Kyoto - những cung bậc cảm xúc
Dư âm buổi lễ trà chỉ thực sự kết thúc khi con đường rợp bóng cây nhường chỗ cho dãy nhà hiện đại dọc con lộ chính. Tôi đứng giữa làn ranh ấy, ngửi mùi khói xe lẩn quẩn chưa kịp tan, nghe tiếng gọi nhau í ới đằng sau, cảm nhận sự ran rát của nắng để lại trên da. Từng thứ nhắc nhở rằng tôi đã trở về với thế giới quen thuộc.
Bên trên vỉa hè, từng gạch xếp so le như bàn cờ, cái bóng dưới chân giờ co cụm thành một vùng tối nhỏ. Quãng đường trở ra chừng vài trăm mét, nhưng đi bên Kei tôi cứ có cảm giác mình đã mất hàng giờ để đi qua. Suốt quãng đường ấy, chúng tôi tiếp tục giữ cho nhau những khoảng lặng cần có. Tôi luôn nhìn thẳng, tưởng là tập trung, nhưng đôi khi vẫn xao nhãng: suýt đâm vào hàng rào, hay va hông vào chiếc xe bên đường.
- Cũng muộn rồi. Mình ăn trưa nhé, Senpai?
Tôi chớp mắt, như thể lần đầu được nghe lời mời. Sự chú ý rời khỏi chiếc xe đang đi qua, chuyển sang Kei, trầm ngâm.
- Em còn nhớ quán ăn chúng ta đi ngang qua lúc sáng không? Anh muốn thử.
Tôi cố nhớ lại khoảnh khắc - trước khi ngửi mùi gỗ, trước khi nếm vị trà - chúng tôi đã dừng lại ở một khe hẹp giữa hai tòa nhà. Lúc ấy tôi đã ngửi thấy mùi khói thoang thoảng rất thơm.
- Quán ở đầu ngõ hẻm gần máy bán hàng tự động ấy hả? Tùy anh thôi.
Chúng tôi quay lại. Ngõ hẻm vẫn đứng nguyên đó, vẫn nằm đúng vị trí ký ức ghi nhận: tấm noren nhuộm chàm ngắn ngủn đung đưa dưới mái hiên, một tấm bảng quảng cáo nằm sát vách, cửa gỗ với ánh sáng ấm hắt xuyên ô kính nhỏ.
Quán khá đông, chúng tôi cần chờ thêm mười lăm phút mới tới lượt. Kei vào trước rồi giữ cửa. Tôi theo sau, và âm thanh thay đổi ngay lập tức. Tiếng ồn ngoài phố chính bị dẹt lại, thay vào đó là tiếng cạo kim loại nhịp nhàng của cái xẻng sắt trên mặt chảo, tiếng thì thầm trầm thấp từ đâu đó trong bếp. Không gian lớn hơn nhiều so với vẻ ngoài. Có bốn dãy bàn ghép đôi, ba bàn đơn, tám ghế dọc quầy, tất cả đều chật kín người ngồi. Bàn của chúng tôi nằm dưới chiếc đèn treo bằng tre, ánh sáng trên cao chiếu xuống thành một vòng tròn hoàn hảo.
Chúng tôi ngồi vào bàn đó. Ghế đẩu bằng gỗ có lớp đệm khá dày, không chỗ dựa lưng, buộc người ngồi phải giữ tư thế thẳng. Người phục vụ mang đến hai tờ thực đơn có ảnh chụp, màu sắc chân thực và rõ nét. Tôi chăm chú nhìn thực đơn của mình, vô thức khẽ nghiêng đầu sang bên này rồi qua bên kia. Còn Kei đặt tờ của mình xuống, quan sát căn phòng: người nhân viên văn phòng đang cúi gập người ở quầy, đôi vợ chồng già chia sẻ mẩu chuyện nhỏ sáng nay, người đầu bếp nhịp nhàng trong từng động tác múc cơm thái thịt.
- Nhìn này, mấy món cơm ở đây trông ngon thật. Anh đang định gọi cơm thịt bò Wagyu, nhưng cơm lươn cũng hấp dẫn không kém.
Món cơm thịt bò được đựng trong một chiếc hộp sơn mài bóng bẩy. Những lát bò tái vẫn còn giữ được thớ thịt đỏ hồng xen lẫn vân mỡ như những sợi chỉ trắng, xếp đầy trên mặt che đi lớp cơm trắng ở dưới, lòng đỏ trứng rung rinh đặt ở trung tâm như đôi mắt vầng trời buổi chiều tà. Món lươn thì có viền hơi cháy xém, bóng loáng nước sốt, được phủ lên lớp trứng cuộn, xếp chồng trên phần cơm đầy vun như núi. Nhìn chằm chằm vào thực đơn một lúc, tôi suy nghĩ, xoay tờ thực đơn về phía Kei và chỉ vào bức ảnh hộp cơm lươn.
- Em gợi ý xem, anh nên gọi món nào?
