Chương 32: Uy Nghi Long Tọa, Quyết Ý Canh Tân
Hoàng thượng không biết đã suy nghĩ điều gì, ánh mắt sâu thẳm dõi theo bóng dáng Thành Trung lui bước. Chỉ âm thầm cho hạ một mật chỉ về Sơn Nam, rồi ngài lại ra lệnh tiếp tục buổi chầu.
Nhưng trong lời nói của ngài, có phần phấn chấn hẳn lên, tựa như đã nghĩ thông được nước cờ then chốt.
Thay vì lập tức đem kho báu động Lăng Tích ra thị uy, Hoàng thượng lại dùng nó làm cái nền vững chãi để xoay chuyển mũi dùi về phía chính sách thuế khóa.
Kim khẩu lặng im một thoáng, rồi nhìn xuống triều thần, ánh mắt sắc bén.
"Các khanh nói quốc khố dưới tiền triều dư dả, còn hiện nay lại thiếu hụt. Vậy để trẫm hỏi, số bạc đó từ đâu mà có?"
Quan Hộ bộ Nguyễn Đình Toản chắp tay thưa:
"Bẩm Hoàng thượng, chính là nhờ tiền triều chính sách thâu thuế chặt chẽ, không để thất thoát. Bây giờ triều đình nới lỏng thuế khóa, tất nhiên ngân khố sẽ giảm sút."
Từng lời lẽ tưởng chừng khách quan, kỳ thực lại ẩn chứa mũi kim lạnh lẽo khiến long nhan đổi sắc.
Hoàng thượng cười nhạt, tiếng cười mỉa mai dành cho kẻ chỉ biết số liệu sổ sách mà quên đi hiện thực đắng cay mà vặn hỏi:
"Thâu thuế chặt chẽ? Nói về năm năm trước, hễ một thửa ruộng cấy lúa là phải chịu bao nhiêu loại thuế? Thuế điền, thuế dung, thuế thân, chưa kể đến sưu dịch, đến khi lúa vào kho, nông dân lại phải đóng thuế lương thực. Biết bao nhiêu người khi ấy không thể mưu sinh bằng nghề trồng lúa gạo nữa. Đất ruộng bỏ hoang, chỉ một năm đã rơi vào cảnh thiếu lương thực trầm trọng. Bài học đó, các khanh đã quên rồi sao?"
Quan Binh bộ Vũ Kính lặng lẽ liếc nhìn quan Hộ bộ, không nói gì.
Hoàng thượng tiếp lời, giọng điềm tĩnh nhưng sắc bén:
"Năm ấy, khi trẫm còn chưa đăng cơ, đã từng tận mắt chứng kiến nạn đói lớn ở Nghệ An, Thanh Hóa bùng lên, người chết đầy đường. Quan lại tiền triều thì không chịu mở quốc khố cứu tế cho dân. Chỉ một câu lương thực của triều đình không thể xuất ra tùy tiện, mà thây chất thành núi. Cảnh tượng thê lương đó chẳng khác gì cõi Ngạ Quỷ chốn nhân gian. Các khanh muốn trẫm đi vào vết xe đổ đó, chất đầy vàng vào kho trên xương máu của con dân sao?"
Các quan đại thần ai nấy đều câm như hến.
"Nhưng trẫm cũng hiểu, không thể mãi dựa vào việc giảm thuế. Thời điểm này, triều đình cần tiền, nhưng phải thu thế nào cho hợp lý."
Ngài liếc nhìn Hộ bộ thị lang Phạm Quý Nhạc:
"Phạm thị lang, việc trưng dụng bạc từ các thương hội lớn, ngươi đã nắm được tình hình chưa?"
Phạm Quý Nhạc bước ra, cúi đầu:
"Bẩm Hoàng thượng, thần đã cho người đi dò xét. Hiện tại các thương hội như Vân Hải, Đức Tín, Đông Ký đều có thể đóng góp một phần bạc, nhưng họ muốn được đảm bảo quyền lợi trong vận chuyển hàng hóa, tránh bị các nha môn địa phương sách nhiễu."
"Tốt. Trẫm không muốn triều đình hành xử như phường thảo khấu, ép thương nhân đóng bạc mà không có chính sách rõ ràng. Ngươi cùng Hộ bộ bàn bạc, đề ra mức đóng góp hợp lý, nhưng phải minh bạch. Còn về việc bảo hộ thương nhân, giao cho Ngự sử đài giám sát, ai dám lợi dụng cơ hội này để vơ vét thì cứ đem thẳng tấu chương lên trẫm."
