Chương 1: Một chuyến đi
Bầu trời Hà Nội âm u nhiều mây. Dù đã sang tháng Ba nhưng cái rét của mùa đông dường như vẫn còn đọng trong không khí. Đứng trước cửa sân bay Nội Bài, gió lạnh thổi qua, tôi khẽ rùng mình, rúc hai bàn tay vào trong túi áo.
Thở dài một hơi kèm nụ cười tự giễu, tôi lấy lại tinh thần bước ra khỏi sân bay. Gam màu cuộc đời tôi chỉ toàn sắc xám, lẽ ra phải đi tới một nơi ánh sáng chói chang, quang cảnh tươi đẹp, thế mà lại đâm đầu vào chốn này. Sắc trời ảm đạm khiến tôi thấy mình càng thê thảm, nhưng lỡ rồi thì chỉ còn cách đi tiếp chứ biết làm sao đây.
Chần chừ một lát, tôi rời khỏi sân bay, đón taxi đến bến xe Mỹ Đình. Vừa tới bến xe, tôi tấp ngay vào một quán ăn ở gần đó. Trong cái lạnh tê tái này, làm một tô phở nóng và thưởng thức tách trà đậm vị thì thật không gì sánh bằng.
Quán phở nằm trên con đường nhỏ chạy ngang cổng phụ của bến xe, đông khách vô cùng. Thấy tôi tần ngần đứng trước cửa tìm chỗ ngồi, cô chủ quán vừa luôn tay bốc bánh phở vừa đon đả mời:
“Vào ăn sáng đi cháu, bàn gần cửa mới có một người thôi, cháu ngồi tạm hộ cô nhé!”
Trong quán chẳng còn bàn nào trống, tôi đành đặt ba lô xuống đất rồi ngồi xuống chiếc bàn gần cửa. Ghế nhựa khá mỏng, như thể cựa mình một cái thì bốn chân ghế sẽ gãy gập khiến tôi không dám nhúc nhích.
“Bà chủ ơi, cho một tái gầu nhiều hành ít bánh nước trong một trứng nhá!”
Người đàn ông trung niên khoác áo phao dày cộm ngồi chung bàn với tôi đột nhiên rướn người lên gọi món.
“Có ngay!” Cô chủ quán đáp nhanh, trong giọng nói của cô lúc nào cũng như có tiếng cười réo rắt vui tai. “Thế còn cháu, muốn ăn gì nào?”
Tôi ngước mắt nhìn tấm bảng ghi giá các món phở treo trên tường nhưng chẳng thấy món nào giống như ông chú ngồi cùng bàn đã gọi. Có lẽ người ta ăn quen rồi, còn tôi là người lạ, chắc chắn không biết cách ăn ngon như dân địa phương.
“Dạ, cô cho con…” Tôi ngập ngừng nhìn ông chú ngồi đối diện, chú ấy đang dùng một miếng chanh nhỏ chà xát vào đôi đũa tre, chắc là để khử khuẩn. “Một tô giống chú được không cô?”
“Được, cháu ngồi chờ cô một tí, cô làm xong ngay đây.” Cô chủ quán múc nước lèo chan vào mấy tô phở đặt sẵn trên bàn để người phục vụ bê đi cho khách rồi tiếp tục mời chào mấy người mới vào.
Không dám làm phiền cô chủ quán, tôi chuyển sang quan sát ông chú cùng bàn. Sau khi chà xát xong đôi đũa, chú lại tiếp tục chà xát một chiếc muỗng inox.
“Sao thế?” Chú dừng tay, ngẩng đầu nhìn tôi, cười thân thiện. “Cháu mới từ miền Nam ra à?”
“Dạ…”
Tôi bối rối đáp, không dám nhìn chằm chằm vào chú ấy nữa mà đảo mắt nhìn ra đường. Buổi sáng mùa đông ở Hà Nội âm u, lại có thêm một chút sương mù bảng lảng chẳng giống buổi sáng ngập tràn ánh nắng ở quê tôi chút nào. Đây là lần đầu tôi ra Hà Nội, cũng là lần đầu thấy một buổi sáng u ám đến thế, u ám y như tâm trạng của tôi lúc này.