Cuối cùng Kei cũng nhìn tôi. Ánh mắt di chuyển từ ngón tay đang chỉ lên vẻ mặt đang mong đợi, rồi quay lại thực đơn, một cung chú ý ngắn ngủi. Kei ngẫm một giây, đầu nghiêng đi gần như không nhận ra.
- Anh cứ gọi cả hai món cơm đi. Yêu cầu thêm hai cái bát trống, như vậy chúng ta có thể nếm thử hai vị.
Đề nghị ấy kẹt lại trong luồng hơi tôi vừa thở ra. Chúng tôi đã chia sẻ cho nhau miếng thịt, phần trứng từ bát mì ramen hôm nào, nhưng chưa bao giờ ăn chung thức ăn từ cùng một đĩa.
- Ý hay đấy. Nhưng em có thích cơm không? Anh tưởng em sẽ chọn mì soba matcha chứ.
Kei với lấy ly trà, xoay nó một góc tư trên bàn, rồi để nguyên không uống.
- Em sao cũng được. Có những thứ... đáng trải nghiệm hơn là một bữa ăn.
Mọi tiếng ồn trong quán dường như im bặt phút chốc. Ánh mắt tôi chuyển dần xuống bàn, hàng mi chớp đôi lần rồi lại hướng lên.
- Cũng nên... như vậy nhỉ ?
Tôi gật đầu và chúng tôi im lặng nhìn nhau, phát ra một tiếng cười ngắn, chỉ là hơi thở bật khỏi mũi. Nhân viên mang khăn ướt đến, tiếp nhận lựa chọn món rồi trở vào bếp. Ngoài cơm, tôi và Kei còn chọn thêm tráng miệng. Trong lúc đợi chờ, Kei rời đi một lát, tôi thì rảnh mắt quan sát xung quanh.
- Cảm ơn vì bữa ăn.
Lời nói vọng từ phía quầy. Một người đàn ông đeo kính mặc áo khoác vào, vẫy tay chào đầu bếp. Ông ấy cũng đưa tay chào lại với nụ cười tươi trên môi.
- Cảm ơn cậu, Yamamoto. Lần sau lại đến nhé. Tôi sẽ mời cậu bia.
Vừa đi khỏi không lâu, lập tức chỗ ngồi đó đã có người khác thế vào. Không gian lại xáo động đôi chút bởi tiếng chân ghế cọ sàn. Sau quầy, chiếc nồi cơm điện chốc chốc thở ra một làn khói, rồi đóng sập lại. Tiếng "cạch" kết thúc, tiếng "xèo xèo" tiếp nối ngay sau, kèm theo mùi thơm lừng thoảng hương khói. Nhà hàng không có cửa sổ. Thời gian trôi qua được áng chừng bằng tiếng bước chân rời đi, không cần tham chiếu đến con phố bên ngoài. Tôi uống một ngụm trà, song ánh nhìn lại hướng về Kei đang quay về bàn. Câu hỏi đã chờ sẵn từ buổi trà đạo, hoặc có lẽ còn từ trước đó.
- Từ sáng đến giờ anh vẫn thắc mắc một chuyện.
Tôi đặt ly xuống, mất thêm hai giây nữa mới nói tiếp.
- Quê em ở Chiba, vậy sao rành lịch sử Kyoto đến thế? Suýt nữa anh tưởng em sinh ra và lớn lên ở đây luôn.
Kei vừa kéo ghế ngồi, nghe xong liền ngẩng đầu khỏi mặt bàn, khoé miệng nhoẻn lên như vừa bắt sóng đúng chủ đề.
- Em luôn thích khám phá lịch sử. Đặc biệt là một nơi có bề dày lịch sử phong phú như Kyoto.
Lúc này, nhân viên mang thức ăn đến. Kei dừng lại, dời ly nước sang bên phải, để cậu trai đặt hai phần cơm xuống bàn. Chúng tôi khẽ gật đầu cảm ơn. Hương thơm thoảng lên, màu sắc bắt mắt. Có điều... cả hai chẳng mấy quan tâm.
- Hồi đi học, em còn viết vài bài về nó cho trang web của trường nữa.
- Anh tò mò đấy.
- Em viết về quy hoạch đô thị thời kỳ Heian. Lịch sử phát triển của một địa điểm nổi tiếng chẳng hạn.
- Quy hoạch đô thị thời kỳ Heian?
Cổ tôi hơi rướn lại gần, tựa như bị lực hút nào đó kéo về hướng Kei.
- Đại khái là thiên hoàng Kammu và các cố vấn đã áp dụng triết lý phong thủy và mô hình đô thị của Trung Hoa thời nhà Đường vào bối cảnh Nhật Bản.
- Anh có nhớ đường Shijo mà sáng em chỉ không? Chỗ đó với đường Gojo vẫn giữ cấu trúc bàn cờ từ tận thời Heian đấy.
