Ta chờ nhau tại nơi bắt đầu

Chương 99: Chờ người

Mùa đông, gió lạnh tràn về khắp miền Bắc. Thời tiết Mộc Châu cũng không tránh khỏi cảnh rét mướt và khắc nghiệt. Đồi chè xanh xanh ẩn hiện trong sương mù. Những cây chè cao lớn, cành lá vươn dài như muôn cánh tay người nâng đỡ bầu trời xám ngắt. Khung cảnh vừa hùng vĩ vừa thơ mộng, nhưng đâu đó vẫn phảng phất một nỗi buồn khó gọi tên.

Dẫu trời tái tê buốt giá, tôi vẫn có mặt ở đồi chè lúc tờ mờ sáng. Mặc bộ đồ của dân tộc Thái làm từ vải chàm, áo cánh ngắn tay dài, quần dài cạp chun, đầu quấn khăn piêu, tôi bước đi trên con đường đất nhấp nhô sỏi đá, bước chân hơi loạng choạng vì trơn trượt.

Giờ này trên những ngọn cây đã có mấy cô gái lưng đeo gùi, tay thoăn thoắt hái những búp chè xanh non. Họ vừa hái chè vừa cười nói vui vẻ, thỉnh thoảng còn nghêu ngao hát. Sương trắng giăng giăng, núi rừng u buồn tịch mịch bỗng bừng lên sức sống vì giọng ca vui tươi yêu đời của những cô gái trẻ.

“Em hái búp chè xanh xanh, màu xanh rừng Tây Bắc
Giữa mùa hoa ban trắng, em đi xây nông trường,
Hôm nào rừng hoang vu, còn âm u lau lách cỏ dại,
Hôm nay màu hy vọng đã trải xanh trên những đồi chè.” (*)

Tôi vẫy tay chào họ. Một người reo lên:

“Thầy Huy lại đi hái chè à?”

“Dạ. Em tới xin vài đọt lá non.” Tôi vui vẻ đáp.

“Thầy đâu cần vất vả thế! Chúng tôi tặng thầy một bao đầy. Tha hồ về phơi.”

“Em thích tự hái hơn chị ơi.” Tôi cười.

Người dân nơi đây không còn xa lạ gì với tôi nữa. Cứ mỗi đợt thu hoạch trà là tôi thức dậy thật sớm, bất chấp thời tiết lạnh giá, lội bộ từ bản A tới đồi chè, xin phép hái lá chè về phơi khô rồi pha uống. Lưng mang gùi, ngồi trên ngọn cây, hít hà mùi sương sớm, hái những búp chè non luôn gây cho tôi một cảm giác thích thú lạ kỳ. 

Thói quen này theo tôi mấy mùa đông rồi.

Rừng núi bao la, mây mù kín lối. Mỗi lần lên đây, ánh mắt tôi không thể thôi nhìn về khoảng không trước mặt. 

Bao mùa đông trôi qua, rừng xanh thay lá, cây non cũng dần già. Tôi vẫn ở đây, chờ đợi người ta. Dẫu chẳng biết chờ đến bao giờ.

Đã gần năm năm kể từ khi tôi rời miền Nam lên vùng núi cao làm thầy giáo. Nơi tôi giảng dạy nằm ở bản A, một trong những vùng xa xôi hẻo lánh nhất Mộc Châu. Ngoài tôi ra còn có thêm hai thầy cô giáo khác nữa. Ngôi trường của tôi chỉ có ba lớp học xập xệ nằm giữa lưng chừng núi. Cơ sở vật chất thiếu thốn trăm bề. Bàn học cũ kỹ, mặt gỗ trầy xước và ẩm mốc, có chiếc còn chênh vênh vì một chân đã mòn. Bảng đen treo trên tường cũng mục nát gần hết, phấn viết lên không còn rõ chữ. Điện thì lúc có lúc không. Bên ngoài lớp học là núi rừng trùng điệp. Con đường đất dẫn đến trường quanh co, gập ghềnh. Mỗi buổi sáng, học sinh phải đi bộ hàng cây số mới tới lớp. Khi tới nơi thì giày dép, quần áo đã lấm lem bùn đất. Khung cảnh này làm tôi nhớ tới ngôi trường tiểu học ngày xưa của mình, nhưng ở đây còn thô sơ và vất vả hơn gấp nhiều lần.

