Quyển 1 - Chương 2: Luật sư tập sự
(*) Bối cảnh truyện giả tưởng dựa trên nền tảng xã hội Việt Nam, các tên địa danh hoàn toàn là giả tưởng.
Hùng Vỹ nhìn Bội, Bội cười gật đầu như xác nhận lời anh nói.
- Toàn bộ sách ở đây đều là của gia đình tôi, hiện tại thì nó thuộc về tôi. - Bội nói rồi đứng dậy, bước về phía Vỹ.
Thấy Vỹ sững ra tại chỗ, Bội huých anh, nói:
- Đi thôi, tôi tiễn anh về. Nếu anh đọc cuốn sách này thì chắc sẽ hiểu ít nhiều về tôi đấy.
Vỹ thật sự ngẩn người. Trong một thoáng anh đã nghĩ toàn bộ sách ở đây đều là do Bội chắp bút. Sau đó, anh phải bật cười vì sự hoang đường của bản thân. Một suy nghĩ quái lạ như vậy mà anh cũng có thể nghĩ ra được, sự lý trí của anh rốt cuộc đâu rồi?
Mặc dù con đường đến nơi hơi trúc trắc, thế nhưng Hùng Vỹ đi về đến nhà rất thông thuận, không có vấn đề gì cả. Anh cho rằng mình đã thuộc đường, điều này cũng tốt, đến khi anh cần tìm đến Bội để hỏi ngọn ngành nếu có thì cũng tiện.
Ơ nhưng mà, anh cứ cảm thấy cuộc gặp này nó dở hơi làm sao ấy?
___
Hùng Vỹ trở về nhà, tắm rửa rồi xuống ăn cơm cùng bố mẹ, sau đó lên phòng làm việc. Anh vẫn còn là một luật sư tập sự nên không thể lười biếng. Bản thân anh vẫn cho rằng mình còn đang học, nhưng là học thực tế ở đời.
Hùng Vỹ là một con người siêng năng và kỷ luật từ bé. Mọi công việc đều phải được hoàn thành theo kế hoạch đề ra. Anh không cho phép bản thân là một kẻ lười biếng và thiếu trách nhiệm với bản thân.
Gia đình anh là một gia đình học thức kiểu mẫu, bố mẹ anh đều là nhà giáo, quen nhau từ khi còn nghèo, yêu đương nghiêm túc và hết mình vì sự nghiệp trồng người. Họ sinh ra Hùng Vỹ và nuôi nấng anh trong yêu thương và khuôn phép, dung dưỡng nên con người anh được như ngày hôm nay.
Vỹ vốn định học vào ngành giáo dục như bố mẹ, nhưng vì một số cơ duyên, anh rẽ hướng sang học luật.
Thật lòng thì ban đầu anh không định sống với nghề luật, chỉ là học vì phù hợp với định hướng chuyên ban, được bác cả tư vấn định hướng và cũng có một phần muốn thử sức với việc thi ngành học có thể nói là khó nhất của ban xã hội, không ngờ lại đậu.
Đậu vào trường Đại học Luật Quốc gia, ngành Luật học, chuyên ngành Luật Dân sự có thể coi là một thành tựu lớn đầu tiên của Hùng Vỹ, khiến gia đình và bản thân anh tự hào.
Nhưng Hùng Vỹ nhanh chóng đối mặt với vấn đề đầu tiên.
Đó là anh chưa thật sự yêu, chưa thật sự cảm được ngành học, chưa thật sự biết mình cần làm gì, mình muốn gì, mình có định hướng tương lai ra sao sau khi ra trường.
Giờ nhìn nhận lại, Vỹ nghĩ, đó là điều mà ai cũng phải trải qua với tư cách là một người trẻ đang chuẩn bị cho hành trang trưởng thành.
Vỹ thấy mình là một người may mắn, may mắn vì khi chỉ còn không bao lâu nữa sẽ phải tiến ra xã hội với tư cách là một người trưởng thành, bản thân đã tìm được con đường sáng.
Anh không bao giờ quên phiên tòa đầu tiên mình được tham gia.
Đó là năm thứ ba đại học, khi anh được giới thiệu thực tập tại Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố.
Người hướng dẫn anh là chị Quỳnh, thư ký thẩm phán, đảm nhận vai trò viết biên bản các phiên tòa, phát hành án, lưu trữ án.
Chị Quỳnh rất dễ chịu, dễ tính, đôi khi hơi cẩu thả trong sinh hoạt hằng ngày. Thế nhưng trong công việc, chị ấy là một người vô cùng kỹ tính và kỷ luật, đúng tác phong của một cán bộ trong ngành tư pháp.
Hùng Vỹ nghĩ, một sinh viên ngành luật như mình chắc chỉ có thể ngồi ở văn phòng, lo chỉnh lý các hồ sơ, tài liệu, hỗ trợ công việc cho các anh chị, cô chú trong cơ quan, đôi khi hỗ trợ việc trà nước bên phòng tiếp dân là được. Anh vẫn luôn cố gắng hết mình, chủ động trong những công việc được giao.