Nghe xong tôi há hốc mồm. Cái này mà em ấy cũng biết nữa hả? Tôi lại hình dung về Kei hồi cấp ba. Một cậu học sinh chăm ngoan đeo kính gọng đen to tổ chảng, tóc mái ngố, cúi gằm vào những cuốn sách trên tay ở thư viện, hay hành lang trường - một Kei mọt sách chính hiệu. Nhưng người hiện tại đang ngồi trước mặt thì hoàn toàn khác, giống con bướm vừa lột xác khỏi vỏ kén.
- Chẳng trách...
Tôi rút đũa ra khỏi bao giấy, chép miệng.
- Vậy nên... ngay cả nghi thức trà đạo và cách đánh matcha cũng thế, phải không?
Kei cười toe. Đôi mắt sáng lên dưới bóng đèn treo lơ lửng phía trên. Trong khoảnh khắc ấy, Kei trông gần như trẻ con, hài lòng với chuyện cất giấu một bí mật.
- Ừm… không hẳn.
Kei hơi nghiêng người ra trước, khuỷu tay đặt lên bàn.
- Khi biết chúng ta sẽ đến Kyoto công tác, em đã nghiên cứu thêm để chuyến tham quan của chúng ta... đáng nhớ hơn một chút.
Kei cũng bắt đầu tách đũa khỏi bao.
- Vì anh là người quan trọng với...
Kei dừng lại. Đôi tay vẫn lơ lửng giữa không trung. Tôi nghe tiếng hai người nói chuyện ngồi đầu dãy bàn bên kia xáo xào rất rõ, tựa như thì thầm vào tai tôi. Bao đũa bằng giấy, in logo hoạt hình cá chình và bò. Trông khá đáng yêu nhưng tôi không nghĩ nó đủ sức hút kéo Kei nhìn lâu hơn cần thiết. Kei đặt bao giấy xuống, để gọn gàng một góc.
- Với tư cách là một cấp trên xứng đáng được nghỉ ngơi đúng nghĩa và tận hưởng một ngày trọn vẹn.
Tôi nhìn Kei. Mọi phản ứng và biểu cảm đều toát lên sự tự nhiên thường thấy. Chỉ là nụ cười kia, gợi một cảm giác khác thường. Kỳ lạ thay, tôi không thể nào giải thích được, nhưng trong thâm tâm vẫn tin vào điều đó. Ngón tay vân vê thành những đường ngoằn ngoèo khó hiểu trên bàn.
- Du học sinh Anh quả nhiên vẫn để lại dấu ấn ha? Kiến thức rất rộng.
Tôi lên tiếng lấp khoảng lặng thinh, để những gợn sóng vừa rồi không chạm đến mình nữa.
- Em giỏi thật đấy, Kei. Anh vẫn còn phải học hỏi nhiều.
Kei cau mày.
- Mỗi người giỏi những thứ khác nhau. Anh đừng nói vậy.
Giờ nhìn thẳng vào tôi, gương mặt Kei trở nên chững chạc.
- Em cũng vẫn còn phải học hỏi rất nhiều từ anh nữa.
- Em lựa lời an ủi anh sao?
- Thật mà. Nếu cứ mãi nhìn vào ưu điểm của người khác, anh sẽ quên đi điểm mạnh của mình đấy. Cần em kể không? Ví dụ như...
Gương mặt Kei thay đổi, đoạn đầu nghiêm túc, câu sau lại chuyển dần sang lém lỉnh.
- Được rồi, được rồi. Không cần đâu.
Tôi cười cười, xua tay cắt lời vội. Dù không biết Kei định nói gì, nhưng tôi nghĩ kết thúc vấn đề đó sớm sẽ tốt hơn.
- Nhắc lại chuyện đó... Dù có nói bao nhiêu lần đi nữa, anh vẫn phải cảm ơn vì chuyện hôm qua. Nếu không có em tiếp lời ông Takumi, bây giờ anh sẽ không có tâm trạng ra ngoài và ăn uống thế này.
- Sao thế. Anh sắp xúc động rồi à?
Kei cầm khăn ướt lên, giơ về phía tôi. Gương mặt bày ra vẻ lo lắng kịch tính, lông mày nhướn lên, miệng mím lại ở hai khóe. Tờ khăn giấy treo lơ lửng, khẽ đung đưa như lời buộc tội về sự đa sầu cảm đa cảm. Tôi gạt tay Kei ra.
- Còn lâu nhé. Em bớt ảo tưởng được rồi đấy.
Tôi nói chắc nịch, giọng vang hơi to, nhưng mọi hỗn độn trong quán hiện giờ nhanh chóng nuốt chửng lấy nó. Kei bật cười, thu tay về.
- Mặt anh đỏ bừng kìa.
- Trời nóng quá thôi.
Tôi thản nhiên nhún vai phản pháo, cầm muỗng chia phần cơm. Kei thoáng nhìn một nhịp, gật nhẹ trước khi đưa tay cầm hũ ớt bột nằm sát tường.
- Ừ... hôm nay nắng gắt thật.