Gần năm năm miệt mài gieo chữ, dẫu khó khăn chồng chất như những ngọn núi cao ngất ngoài kia, nhưng khi nhìn những nụ cười vô tư hồn nhiên của các em học sinh, tôi lập tức quên đi mọi gian lao khổ cực. 

Người dân nơi đây dần quen mặt và quý mến tôi. Biết tôi thích uống trà Shan tuyết, họ vui vẻ tặng trà cho tôi. Nhưng tôi lại thích tự hái trà, tự phơi khô và pha uống nên mỗi lần tới đợt thu hoạch là tôi không quản đường xa, lội bộ mấy cây số lên đồi trà Shan tuyết, hái những búp trà non khi chúng còn ươm mình trong sương giá.

Thời gian cứ trôi, người ấy chưa bao giờ xuất hiện. Anh như làn sương mù trước mặt, tan biến khỏi cuộc đời tôi không một dấu vết, chẳng một lý do. 

Anh ví tình yêu của chúng tôi là cây trà cổ thụ vững chãi hiên ngang trước dòng chảy của thời gian. Anh nói nước trà dù đắng nhưng sẽ lưu lại vị ngọt. Anh bảo rằng tôi là hiện tại, là tương lai của anh. Vậy mà giờ hiện tại hay tương lai đều mịt mờ hư ảo, chỉ còn quá khứ như những nhát cắt, cứa vào tim vào phổi, vào phần mềm yếu nhất của tâm hồn.

Cây chè vẫn đứng đây, vững vàng trước nắng mưa, nhưng tình yêu của tôi đã như gió như mây bay đi mất hút.

Trong lúc tôi mông lung nghĩ ngợi, từ phía xa, có một người dáng vóc cao lớn mặc áo măng tô đang lững thững đi lên đồi chè. Đất trời tròng trành nghiêng ngả. Tim tôi đập mạnh muốn nhảy khỏi lồng ngực, tay đang cầm nắm trà thả lỏng, lá trà rơi xuống bay lả tả. Tôi vội leo xuống, muốn chạy về phía người đó để nhìn cho thật kỹ. Thời tiết ẩm ướt, giày trơn, vì quá vội nên tôi trượt chân, mất thăng bằng ngã nhào.

Mọi thứ tối sầm trước mắt. Tiếng mọi người lao xao bên tai. Tôi choáng váng mất một lúc mới tỉnh táo trở lại. Khi mở mắt ra, người nọ đã tới gần lúc nào chẳng hay. Và tôi đang nằm trong lòng người đó. Nhịp tim tôi hẫng đi khi nghe tiếng gọi đầy lo lắng:

“Thầy có sao không? Có thấy khó chịu ở đâu không?”

Tôi ngây ra, tưởng chừng như đã hoá đá. Người tôi thương, người tôi hằng mong đợi cuối cùng cũng chẳng xuất hiện, thay vào đó là Hưng, con trai anh. Cậu con trai ngày nào chỉ là một thiếu niên mới lớn giờ đã trưởng thành đến mức suýt nữa tôi không nhận ra. 

Khoảnh khắc nghe giọng nói và nhìn thấy Hưng, trái tim thoi thóp lâu nay của tôi đã chết hẳn. Tôi gắng gượng đứng dậy nhưng lại ngã xuống. Hưng kịp đỡ lấy tôi. Cậu nói:

“Hình như trật chân rồi, để em cõng thầy về.”

Một cô gái dân tộc Thái lên tiếng:

“Thầy Huy về đi, lát nữa tôi mang lá trà sang cho thầy.”