Mấy phút sau, một cậu nhóc phục vụ đã bưng ra hai tô phở, liến thoắng mời không khác gì cô chủ quán:
“Mời chú, mời anh ăn ạ!”
Ông chú ngồi đối diện mở lọ giấm tỏi, múc một muỗng nhỏ bỏ vào tô.
“Cháu có muốn một thìa không?” Chú ấy đẩy lọ giấm tỏi về phía tôi. “Phở bò phải có một tí giấm tỏi mới dậy vị. Nếu cháu không ăn được giấm tỏi thì vắt chanh vào cũng được.”
Lần đầu thấy ăn phở kèm giấm tỏi, tôi tò mò cũng múc thử một muỗng, sau đó bắt chước ông chú, bỏ thêm tương ớt và vài miếng ớt tươi vào tô, trộn đều lên rồi mới bắt đầu thưởng thức.
Phở Hà Nội không giống phở tôi ăn ở Sài Gòn, không hợp khẩu vị của tôi cho lắm. Thấy tôi hơi nhăn mặt, ông chú húp một muỗng nước lèo, cười khà khà.
“Ăn không quen à, đây mới là vị phở Hà Nội chuẩn đấy, cháu ăn đi, đừng bỏ phí.”
Tôi biết chứ, nhưng đã ăn quen vị phở quê nhà rồi. Có lẽ dù có đi xa đến đâu thì dấu ấn của những gì từng trải qua sẽ luôn tồn tại trong mỗi người, khó mà quên đi ngay được. Cũng vì thế mà người ta mới cần thời gian để chấp nhận cái mới. Tất nhiên là dù không hợp khẩu vị thì tôi vẫn ăn hết tô phở đầy ụ toàn thịt bò thơm ngon và quả trứng trần vừa chín tới ngọt lịm.
Rời khỏi quán phở, tôi tiếp tục đi tới bến xe, nơi tôi sắp sửa đi Mộc Châu, đến nơi núi rừng Tây Bắc đầy xa lạ.
Cầm vé trên tay, tôi tìm chiếc xe có biển số như trên vé rồi bước lên, nhìn quanh tìm ghế của mình. Đó là chiếc ghế ở dãy thứ ba sát cửa sổ. Mặc dù đã chín giờ sáng nhưng trời vẫn rét căm căm. Tôi ngả ghế nằm xuống rồi vội kéo tấm chăn dày màu đỏ mận được phát sẵn đắp lên người. Một vài vị khách cũng lục tục bước lên xe, ai nấy đều co ro vì lạnh.
Khi đã yên vị, tôi không còn quan tâm tới xung quanh nữa, lẳng lặng lấy từ trong ba lô một quyển sách. Dù thời buổi này người ta đã có thể đọc sách bằng điện thoại thông minh, máy đọc sách, thậm chí là nghe sách nói, song thói quen đọc sách giấy khi đi tàu xe của tôi vẫn không thay đổi. Cảm giác chạm tay vào từng trang giấy, nghe mùi mực lẫn mùi giấy thơm nồng nơi đầu mũi rất khác với nhìn những con chữ vô cảm trên màn hình điện thoại.
Khi tôi đọc đến trang thứ sáu thì xe bắt đầu lăn bánh. Hành trình khá dài, mất những sáu đến tám tiếng đi xe nên có lẽ sẽ vừa đủ để tôi đọc hết quyển sách này.
Dự tính vậy thôi chứ xe vừa chạy được một lát là cơn buồn ngủ đã ập tới. Hai mắt cứ cứ díp lại, tôi cố đọc thêm vài dòng nữa nhưng những con chữ bắt đầu nhòe đi. Đây có lẽ là hậu quả của việc suy nghĩ quá nhiều vào tối qua.
Một lúc sau, tôi ngủ gục, đánh rơi luôn quyển sách mà không hay. Đến khi tiếng còi xe đột ngột vang lên tôi mới giật mình choàng tỉnh, loay hoay cúi xuống nhặt quyển sách, gấp nó lại đặt lên ngực mình rồi quyết định chợp mắt một chút.