Chúng tôi tạm gác câu chuyện ở đó, tập trung vào bữa ăn trên bàn. Độ nóng ấm nguội đi phân nửa, nhưng vẫn ngon. Cả hai bắt đầu với cơm lươn trước. Phần nước sốt nếu giảm chút độ ngọt sẽ hợp khẩu vị tôi. Bù lại lươn rất mềm mọng và tươi, lớp da thì hơi cháy và giòn dai. Cơm thịt bò là một sự lựa chọn tuyệt hảo. Thịt mềm tan, độ béo vừa phải. Ăn cùng với cơm trắng, rưới thêm nước sốt đậm đà, thơm và ngọt thanh khiến cả hai đều tấm tắc ngợi khen. Kei thích ăn kèm một chút hành lá thái sợi, nói rằng vị hăng nhẹ kích thích và tạo thêm chiều sâu cho món ăn. Riêng tôi lựa chọn dưa leo, vị tươi giòn, thanh mát của nó ăn kèm lại rất cuốn.
- Vậy thật sự... anh đã ước gì ở đền Yasui Konpira-gu?
Kei hỏi khi vừa kết thúc miếng cơm. Ngẩng lên, thấy vẻ mong chờ ấy, hàm tôi bỗng dưng khựng lại, rồi chuyển động chậm dần. Không vội trả lời, tôi nuốt xuống, nhấm một ngụm trà rồi lắc đầu thay lời đáp. Kei bĩu môi, biểu cảm tinh nghịch.
- Thôi nào, Senpai. Chỉ một gợi ý thôi?
Kei hơi nghiêng người về phía trước. Một mùi thơm phảng tới. Mùi hương đã đồng hành với tôi trong suốt buổi sáng, vậy mà giờ đây lại khiến nhịp tim đập nhanh hơn hẳn. Tôi lảng nhìn về bức tranh geisha dán trên tường, nhưng trước sức ép Kei mang lại, cũng đành phải lên tiếng.
- Em thật kiên trì đó, Kei.
- Đó có thể xem là đức tính tốt không, Senpai?
Kei bỏ qua cái vẻ "khó ở" của tôi, không ngại ngần cười đáp, như muốn ép tôi vào thế bí.
- Hơn hết là em tò mò. Anh chưa bao giờ cho em cảm giác anh là người tin vào điều ước hay phép màu.
Tôi xoay tách trà từ từ giữa các ngón tay, trước khi lấy lại bình tĩnh để trả lời:
- Là vì... có những chuyện... thực sự đáng để tin một lần.
- Còn em đã ước gì?
Nói xong mới biết mình bị hớ. Tôi muốn rút lại lời buột miệng nực cười đó thì đã muộn. Kei lập tức thẳng thắn trả lời, không chút né tránh. Có điều biểu cảm gương mặt giờ chuyển sang điều gì bí ẩn hơn, cùng nụ cười nhỏ chơi vơi trên môi.
- Em đang có mối quan hệ rất tốt với một người.
Kei dừng giữa chừng, lơ đãng hướng nhìn lên cao. Trong vài giây thinh lặng, cổ họng tôi khô cháy, việc nuốt nước bọt thật khó khăn. Nỗi lo sợ, hồi hộp và cả hy vọng lần lượt trôi tuột xuống cổ họng, trước khi em ấy hướng về tôi nói tiếp.
- Và... em đã ước nó tiếp tục phát triển theo hướng tích cực.
Sự tò mò như buộc tôi hỏi tiếp, quên bẵng những gì mình vừa nhắc nhở với bản thân. Lúc này như có thứ gì đó chặn cổ, khiến giọng tôi muốn lạc đi.
- Người đó... anh có quen biết không?
Tròng mắt Kei xoáy sâu, khiến tôi phải nín thở, trong bụng không ngừng lo ngay ngáy. Em ấy bật cười. Âm thanh nhẹ tênh phá vỡ không khí chúng tôi vừa xây dựng
- Em sẽ không tiết lộ thêm đâu. Chính anh đã nói mà, tiết lộ sẽ làm điều ước mất đi sự nhiệm mầu, đúng không?
Một linh cảm lúc rõ ràng, khi thì quá mông lung xuất hiện trong tôi, như thể hai điều ước ấy đang giao nhau vào cùng một điểm. Và chính điểm cắt ấy khiến lồng ngực tôi như bị đè nặng, kéo tụt cả tâm can.
- Ờ ha. Đúng là không nên.