Tôi tiếc nuối nhìn những búp trà mình vừa hái rơi vãi dưới đất. Hưng không nói không rằng cúi xuống nhặt chúng lên bỏ vào gùi cho tôi. Xong xuôi, cậu khom lưng về phía tôi, dịu dàng nói:

“Thầy lên đi.”

Tấm lưng kia, dáng người kia đều thấp thoáng hình ảnh của Hùng, vừa lạ vừa quen. Tôi đứng bất động nhìn vào đó, đôi chân như dính chặt dưới đất. Đến khi Hưng gọi lần thứ hai, tôi mới sực tỉnh, bất đắc dĩ để cho cậu cõng về.

Con đường từ đồi chè tới bản A khá trắc trở. Đất cát ẩm ướt, đá sỏi lổm ngổm. Hoa cải trắng ngập lối về. Hưng vững vàng cõng tôi đi. Chiếc gáy của cậu lấm tấm mồ hôi, dù trời đang lạnh buốt xương. Suốt quãng đường chỉ có sự im lặng. Đầu tôi nặng nề như bị đá đè, trái tim như bị ai xẻ làm hai.

Tới một ngôi nhà sàn, tôi bảo Hưng dừng lại. Cậu cõng tôi vào nhà, để tôi ngồi xuống chiếc giường tre, sau đó nhẹ nhàng cởi giày cho tôi. 

“Để tôi.” Tôi ngăn lại.

Hưng không đáp, chỉ cười rồi tiếp tục việc của mình. Cảm giác đau khiến tôi khẽ rụt chân lại.

“Đau lắm hả thầy?” Hưng lo lắng hỏi.

“Ừm…”

“Thầy nằm xuống nghỉ một lát đi.”

Cú ngã vừa nãy khiến cơ thể tôi rã rời, cộng thêm tâm trạng tuột dốc không phanh, tôi im lặng nằm xuống. Hưng lấy gối kê chân tôi lên cao rồi chạy đi đâu đó. Lát sau cậu quay lại với một chậu nước lạnh và một cái khăn sạch. Cậu nhúng khăn vào nước, vắt khô rồi chườm lên chân cho tôi.

“Tạm thời thầy nghỉ ngơi, hạn chế đi lại. Nếu mai không đỡ thì tìm bác sĩ.”

Suốt ngày hôm đó, Hưng cứ loay hoay chăm sóc tôi. Cơm bưng nước rót tận nơi. Dáng vẻ vừa lạ vừa quen, lòng tôi quặn đau. Những câu hỏi cứ vướng lại nơi cổ họng không thể thốt ra được. Tôi sợ câu trả lời không như ý sẽ làm mình thực sự gục ngã.

Chúng tôi cứ thế, chẳng ai đề cập tới quá khứ. Hưng luôn miệng hỏi tôi về cuộc sống nơi vùng cao này. Tôi từ tốn kể cho cậu nghe những khó khăn vất vả khi dạy học ở một nơi điều kiện vật chất còn nhiều thiếu thốn, nhưng bù lại là được nhìn thấy những nụ cười hồn nhiên vui tươi của các em thơ, được hoà mình vào núi rừng bao la, quên đi những kỷ niệm buồn…

Cho tới hôm nay, Hưng xuất hiện, hồi ức đau đớn tưởng như ngủ sâu lại bị đánh thức.

Biết rằng đêm mùa đông ở vùng núi rất lạnh, nhưng hôm nay chẳng hiểu sao lại lạnh hơn thường ngày rất nhiều. Tôi mơ màng cảm thấy mình mẩy ê ẩm, đầu óc quay cuồng. Cho tới khi một chiếc khăn được đặt lên trán và giọng nói đầy lo lắng của Hưng vang bên tai, tôi mới biết mình lên cơn sốt. 