Chiếc xe chạy êm êm, tới những đoạn quanh co lại hơi lắc lư, chồng chềnh. Giấc ngủ của tôi cũng chập chờn theo. Một lần nữa, tiếng còi xe làm tôi giật mình bừng tỉnh. Xe đột nhiên thắng gấp, mọi người trên xe hoảng hốt, lao nhao cả lên. Thì ra có một chiếc xe khác chuyển làn đột ngột. Cũng may là không có xe đi đằng sau.
Xe tiếp tục lăn bánh, tôi nhìn ra cửa kính, quan sát cảnh vật. Nhà cửa thưa dần, nhường chỗ cho núi rừng trùng điệp và vực sâu thăm thẳm. Vì ngồi phía vực nên mỗi lần nhìn ra cửa, một nỗi sợ hãi vô hình cứ quấn lấy tôi. So với đường đèo đi lên Tây Bắc này thì đường đèo Đà Lạt chẳng thấm tháp vào đâu. Ấy thế mà tài xế lái xe rất điệu nghệ, thậm chí đôi lúc tôi còn được dịp nổi gai ốc khi thấy anh ta một tay cầm vô lăng, một tay cầm điện thoại. Có một khoảnh khắc nào đó, tôi từng nghĩ rằng, nếu xe lao xuống vực thì tất cả sẽ kết thúc, nhưng tôi nhanh chóng xua tan đi ý nghĩ ấy. Xung quanh tôi mọi người vẫn đang sống. Khách du lịch cũng có, những đứa con xa quê bắt chuyến xe về nhà cũng có. Họ vẫn sống và vẫn thở, dù đau buồn hay hạnh phúc. Tôi cũng đang sống, một cuộc sống buồn tẻ, nhạt nhẽo. Vì thế tôi chọn trốn chạy. Tôi muốn đi đâu đó một mình, rồi sau cùng sẽ gạt phăng những phiền muộn, bắt đầu một cuộc sống mới.
Đã quá giữa trưa nhưng trời vẫn lành lạnh. Dù phong cảnh ngoài kia rất đẹp nhưng tôi không dám nhìn, sợ lại liên tưởng bậy bạ. Nghĩ lại, nếu điều không may xảy ra thì chắc sẽ chẳng có ai đau lòng vì tôi đâu. Vì không muốn mình trở nên đáng thương nên tôi thôi nghĩ ngợi lung tung, lại nhắm mắt ngủ một giấc thật sâu.
Năm giờ chiều, không khí càng lạnh hơn. Tôi thức dậy một lần nữa. Ngoài trời sương giăng đầy, mặt kính nhòe hơi nước. Mở điện thoại ra xem định vị, thấy gần tới nơi, tôi ngồi dậy vác ba lô lên bước ra cửa xe. Giọng nói của một người đàn ông chợt vang lên:
“Xin cho tôi xuống rừng thông Bản Áng.”
Ba phút sau khi người đàn ông nọ lên tiếng, tài xế dừng xe. Người đàn ông xuống xe, tôi nhanh chóng bước theo. Xe vừa chạy đi, một cơn gió ập tới, tôi lạnh run co người lại. Người ta nói khí trời Mộc Châu vào tháng Ba rất mát mẻ, nhưng chẳng hiểu sao tôi lại thấy lạnh đến nỗi tay chân tê cóng. Tôi tự cười mình, chắc là trái tim lạnh giá cũng làm cho cơ thể mất dần độ ấm rồi chăng?
Trời bắt đầu tối mà tôi còn lóng ngóng chưa biết đi đâu. Xung quanh chỉ toàn cây cối. Xa xa những ngọn núi cao ngất im lìm chìm dần vào màn đêm. Nhìn qua nhìn lại chẳng có chiếc xe nào, tôi bắt đầu hoang mang. Thực ra chuyến đi này chỉ mới nảy sinh trong đầu tôi tối qua. Sau khi cãi nhau một trận, Tuấn đã hậm hực bỏ ra ngoài cả đêm, còn tôi thì trằn trọc mãi đến ba giờ sáng. Thế rồi tôi quyết định đi đâu đó một mình cho khuây khỏa. Thậm chí tôi còn chưa nộp đơn nghỉ phép mà chỉ gọi một cuộc điện thoại. Vé máy bay tôi vừa mua sáng nay, vì mua sát giờ cất cánh nên giá không hề rẻ. Nhưng tôi chẳng thấy tiếc. Bởi có mắc đến mấy cũng thấm vào đâu so với cái giá tôi phải trả suốt ngần ấy năm tuổi trẻ.