Tôi cười gượng, tiếp tục với bữa ăn của mình. Đến khi cúi xuống, chiếc muỗng đã hằn một vết sâu giữa hai ngón tay. Năm phút sau, hai phần cơm đã được "xử lý" xong. Trong lúc chờ món tráng miệng, một cô gái trẻ đi ngang chỗ chúng tôi ngồi. Khoác ngoài chiếc áo trắng dáng dài, phần vạt nhẹ bay trong mỗi bước chân. Kei đang chống cằm lướt điện thoại, bỗng đưa mắt nhìn theo. Trong ánh mắt ấy có chút mơ màng. Lấy làm lạ, tôi cũng quay đầu nhìn thử, chẳng phát hiện gì lạ. Dường như đọc được thắc mắc từ tôi, môi Kei nhếch nhẹ, rồi đặt điện thoại lên bàn, ghé sát lại gần, giọng hạ xuống:
- Anh biết không? Cứ nhìn miếng vải nào màu trắng, em lại nhớ đến hồi sáng. Lần sau sẽ là màu gì vậy, Senpai?
Lồng ngực em ấy không ngừng rung lên, bặm môi nín nhịn, hoàn toàn phớt lờ người trước mặt. Nếu không vì nơi đây là quán ăn, hẳn là tiếng cười sẽ vang chín tầng mây trời mất.
- Kei... em mà còn nhắc chuyện đó lần nữa là chuyến đi chơi này kết thúc ngay lập tức.
Tôi trừng mắt vờ giận dữ, cắn môi đe dọa. Em ấy ngay lập tức làm ra vẻ mặt nghiêm trọng, giơ tay lên như thể đang tuyên thệ một lời thề long trọng. Sự cường điệu quá mức của cử chỉ khiến tôi bật cười thành tiếng ngoài ý muốn.
Món tráng miệng cuối cùng cũng được mang ra. Kei uống matcha latte nóng, còn của tôi là chiếc ly sứ xanh ngọc, với họa tiết lá tre xanh thẳm xếp xung quanh. Nhìn phần tráng miệng được phủ lớp kem bên trên, tôi tò mò muốn biết ẩn dưới là gì, hào hứng múc lên một muỗng cho vào miệng. Thứ tôi cảm nhận được đầu tiên là sự mềm mại dễ chịu trên lưỡi. Nó tan chảy, mở ra từng tầng hương vị như tôi đang lần mò trong một đám mây trắng ngần, nồng mùi sữa ngậy béo và bột matcha thơm mùi cỏ mới.
Bánh gạo giòn rụm, lạo xạo trong khoang miệng khi nhai chậm. Vừa nếm chút mặn nhẹ, thạch đã nổ bụp bụp, kéo theo vị chua chua, thơm dịu mùi mâm xôi ứa ra, chen lẫn cùng đậu đỏ ngọt bùi. Tôi nheo mắt trước cái mùi thơm thanh thanh, hơi the tinh dầu, nhưng chưa kịp gọi tên thì đã chìm vào sự mềm mịn của những viên thạch matcha núng nẩy bên trong.
Để cuối cùng, lớp bánh chiffon xốp mềm như bông thấm trọn tất cả trải nghiệm ấy, đẩy chúng trôi tuột dần, chỉ giữ lại chút thanh khiết của hương trà vấn vương cổ họng. Khi vẫn còn lạc lối trong dư vị vừa rồi, tôi đã múc thêm muỗng đầy lúc nào không hay.
- Ngon lắm! Em ăn thử xem.
Dứt câu, toàn thân tôi bất động. Chiếc muỗng gỗ đang dừng lại ngay miệng Kei. Em ấy chằm chằm nhìn càng làm nụ cười trên môi tôi thêm sượng trân. Nhận thức ra thì đã muộn. Chuyện lỡ làng đến mức này muốn rút cũng khó, chi bằng giả ngơ làm liều một phen. Tôi nhủ thầm rồi điều chỉnh nụ cười cho thật tươi, giả lả:
- Ngon thật đấy... Nhưng nếu em chê thì thôi.
Đương rút tay về, Kei đã cúi người lấn tới, thản nhiên há miệng ăn ngon lành, chỉ là ánh mắt từ đầu đến cuối cứ dán vào tôi hoài.
- Ưm. Quả nhiên ngon. Rất nhiều hương vị ở đây.
Mắt em ấy trợn lên, liên tục gật gù. Riêng tôi tiếp tục giả ngơ.
- Anh bảo rồi mà.
Không khí lại nối tiếp với những câu chuyện về địa điểm kế. Suốt khoảng thời gian sau, tôi vẫn cố để tâm đến lời Kei giới thiệu, vẫn nghe được âm thanh đời thường, vẫn ngửi thấy mùi tương ngọt xèo xèo trên than hồng, vẫn quan sát mọi thứ quanh mình. Nhưng có một bóng mờ thuộc về quá khứ cứ lặp mãi trong đầu, cuốn lấy cảm xúc của tôi hơn tất cả những gì đang diễn ra trước mắt.
*****
Cửa tàu điện mở ra ở ga Inari cùng với hồi chuông cảnh báo vang lên. Tôi bước ra sân ga, cạnh những du khách khác và những dáng đứng thướt tha trong những bộ kimono thanh nhã. Tâm trạng đang bừng bừng khí thế trước địa điểm vừa đến, thì chợt nhận ra Kei không ở bên cạnh. Ngoảnh lại, em ấy đã dừng lại phía sau cách vài bước chân, mặc cho dòng người chảy qua. Ánh mắt vô định nhướng lên cao, tựa như đang kiểm tra lại ký ức. Đến khi bắt gặp cái nhìn của tôi, Kei mới vội bước lại gần.