Lâu rồi tôi không bị bệnh. Vậy mà hôm nay lại sốt cao đến mê man, đã vậy còn nằm mơ. Giấc mơ kéo tôi quay về năm năm trước. Lúc đó, tôi cũng thấy nóng bức như thế này. Không đúng, cái nóng đó còn kinh khủng hơn rất nhiều. Nó không những tàn phá cơ thể mà còn xé trái tim tôi nát bươm. 

Hoảng loạn và đau lòng, tôi đã gieo mình xuống sông. Nước sông lạnh ôm trọn cơ thể, cơn khó chịu dần tan đi nhưng tôi kiệt sức không bơi nổi vào bờ. Tiếng kêu thống thiết của mẹ cứ vang vọng trong đầu. 

Tuyệt vọng.

Khoảnh khắc đó, tôi đã thực sự muốn buông xuôi. Thậm chí tôi còn hả hê nghĩ tới cảnh cha sẽ hối hận vì gây ra cái chết tức tưởi cho con trai mình. Vậy mà cái sự hả hê ấy không tồn tại lâu. Tôi không nỡ để cha bị giày vò và bị người đời chỉ trích. Khi còn sống tôi đã làm cha khổ sở đủ đường, lúc chết rồi chẳng lẽ lại để ông phải sống cả đời trong đau đớn, dằn vặt? Dù cha có bảo thủ, tệ bạc thì ông vẫn là cha tôi. Hơn nữa nếu tôi thực sự đi rồi thì mẹ và các chị sẽ đau lòng biết bao. Còn Hùng nữa, anh có suy sụp khi không còn tôi trên cõi đời này? 

Một lúc lâu sau, có tiếng ai đó nhảy ùm xuống sông, ai đó kéo tôi trồi lên khỏi mặt nước. Ý thức mơ hồ, tôi chỉ nghe loáng thoáng tiếng khóc của mẹ và chị hai rồi dần chìm vào tăm tối.

Chẳng biết đã qua bao lâu, ý thức dần trở lại nhưng tôi không thể mở mắt. Bàn tay tôi được ai đó nắm thật chặt, rồi tiếng của mẹ nghẹn ngào:

“Bác sĩ nói nó đã qua cơn nguy kịch rồi, sẽ tỉnh lại sớm thôi. Con đừng quá lo.”

Bàn tay càng siết chặt hơn. Người đó không nói gì, chỉ vuốt nhẹ mặt tôi. 

Là ai? 

Tôi muốn mở mắt ra để biết ai đang ở bên cạnh, vì mình mà lo lắng nhưng vô ích.

Bóng đêm một lần nữa xâm chiếm lấy tôi. Tới khi tôi hoàn toàn tỉnh táo đã là mùng Sáu.

Mẹ ngồi bên đầu giường, đôi mắt đỏ hoe. Bà vừa nhìn thấy tôi tỉnh lại liền gọi cha vào. Vừa thấy ông, tôi lại nhớ về ngày hôm ấy, lồng ngực đau đớn không thở được. Tôi co người thở dốc. Mẹ hốt hoảng vuốt ngực tôi, nói trong nước mắt:

“Con đừng làm mẹ sợ mà, Huy! Để mẹ gọi bác sĩ!”

Bác sĩ tới, cha lặng lẽ bước ra ngoài. Tôi nằm im cho bác sĩ khám bệnh, cố đè nén cơn đau.

“Bệnh nhân vừa tỉnh lại, không thể chịu được kích động mạnh. Mong người nhà lưu ý.”

Khi bác sĩ rời đi, mẹ ngồi xuống bên tôi, trào nước mắt.

“Cha con hối hận lắm. Con đừng giận ổng.”

Ngày hôm đó quả thực tôi rất giận cha, thất vọng cùng cực. Nhưng giờ tất cả chỉ còn nỗi chua xót. Cha đã thực sự không màng đến sống chết của tôi. Vết thương này chẳng biết đến bao giờ nguôi ngoai.

“Mẹ, con không giận cha. Nhưng tạm thời con muốn được yên tĩnh. Mẹ nói cha về đi.”