Từng mệnh lệnh ban xuống đều rành mạch, dứt khoát, biến áp lực ngân khố thành một bàn cờ điều phối tài tình.
Hoàng thượng lại nhìn sang quan Binh bộ:
"Còn việc trị thủy, Vũ thị lang, ngươi nghĩ thế nào?"
Vũ Kính bước ra, trầm giọng:
"Bẩm Hoàng thượng, thần cho rằng thay vì chỉ trông vào ngân khố, có thể trưng dụng một phần lao dịch từ các vùng không bị ảnh hưởng, đồng thời mở hội kêu gọi các hào phú địa phương đóng góp. Huyện Lương Tài vừa rồi lũ lụt, nhưng chính dân chúng trong huyện cũng tự góp tiền sửa đê, không hoàn toàn dựa vào triều đình. Nếu có chính sách khuyến khích, các vùng khác có thể làm theo."
Hoàng thượng gật đầu, khen ngợi ý tưởng của Vũ Kính, ra lệnh cho ông thảo luận cùng Công bộ, hạn trong ba ngày trình lên xem xét.
Tuy nhiên, sóng gió triều đình chưa dứt. Một viên quan Lại Bộ bước ra, lời lẽ điềm đạm nhưng hàm chứa sự khinh khi về xuất thân của những quan viên mới được bổ dụng.
Thánh thượng hờ hững vuốt dọc tay vịn long ỷ. Những lời này bề ngoài là nói về việc phong quan, nhưng cũng lại là một nhát dao khác đâm vào ngài, hàm ý chế giễu rằng ngài chỉ dựa vào thế lực mà lên ngôi, chứ không phải danh chính ngôn thuận.
Các quan lại bên dưới khẽ xôn xao.
Hoàng thượng chậm rãi hỏi với giọng đầy thâm ý:
"Vậy ý của khanh là trẫm trọng dụng kẻ xuất thân thấp kém, làm mất thể thống hay chăng?"
Quan Lễ bộ thượng thư Phùng Bá Lâm vội vàng biện bạch:
"Bẩm Hoàng thượng, chúng thần không có ý mạo phạm, nhưng lời ấy không hẳn vô căn cứ. Tiền triều vốn chọn quan dựa trên khoa bảng, giữ nghiêm lễ nghĩa. Nhưng gần đây, thần thấy có người chỉ dựa vào công trạng mà bổ nhiệm, không qua thi cử. Điều này, e rằng khó thuyết phục lòng người."
Một số quan viên khẽ gật gù.
Hoàng thượng đứng dậy, từng bước đi xuống bậc thềm, khí thế áp đảo:
"Trẫm đây tuy tài đức còn mỏng nhưng cũng biết tự cổ chí kim vẫn nói "Anh hùng bất vấn xuất xứ, hiền tài bất luận môn đệ". Đạo dùng người cốt quý năng lực, có tài là dùng, có công thì ban thưởng, hà tất phải để ý chi tiểu tiết hỡi chư khanh?"
Nói đoạn, Ngài nhìn về phía quan Lại bộ thượng thư Trần Đình Hòe, ra lệnh cho ông xướng tên những quan viên mới được bổ dụng như một gáo nước lạnh dội vào sự kiêu ngạo của những kẻ đang ỉ ôi.
Trần Đình Hòe bước ra, mở danh sách, chậm rãi đọc:
"Phạm Quý Đức, đỗ Tiến sĩ, người Nghệ An. Nguyễn Hữu Phái, xuất thân Giám sinh, có công cai trị ổn định huyện Phù Dung. Lưu Bá Lãng, không đỗ đạt cao nhưng giỏi xử kiện, được dân tín nhiệm. Lý Đình Viễn, từng là bách hộ dưới trướng Nghĩa Quốc công, sau này quản lý việc trị an rất tốt..."
Kết thúc buổi chầu, lời của vị quân vương trẻ vọng lại như sấm truyền:
"Được. Người có tài, không bỏ sót. Nhưng ai dám mua quan bán tước, Lại bộ phải chịu trách nhiệm. Còn ai muốn bàn luận về xuất thân nữa không?"
Cả đại điện lặng ngắt dưới khí thế áp đảo của thiên tử. Trong tiếng mưa bụi rì rầm bên ngoài, những bóng áo bào đỏ thắm cúi rạp xuống sân rồng, không ai còn dám bàn ra tán vào về chuyện xuất thân hay thế tộc thêm một lời nào nữa.