- Hiếm khi thấy em như vậy đấy.
Tôi hỏi nhỏ và Kei hơi bĩu môi ra trông như đang cân nhắc điều gì đó trước khi trả lời.
- Cũng không có gì. Chẳng qua... nơi này có phần đặc biệt hơn những chỗ chúng ta từng đi. Anh thấy sao?
- Fushimi Inari thì nổi tiếng quá rồi. Anh rất mong chờ đấy."
Hiện giờ cả hai đang đứng trước cổng O-torii khổng lồ đánh dấu lối vào đền.
- Em chụp giúp anh một tấm ở đây được không?
Tôi chỉ tay vào chân cổng. Kei đồng ý chụp ảnh cho tôi, nhưng không phải ở đây – mà là chiếc cổng thứ hai nằm sâu bên trong. Em ấy nói rằng chụp ở đó sẽ đẹp hơn rất nhiều. Thế rồi chúng tôi cúi đầu nhẹ, men theo lối trái mà đi. Con đường lát đá dẫn vào trong với hàng cây xanh hai bên. Càng tiến sâu, tiếng ồn ào xe cộ từ ngoài đường lộ thưa thớt dần. Không khí phố xá bình thường dần chuyển sang một không gian cổ xưa hơn. Chiếc O-torii thứ hai hiện ra, phía xa là cổng Romon màu đỏ son rực rỡ, nổi bật giữa nền trời xanh và mây trắng.
Du khách tứ phía ùn ùn đổ về đền, đâu đâu cũng thấy bóng người. Khó khăn lắm, Kei mới chụp vội được một bức không dính ai trong đó. Xong phần tôi, cả hai còn cùng chụp chung một tấm khác, đánh dấu điểm khởi đầu cho chuyến hành trình leo núi. Trong bức ảnh, tôi vui cười, em ấy cũng cười tươi, chẳng hề có khoảng cách.
Trước khi bước qua Romon để tiến vào trong, tôi và Kei lại cúi chào lần nữa. Điện thờ chính đã ở ngay trước, đông đúc du khách ném tiền xu và vỗ tay cầu nguyện. Kei dẫn tôi lững thững rẽ sang lối đi bên cạnh, đến với Senbon Torii – nơi bắt đầu đường hầm cổng torii sơn đỏ nổi tiếng. Đường dẫn lên núi có kha khá người leo lên, người đi xuống. Kei đi trước, đùa rằng để mở đường. Tôi lặng yên đi theo, nhận thấy vai Kei hơi buông thõng xuống, thư giãn khi bước vào không gian ấy.
Những hàng cổng torii đầu tiên đủ rộng để ba người đi song song, lớp sơn mới lấp lánh dưới ánh nắng. Nhưng có những cổng, sơn đã ngả màu bạc phếch. Mỗi bước chân, một lớp cổng mới lại xuất hiện ở ngay tầm mắt, vút ngang, rồi khuất dạng sau góc mắt, giống như đang đi vào một chiều không gian khác. Chúng tôi đi tiếp đến đoạn có hai lối đi song song. Những cánh cổng chỗ này nhỏ hơn, nằm san sát. Nắng mặt trời biến cả đoạn đường thành một đường hầm kỳ bí màu cam đang rực sáng. Ánh sáng chen chúc qua các khe hẹp giữa nhịp điệu dày đặc của gỗ, tạo nên những vệt sáng tối xen kẽ. Hiệu ứng mê hoặc như đi xuyên qua chiếc kính vạn hoa.
Kei dạo bước chậm rãi, ngón tay thỉnh thoảng lại nghịch ngợm chạm nhẹ vào những cột gỗ khi đi qua. Tôi bỗng chăm chú quan sát trò chơi của ánh sáng và bóng tối trên góc nghiêng khuôn mặt Kei. Đôi lần, em ấy nhìn sang, chẳng biết là hứng thú với cảnh sắc quanh đây hay đã phát giác ánh nhìn của tôi mà lại nhoẻn miệng.
Bình thường mà đúng không? Kei đằng trước, tôi thì ở sau. Việc nhìn thẳng người trước mặt là lẽ thường. Tôi nắm vạt áo, chuẩn bị tinh thần cho việc em ấy tò mò hỏi hoặc trêu. Nếu thế tôi hoàn toàn có thể biện minh mà không chớp mắt. Ấy vậy, lòng tôi không cho là vậy. Chợt nghĩ… nếu em ấy quay lại hỏi, có chăng lần này tôi còn tránh nữa không. Tiếc thay, Kei đã tước mất cơ hội. Hiệu ứng thị giác từ lối đi song song qua khe hẹp giữa các cổng chắc đó mới là nguyên nhân cho nụ cười mỉm ấy.