Sau khi cha đi rồi, mẹ ở lại chăm sóc tôi thêm một ngày một đêm. Bà kể rằng hôm đó nếu thằng Còi không kịp nhảy xuống cứu thì tôi đã… Mẹ cứ khóc mãi, còn tôi chỉ im lặng. Khi bà ngừng khóc, tôi mới hỏi:

“Mẹ… trong lúc con hôn mê, ngoài người nhà mình ra, có ai tới đây không?”

Mẹ khựng lại một lúc rồi lắc đầu. Tôi thở dài. Vậy mà tôi còn hy vọng người đã nắm tay mình hôm đó là anh. Phải rồi, làm sao có chuyện vô lý như vậy chứ.

Tôi xuất viện về nhà. Cha vẫn giữ thói quen uống trà buổi sáng. Cây mai trước nhà dần tàn. Mùa xuân đã hết. Hình như cha già thêm rồi.

Tôi đến gần cha, cúi mặt nói:

“Thưa cha, hôm nay con đi.”

Cha cầm tách trà, tay run run. Đôi mắt ông đục ngầu, lấp loáng nước. Môi ông mấp máy muốn nói gì đó lại thôi. Cuối cùng ông chỉ trả lời gọn lỏn:

“Ừm.”

Đất trời như đổ sụp dưới chân. Tôi mong cha nói nhiều hơn thế nhưng cuối cùng chẳng còn cuộc đối thoại nào nữa. Có lẽ đến lúc lìa khỏi cuộc đời này ông vẫn không buông bỏ được chấp niệm của mình. Còn tôi, thôi đành phụ lòng cha vậy.

Tôi loạng choạng bước vào nhà, thu dọn hành lý. Chị hai đi theo vào phòng, giúp tôi gấp quần áo cho vào ba lô. 

“Hồi nãy cha có nói gì không?” Chị hai tò mò.

Tôi lắc đầu. 

Chị thở dài.

“Sao cha lại cố chấp vậy chớ? Sau lưng thì lo sốt vó, giờ đối mặt với mày lại giả bộ lạnh lùng. Sao cha cứ thích làm người khác tổn thương vậy hổng biết.”

Sau khi cho hết đồ vào ba lô, chị hai vỗ vai tôi.

“Mày khoẻ thiệt chưa? Hay để mai về?”

Tôi nhìn quanh căn phòng. Chuyện hôm đó vẫn ám ảnh tôi từng giây. Cảm giác buồn bực trỗi dậy, tôi nói:

“Chắc tại ở trong này khó chịu quá.”

Dứt lời, tôi khoác ba lô ra khỏi phòng. Mẹ đứng trước cửa, nói:

“Ăn cơm rồi hãy đi, nha con.”

Mẹ dọn cơm ra với hai món cá rô kho tiêu và canh rau má. Ba cha con anh hai đã về trước, chỉ còn chị hai ở lại với tôi. Hôm nay chị cũng theo tôi lên Sài Gòn. Cha đi đâu đó không rõ. Bữa cơm chỉ có ba mẹ con. Ai nấy đều cúi mặt ăn không nói với nhau một lời. Cái Tết đầu tiên sau bao năm xa quê của tôi kết thúc, một màu ảm đạm bao trùm căn nhà nhỏ.

Vài ngày sau khi trở lại Sài Gòn, tôi quyết định xin lên Tây Bắc làm giáo viên tình nguyện. 

Thời gian trôi qua, tôi dần quen với cuộc sống ở vùng núi cao hẻo lánh và cái lạnh buốt giá ở nơi đây. Cho tới một hôm, mẹ gọi tôi trở về.

Bà nói cha bệnh nặng.