“Cậu đi một mình hả?”
Tôi giật mình quay sang nơi phát ra giọng nói trầm trầm. Hóa ra người đàn ông đi cùng xe lúc nãy vẫn còn ở đó. Tôi gật đầu, ánh mắt dán chặt vào mặt đất dưới chân. Tôi thường có thói quen nhìn mọi thứ ở tầm thấp vì không muốn chạm mặt người ta để rồi vướng vào những mối quan hệ vô nghĩa.
“Cậu tìm được khách sạn chưa?”
Lúc này tôi mới ngẩn ra, đến nơi xa lạ này, tôi chẳng có một kế hoạch cụ thể nào, kể cả việc đặt phòng khách sạn. Thấy tôi lắc đầu, anh ta cười nói:
“Trời sắp tối rồi. Nếu chưa tìm được khách sạn thì tôi giới thiệu cho chỗ này. Tuy chỉ là nhà nghỉ nhưng khá sạch sẽ.”
Tính từ chối, nhưng nhìn sắc trời dần sẫm màu và không khí càng lúc càng lạnh, tôi đổi ý đi theo anh ta.
Người đàn ông lạ đi trước dẫn đường. Nhìn đằng sau, bóng lưng kia trông hao hao Tuấn. Dáng người dong dỏng cao, bờ vai rộng, bước chân vững vàng. Chiếc áo măng tô dài quá đầu gối màu cánh gián càng tôn lên vóc dáng hoàn hảo của anh ta. Tim tôi như thắt lại, không có can đảm đi gần anh ta mà giữ một khoảng cách khá xa. Chốc chốc, anh ta lại ngoái nhìn như một người cha đang trông chừng đứa con thơ sợ nó lạc đường. Gương mặt anh ta thoắt ẩn thoắt hiện trong làn sương mờ ảo. Hình như anh ta đang mỉm cười. Chắc trời tối nên tôi lại trông gà hóa cuốc rồi. Có ai lại cười với một người xa lạ bằng nét mặt dịu dàng thế chứ.
Rời khỏi đường lớn, chúng tôi đến một nhà nghỉ nằm trong một con hẻm nhỏ. Thật không may là đã hết phòng trống. Tôi cảm ơn người đàn ông lạ mặt, tính đi tìm chỗ khác, nhưng anh ta vội kéo tay tôi lại:
“Trời tối rồi, cậu lại không rành nơi này. Nếu cậu không ngại thì ở cùng phòng với tôi cũng được.”
Tôi ngạc nhiên nhìn anh ta. Anh ta không ngại, nhưng tôi thì có. Tôi thích đàn ông. Mặc dù có ý định chia tay Tuấn nhưng hiện tại tôi và hắn vẫn đang yêu nhau, giờ mà ở chung với một người đàn ông khác thì có vẻ hơi ám muội. Có điều độ ấm từ bàn tay anh ta làm tôi không nỡ từ chối. Nếu như tôi không nói thì làm sao anh ta biết được. Anh ta mà biết chắc sẽ thấy kinh tởm lắm ha? Nhưng ngủ một đêm có lẽ chẳng sao đâu. Ngày mai nếu có khách trả phòng thì tôi sẽ dọn qua.
Anh ta xin thêm một bộ chăn gối mang vào phòng. Tôi cảm ơn, đón lấy rồi đặt chúng lên chiếc giường còn trống.
Phòng ốc ở đây rất đơn giản, không khác nhà dân là bao. Trong phòng có hai chiếc giường và một chiếc tủ lớn, một chiếc bàn nhỏ và hai chiếc ghế con cùng một số vật dụng đơn giản.
Người đàn ông sắp xếp hành lý xong thì bỗng lên tiếng bắt chuyện:
“Cậu tắm rửa trước đi, sau đó cùng tôi dùng cơm tối nha.”
Tôi khẽ gật đầu rồi lấy trong ba lô một bộ quần áo và một chiếc khăn bông.
“Tôi tên Hùng. Còn cậu?”
Tôi ngẩn ra một lúc, rồi trả lời ngắn gọn:
“Huy.”
Bình luận
Khánh Duy