- Nhớ không nhầm... núi Inari có gần mười ngàn cánh cổng torii trải dài lên núi phải không?
Cuối cùng tôi cũng lên tiếng, bởi chỉ muốn kết nối với Kei bằng một câu chuyện, một lời nói, bất cứ thứ gì. Lúc này, Kei mới ngoảnh lại, chờ tôi bước cùng
- Vâng, thống kê là vậy, và mỗi ngày đều sẽ có một cổng khác được thay mới. Có thể nói...
Kei dừng lại một lát rồi tiếp:
- Chúng ta đang đi trên con đường được dựng lên bằng vô số ước nguyện của người dân trên khắp Nhật Bản đấy. Nghe vậy… tự nhiên thấy con đường này khác hẳn nhỉ, Senpai?
- Anh nổi hứng muốn đếm thử ghê. Đã đến lúc bữa cơm trưa nay phát huy tác dụng rồi nhỉ?
Tôi tuyên bố chắc nịch, ưỡn vai với vẻ quyết tâm vờ vĩnh. Kei bật cười một tiếng, vỗ nhẹ lên vai tôi, trao sự khích lệ tinh thần.
- Tuyệt. Em hy vọng anh có đủ sức cho việc đó. Nhưng anh sẽ phải tự thống kê một mình đấy, Senpai.
Trước khi tôi kịp lườm nguýt, Kei đã phóng như bay về phía trước, tạo ra một khoảng cách khá xa giữa chúng tôi. Sự phẫn nộ của tôi trở nên vô ích khi chẳng biết trút vào đâu. Tôi cũng lao nhanh đến, hích vào vai Kei không khoan nhượng đáp trả:
- Ai cần em đếm phụ chứ.
Kei toe toét, khoe hàm răng trắng. Chúng tôi giờ đi cạnh nhau, tay vung vẩy, thỉnh thoảng các ngón tay lại va vào, vậy mà tôi chẳng muốn nhích sang bên kia dù chỉ một chút. Bước ra từ đường hầm son đỏ rực rỡ, cả hai tức khắc bị cuốn vào một dòng sông người. Tôi đã lường trước đám đông ngay từ lúc đứng ngoài cổng - Fushimi Inari vốn chẳng bao giờ thực sự yên tĩnh - nhưng mật độ người vẫn khiến tôi khá bất ngờ. Những nhóm học sinh mặc đồng phục di chuyển thành từng cụm không đều, tiếng trò chuyện dâng lên rồi hạ xuống như tầng lớp sóng vỗ. Nhóm du khách nước ngoài dừng lại sau mỗi ba bước chân để chụp ảnh những cổng torii bằng điện thoại, tạo ra những xoáy nhỏ tắc nghẽn lan ngược trở lại dòng người. Không khí thoang thoảng mùi nhang, mồ hôi và mùi mục rỗng của lá thu rơi.
Tôi và Kei dừng lại ở chỗ đường rộng ra đầu tiên, nép gọn sang bên nhường đường cho ba người đi bộ đường dài lớn tuổi. Mật độ đám đông dày đặc khiến tôi khó lòng cảm nhận được bầu không khí tâm linh mà mình từng nghe. Không những vậy, cảm giác tôi và Kei cũng đang tách nhau ra trước đám đông. Dường như đọc được suy nghĩ qua cái nhìn ngơ ngác của tôi, Kei ghé sát, giọng nhẹ nhàng đối lập với tiếng ồn xung quanh.
- Con đường chính lúc nào cũng thế này. Nếu chúng ta đi vào sáng sớm hoặc chiều muộn thì sẽ vắng hơn.
Kei nói, khóe miệng nở một nụ cười hiểu biết.
- Tháng du lịch mà, nên không tránh khỏi việc này. Coi bộ... chúng ta sẽ tốn nhiều thời gian để leo lên đấy.
Tôi nhìn con đường chính đang chật kín - một hàng người leo núi dày đặc uốn khúc trên những bậc đá.
- Em biết một lối mòn yên tĩnh hơn, sẽ cho chúng ta góc nhìn khác. Lúc xuống núi, chúng ta có thể quay lại đường chính để trải nghiệm cả hai tuyến đường. Anh thấy thế nào?
Kei thọc tay vào túi, một cử chỉ bình thường ở em ấy nhưng giờ lại trông có gì đó không tự nhiên.
- Tuyệt vời. Đi thôi.
Tôi phấn khích đến nỗi đưa tay về trước. Vô ý thế nào lại quẹt trúng tay của một ông chú, thành ra phải ngượng ngùng cúi đầu xin lỗi. Tất nhiên, người cạnh bên chẳng từ bỏ cơ hội nhếch môi một cái. Tôi đưa mắt xuống đất, thật chẳng biết giấu mặt vào đâu với sự quá đà vừa rồi.