Trước ngày về, tôi đã mơ một cơn ác mộng. Cha bắt tôi thề độc. Ông bắt tôi phải cưới nhỏ Hoa và không được gặp Hùng nữa. Nếu không ông xuống dưới không còn mặt mũi gặp ông bà tổ tiên. Chỉ cần tôi đồng ý, ông sẽ tha thứ mọi lỗi lầm và yên lòng nhắm mắt. Tôi đã gào khóc và đồng ý lời đề nghị của cha.

Một đám cưới rình rang diễn ra sau khi qua qua đời. Tôi choàng tỉnh, mồ hôi lạnh ướt cả áo, thở phào vì đó chỉ là giấc mơ. Nhưng rồi, tôi sợ hãi. Nếu giấc mơ của tôi trở thành sự thật thì sẽ ra sao?

Ngày hôm sau, tôi bay vào trong Nam.

Tôi không về nhà, mà vào thẳng một bệnh viện trên Sài Gòn.

Trong phòng bệnh, cha đang thiêm thiếp ngủ. Mẹ vừa thấy tôi thì hai mắt bỗng nhoè đi.

Thời gian trôi nhanh quá, cha già hơn nhiều so với hồi Tết. Mái đầu bạc phơ rụng gần hết tóc, làn da nhăn nheo đầy vết đồi mồi, tay chân chỉ còn da bọc xương. Mới gần một năm mà cha đã yếu đến độ gió thổi là bay. Mọi giận hờn trước kia của tôi bỗng tan đi như bọt sóng. Cha mở mắt ra khi tôi ngồi xuống cạnh ông. Ông thều thào nói:

“Cha xin lỗi…” 

Lần đầu tiên kể từ lúc sinh ra, tôi nghe được hai tiếng xin lỗi của cha, đôi mắt đầy vết chân chim của ông đục ngầu, vương lệ. 

“Con không trách cha đâu. Chỉ cần cha mạnh khoẻ, ở lại với con.” Tôi nghẹn ngào nắm tay cha.

Ông lắc đầu đáp:

“Cha đã gần đất xa trời rồi, chỉ muốn con giúp cha thực hiện nguyện vọng sau cuối mà thôi.”

Trái tim tôi đập thình thịch nhớ lại giấc mơ lần trước. Bàn tay nắm lấy tay cha vô thức nới lỏng. Ông ho vài cái rồi nói:

“Cha muốn con sống hạnh phúc…”

Tôi cúi mặt, hạnh phúc làm sao được khi cha không còn nữa. Hạnh phúc sao được khi cha cứ cố chấp bắt tôi phải sống theo ý ông.

“Cha không ép con nữa. Con hãy làm những gì mình muốn đi. Không lấy vợ cũng được, yêu đàn ông cũng chẳng sao. Giờ cha như đèn trước gió, cha không muốn gieo đau khổ cho con nữa. Cha ân hận rồi.”

Lúc này tôi không thể kiềm chế được nữa, hai dòng nóng hổi tuôn trào. 

“Cha cũng hứa với con là phải khoẻ lại, nhìn thấy con hạnh phúc nha cha.”

Tôi cùng mẹ ra khỏi phòng bệnh. Mẹ nói ông bị ung thư dạ dày, phải phẫu thuật cắt bỏ ba phần tư dạ dày. Trong cái rủi có cái may, vì bệnh phát hiện vào giai đoạn đầu nên không cần phải xạ trị và hoá trị. 

“Ổng sợ chết trên bàn mổ nên mới gọi con về gấp.” Mẹ thở dài. “Ông sợ không kịp nói lời xin lỗi…”

Mẹ dứt lời, trước cửa phòng bệnh bỗng xuất hiện một bác sĩ. Tôi đứng như trời trồng nhìn người ấy. Anh cũng ngạc nhiên khi thấy tôi. Mẹ vội nói:

“Thằng Hùng là bác sĩ phẫu thuật cho cha con đó.”

Tôi bối rối tránh đi ánh mắt anh. Hùng bước lại gần, ngập ngừng hỏi:

“Em khoẻ không?”

Tôi gật đầu. 

