây là lần thứ hai bà ta cất ô trong hôm nay. Huân Phong nhớ lần đầu tiên bà ta cất ô, kết quả nước mưa phủ xuống giết chết người ước nguyện. Lần này thì là gì nữa đây?

Cơn mưa mà Huân Phong dự liệu không rơi xuống như trong tưởng tượng, mà chỉ có tiếng bước chân vang lên.

Tiếng bước chân nọ rất nhỏ, phát ra đều đặn, có lẽ trong phòng quá yên tĩnh nên cậu có thể nghe được tiếng động này. Tiếng chân bước khẽ, nhưng chủ nhân của nó lại mang đến cảm giác vững vàng như thể nắm toàn cục trong lòng bàn tay.

Người nọ đi từ xa đến gần, trong ánh đèn mờ tỏ, một thứ ánh sáng xanh dương trông giống như đom đóm quấn quanh.

Đó là một cô gái bề ngoài còn trẻ, nhưng đôi mắt nâu lại bán đứng tuổi tác thật sự. Đôi mắt sâu thẳm toát vẻ thăng trầm như chất chứa mọi muộn phiền trên thế gian. Nhìn sâu vào đôi mắt ấy, Huân Phong cảm giác như lạc lối, không thể suy nghĩ được điều gì.

Thụy Vũ đứng chờ cô gái ấy đến gần. Trong tiệm có ánh sáng nhưng cô ấy vẫn đốt nến thơm. Mùi hương sen hòa với hương cam đáng lý không ăn nhập gì với nhau nhưng nến đốt lên lại thơm phức, không biết đây là loại nến gì.

“Nhu Nguyện, để cậu ta ở đây.”

Nhu Nguyện? Huân Phong ngờ ngợ. Cái tên có ngôn ngữ của riêng nó. Cái tên được đặt từ khi sinh ra sẽ theo một người cả đời. Có những người chưa bao giờ xuất hiện nhưng tên họ đã được khắc ghi trong giới luật. Và nếu có cái tên nào sở hữu địa vị và quyền lực nhất trong giới luật, vậy đó chính là Nhu Nguyện. 

“Cô ta là Nhu Nguyện?”

Huân Phong suýt thì không kiềm chế được âm lượng của giọng nói. Nhu Nguyện quay lại, hình như chẳng phiền hà gì, hoặc nói đúng hơn – trong đôi mắt của cô ấy chẳng có cảm xúc nào cả.

Huân Phong không ngờ Thụy Vũ đưa cậu đến đây, càng không ngờ mình sẽ gặp được Nhu Nguyện.

Tương truyền rằng tại khu bốn mươi bốn, ngách bốn trăm bốn mươi bốn, tồn tại một tiệm bán mì thần kì. Người đến đấy ăn một tô mì trả một điều ước. Tiệm mì nọ mua ước muốn, bán nguyện vọng, giá cả tùy khách chọn.

Người thực hiện nguyện vọng cũng là chủ quán mì.

Cô ấy tên: “Nhu Nguyện”.



Bình luận

Chưa có bình luận
Preview Settings

Try It Real Time

Layout Type
    • LTR
    • RTL
    • Box
Sidebar Type
Sidebar Icon
Unlimited Color
Light layout
Dark Layout
Mix Layout
}