Chúng tôi đi theo dòng người đang chậm rãi di chuyển. Giữa chừng Kei dẫn tôi chuyển sang lối mòn hơi dốc, hình bậc thang, đất bị mài mòn với những gờ bằng tre, gỗ mà phần lớn du khách thường bỏ qua. Một tấm biển gỗ đánh dấu chỗ rẽ, đã phai màu vì thời tiết.
Khi rẽ sang con đường phụ, thế giới xung quanh liền thay đổi. Tiếng ồn ào hỗn loạn của lối chính dần tan vào khoảng không xa xăm, thay vào đó là tiếng gió dạo chơi trên các nhành cây xa tít trên cao. Bậc đá nhường chỗ cho mặt đất lồi lõm. Con đường ngập trong bóng râm, với vách đất và những lùm cây, bụi dương xỉ, rễ cây trườn ngang trên mặt đường. Dọc đường, tôi vẫn thấy vài bóng lưng người, nhưng so với lối đi chính thì khác một trời một vực. Phía trước - nơi rễ cây lớn trồi lên chắn ngang đường - lấp ló dáng dấp chiếc cổng torii bằng đá, với tượng Komainu oai vệ canh gác hai bên.
- Senpai, kia là đền Fushimi Kandakara đấy.
Đến gần hơn, con đường lát đá dẫn vào một công trình khiêm tốn, mộc mạc với một gian chính. Mái ngói và xà gỗ đã sẫm màu như đất ẩm. Đền không có người trông coi, chỉ có vài du khách đang tham quan. Kei dừng lại bên những chậu cây cảnh xinh xắn xếp dưới chân tượng Komainu. Em ấy đứng nhìn ngôi đền, trọng tâm dồn sang một chân, tay thả lỏng. Kei quay sang:
- Anh có muốn vào không?
- Đã đến đây rồi, em còn hỏi nữa sao?
- Ừ, vậy chúng ta tham quan một chút.
Trước khi tiến vào, chúng tôi lại thực hiện nghi thức cúi đầu quen thuộc. Nơi đây thực sự nhỏ, có lẽ giống đền Yasui Konpira-gu. Tôi kéo áo Kei, đưa tay về phía đền chính, đùa cợt một câu:
- Mời nhà lịch sử học của chúng ta giới thiệu về ngôi đền này xem.
Kei thật biết cách nhập vai. Nghe vậy, em ấy cười khì một tiếng, đứng thẳng, hai tay ép sát vào người rồi cúi đầu. Dáng vẻ nghiêm trang giống như đang sửa soạn trước lúc thuyết trình vậy.
- Vâng, thưa ngài.
Tôi đưa mắt nhìn quanh. Vài du khách khác đang ở phía trong, người quay phim, người rung chuông cầu nguyện. Chẳng ai hay về màn tấu hài diễn ra phía ngoài. Tuy không phải lần đầu, nhưng việc nhịn cười với tôi có lúc vẫn là điều khó khăn. Kei không mấy để tâm đến vẻ nín cười của tôi, trực tiếp bài diễn thuyết của mình.
- Nơi đây không thuộc nhánh của đền Fushimi Inari. Ngôi đền này thờ nữ thần mặt trời Amaterasu Omikami và thần Rồng Inari Okami, và một số vị thần bảo hộ khác.
Kei chỉ về hai bức tượng rồng nhỏ đặt trước gian đền chính.
- Điểm khác biệt nữa nằm ở linh vật ở đây là rồng chứ không phải cáo. Ngoài ra... đền được cho là nơi lưu giữ mười loại báu vật thần thánh của nữ thần Mặt Trời, và theo lời truyền là có mối liên hệ với truyền thuyết Taketori Monogatari nữa đấy, Senpai.
Nghe vậy, tôi mới ngẩn người, hướng mắt đến rừng tre đằng sau đền, ngẫm một lúc.
- Chắc không chỉ vì... rừng tre thôi phải không? Hay còn yếu tố nào khác? Bởi Arashiyama cũng có rừng tre nổi tiếng.
- Anh nói đúng một phần. Không hẳn vì có nhiều tre. Còn vài yếu tố khác như khung cảnh trên núi Inari rất huyền bí, tạo cảm giác như nơi giao hòa giữa trần tục và nơi ở của các vị thần. Lại còn thuộc trung tâm văn hóa Kyoto cổ nữa, nên người xưa mới gán truyền thuyết này cho nơi đây.
- Chậc... Đúng là không làm khó được Kei nhà ta.
Nghe xong, tôi lập tức vỗ tay, không ngừng tấm tắc. Trong khi đó, Kei vẫn chưa chịu thôi cái trò diễn kịch. Gương mặt đắc ý, em ấy đưa tay phải lên ngực, hơi khẽ cúi đầu. Sự xuất hiện bất ngờ của vài du khách vừa tới khiến tôi phải nhăn mặt.
- Người ta nhìn kìa.
- Có sao đâu. Vả lại, em tưởng anh thích trò này chứ.
Tôi chống nạnh, lắc đầu.
- Thật hết cách với em đó, Kei.