“Nghe mẹ nói em lên Tây Bắc làm giáo viên tình nguyện. Có vất vả lắm không?”

“Cũng vất vả, nhưng giờ em quen rồi.”

“Còn hai tháng nữa thôi.” Anh cười.

Tôi giật mình, hai tháng nữa là tới ngày hẹn. Cha cũng đã chấp nhận tôi rồi. Chúng tôi dường như đã tháo bỏ được hết rào cản để đến với nhau. Nhưng giờ cha đang bệnh, không phải là lúc ích kỷ nghĩ tới chuyện yêu đương. Tôi kìm nén lòng mình, chỉ gật đầu như đã hiểu.

“Hai tháng nữa anh lên Tây Bắc đón em.” Hùng nói tiếp, vẻ mặt chờ mong.

Bỗng có một cô điều dưỡng đi ngang gọi anh. Hùng vội chào tạm biệt tôi và mẹ rồi quay đi.


Cuộc gặp gỡ chóng vánh ấy đã gieo cho tôi hy vọng về một ngày mai tươi sáng.

Ngày hôm sau, cha lên bàn mổ. Tôi và mẹ có mặt từ sớm. Hùng còn đến trước hai mẹ con. Anh mặc bộ đồ phẫu thuật, đội nón, đeo găng, trước khi bước vào phòng mổ không quên động viên hai mẹ con tôi. Tôi cũng trấn an mẹ rồi dìu bà ngồi xuống ghế. 

Ca mổ bắt đầu từ mười giờ sáng. Tôi và mẹ ngồi chờ suốt sáu tiếng đồng hồ. Khi Hùng bước ra, mẹ gần như kiệt sức vì lo. Khi anh báo ca mổ thành công, lúc này hai mẹ con mới như được sống trở lại. Cha nằm trong phòng hồi sức tầm hai tiếng thì được chuyển về phòng bệnh. Mẹ ngồi túc trực bên cha, còn tôi đến căn tin mua thức ăn. 

Trên đường đi, tôi gặp Hùng. Trời bắt đầu tối dần, chúng tôi sóng bước bên nhau, giữ khoảng cách như hai người bạn. 

“Cha sẽ không sao chứ?” Tôi hỏi.

“Ừm… May mà phát hiện sớm. Chú ý chăm sóc cha, ăn uống theo chỉ dẫn của bác sĩ, tái khám đúng hạn. Bệnh này tinh thần là quan trọng nhất.”

Tôi gật đầu, cảm ơn anh vì ca mổ. Gần một năm không gặp, có rất nhiều điều muốn nói. Tôi rất muốn kể anh nghe cuộc sống trên vùng Tây Bắc, về những khó khăn vất vả, về những đêm lạnh tê tái và nỗi nhớ thương anh quay quắt, thế nhưng cuối cùng chẳng thốt nên lời. 

“Anh chưa về hả?” Tới căn tin, tôi mua cơm cho mẹ rồi hỏi anh.

“Giờ anh về.” Hùng nói. Anh nhích nhẹ ngón tay rồi lại cho cả bàn tay vào trong túi áo blouse. “Thực tình anh rất muốn ôm em ngay bây giờ.”

“Thôi anh về đi.” Tôi bối rối. “Anh mổ cả ngày chắc mệt rồi.”

Dứt lời tôi vội quay lưng đi. Hùng gọi với theo:

“Mai gặp.”

Suốt hai tuần lễ, tôi và mẹ ở bệnh viện hai mươi bốn trên hai mươi bốn. Vì bận đi làm, các chị thay phiên nhau lên chăm sóc cha vào buổi tối. Suốt thời gian đó, mỗi lần rảnh là Hùng lại ghé phòng bệnh hỏi thăm cha. Tay nghề của anh rất tốt, lại tận tình hướng dẫn nên cha hồi phục cũng rất nhanh. Ông dần có cảm tình với anh. Tuy không ai nói ra nhưng chúng tôi đã ngầm coi nhau như người một nhà.

“Có thêm một thằng con trai còn hơn không có đứa nào.” Cha thở dài. “Nghĩ lại mà cha thấy thương thằng Tuấn.”

Nghe cha nhắc tới Tuấn, tôi lặng thinh không đáp. Sau khi ra Hà Nội, hắn vẫn thường xuyên gọi điện hỏi thăm mẹ. Biết cha bệnh, hắn còn gửi tiền thăm. Chuyện về Tuấn đã qua rất lâu rồi. Cha chịu tha thứ cho hắn, tôi cũng vơi đi một phần áy náy.

Cha xuất viện, tôi theo ông về quê, ngày ngày phụ mẹ chăm sóc cha. Cuối tháng Mười một, sức khoẻ của cha khá hơn, tôi quay lại Tây Bắc. 

Hơn nửa tháng nữa là tới ngày hẹn. Tôi cứ thế đi đi về về nơi núi rừng heo hút, làm một thầy giáo nghèo gieo con chữ cho các em học sinh đồng bào nơi đây. 

Đã có bao trăn trở khi đứng giữa sự lựa chọn: theo Hùng về hay tiếp tục ở lại đây. Nếu ở lại đây, chúng tôi sẽ không thể ở bên nhau. Còn nếu theo Hùng về, tôi lại không nỡ bỏ mặc các em học sinh của mình. Chỉ một thời gian ngắn thôi mà tôi đã xem Tây Bắc là ngôi nhà thứ hai mất rồi.

Thế mà, chính Hùng, chính anh đã giúp tôi lựa chọn. 

Đến ngày hẹn, anh không tới. 

Tôi đã đứng ở đồi chè, đón từng giọt sương mai đầu tiên. Từ khi ánh sáng tràn về cho tới lúc mặt trời lặn sau những ngọn núi, anh chưa một lần xuất hiện. 

Những ngày sau đó, tôi không chấp nhận được mình đã bị bỏ rơi, bèn rút hết can đảm gọi cho Hùng. Điện thoại tắt nguồn. Tôi hỏi mẹ, mẹ nói lâu rồi anh không liên lạc. Chỉ còn Hưng, chỉ có Hưng mới biết được Hùng đang ở đâu, làm gì. Tôi cầm điện thoại lên rồi bỏ xuống biết bao nhiêu lần, sau cùng quyết định gạt đi ý nghĩ gọi cho cậu. Tôi không nên quấy rầy cuộc sống bình yên bấy lâu của Hưng nữa. 

Người muốn đi thì cần chi níu lại. Duyên phận này đành đứt đoạn từ đây.

Tiếng chim hót líu lo, ánh sáng tràn về khắp núi rừng. Trận sốt tối qua đã bị đẩy lùi. Tôi thức dậy, thấy Hưng ngủ gật bên cạnh giường. Dáng ngủ này thật giống với anh, nhưng không còn anh nữa. Tự dưng thấy sống mũi cay cay, tôi hít thở sâu để đè nén cảm xúc muốn vỡ òa. Tiếng khịt mũi của tôi đánh động đến Hưng, cậu mở mắt ra, nụ cười hoà với ánh sáng dìu dịu làm trái tim tôi một lần nữa nhói lên.

“Thầy cảm thấy đỡ hơn chưa?”

Tôi gật đầu, ngồi dậy. Lần này tôi không trốn tránh nữa, quyết định hỏi thẳng Hưng:

“Ba em đâu? Sao em biết tôi ở đây mà tìm?”

Nét mặt Hưng sa sầm, đôi môi câu chợt tái đi. Toàn thân tôi rụng rời, cơn sốt như muốn quay trở lại khi Hưng trả lời:

“Ba em…”

oOo

(*) Bài hát: Trên đồi chè Nghĩa Lộ

Bình luận đoạn văn

Bình luận

Thiết lập văn bản

Xem trước

Nội dung sẽ hiển thị như thế này

Chọn font chữ

Cỡ chữ

12px 30px