Mọi chuyện cứ thế trôi qua được vài hôm, cho đến khi bản thân được chị hướng dẫn gọi vào một phiên xét xử phúc thẩm.
Thực chất, Hùng Vỹ cũng rất muốn vào trải nghiệm cảm giác được tham dự một phiên tòa.
Ngặt nỗi, cánh cửa phòng xử án luôn được đóng kín, người ra người vào phải được kiểm tra thân phận, giấy tờ, đương sự có liên quan thì cần được đọc tên mới được cho vào.
Vỹ vẫn nhớ hôm ấy, khi cả đám thực tập đang loay hoay phụ việc lưu trữ hồ sơ, chị Quỳnh nháy mắt với bọn họ, nói: “Vào xem thử một phiên không? Phiên này chị làm thư ký, chị dẫn các em vào, xem có học hỏi, có được mở mang tầm mắt không. Vụ này hay lắm.”
Anh cũng nhớ cái cảm giác tim đập thình thịch vì phấn khích, háo hức, mong đợi, xen lẫn chút lo lắng mơ hồ, không biết mình có lỡ phạm phải nội quy của phòng xử án hay không. Anh tin là hai người bạn của mình cũng vậy.
Thế là ba thực tập sinh có mặt ở tòa hôm ấy, một nữ, hai nam cùng hồi hộp bước vào phòng xử án, ngồi ở hàng ghế dưới cùng một cách nghiêm chỉnh, gần như không dám phát ra tiếng động.
Vừa bước vào, yên vị, cái không khí nghiêm minh, trang trọng của phòng xử án đã đập thẳng vào người đám thực tập sinh bọn họ.
Đây là một vụ án khá đặc biệt, nằm ở ranh giới giữa vụ việc mang tính chất hình sự và tranh chấp dân sự.
Sát giờ, Thư ký phiên tòa bắt đầu kiểm tra giấy tờ, sự có mặt của những người có liên quan trong phiên tòa của ngày hôm nay.
Khi gọi đến tên bị cáo, các cảnh sát tư pháp trong cảnh phục chỉnh tề đưa bị cáo nữ trung niên độ ba mươi mấy, bốn mươi mấy tuổi, trông có vẻ hơi tiều tụy, mặc áo xanh lá nhạt, nhạt hơn màu cảnh phục một chút lên vị trí ngồi ở gần bục khai báo.
Vì đây là phiên xét xử phúc thẩm nên bị cáo thống nhất mặc áo màu xanh lá nhạt, phiên sơ thẩm sẽ là màu xanh dương.
Tất cả mọi người, bao gồm đại diện Viện kiểm sát, luật sư bào chữa, gia đình bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đều có mặt đông đủ.
Đúng giờ, chuông reo.
Tiếng chuông reo mang theo một áp lực còn lớn hơn nữa, khiến ba cô cậu sinh viên cũng hơi giật mình.
Đây là lúc Hội đồng xét xử bước vào.
Mọi người trong phòng xử án đồng loại đứng lên chào.
Sau đó, mọi người được ngồi xuống, riêng bị cáo vẫn đứng nghe Chủ tọa phiên tòa khai mạc đọc Quyết định xét xử.
Thư ký phiên tòa báo cáo với Hội đồng xét xử về sự có mặt, vắng mặt của những người được Tòa án triệu tập hoặc được mời và lý do vắng mặt.
Nghe xong, Chủ tọa phiên tòa kiểm tra lại sự có mặt của những người có mặt tại phiên tòa theo giấy triệu tập, giấy mời của Tòa án; kiểm tra lý lịch, phổ biến quyền và nghĩa vụ của họ; giải thích cho họ biết về những bản án, quyết định được công bố trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án và quyền của họ về việc yêu cầu Tòa án không công bố những nội dung liên quan đến bí mật cá nhân, bí mật gia đình, bí mật kinh doanh.
Sau đó, Chủ tọa giới thiệu những người tiến hành tố tụng và hỏi những người tham gia tố tụng xem họ có đề nghị thay đổi Thẩm phán, Kiểm sát viên và Thư ký phiên tòa hay không.
Khi xác nhận không có yêu cầu thay đổi, Chủ tọa phiên tòa hỏi người kháng cáo có bổ sung, thay đổi hay rút kháng cáo hay không.
Bị cáo nữ đáp: “Bị cáo không rút kháng cáo.”
Chủ tọa phiên tòa tiếp tục hỏi Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng xem có ai yêu cầu bổ sung chứng cứ mới, tài liệu, đồ vật, triệu tập thêm người làm chứng hay không.
Tất cả mọi thủ tục bắt đầu phiên tòa được tiến hành một cách liền mạch, trơn tru, trong sự nghiêm minh và thượng tôn pháp luật.
Cả phòng xử án im lặng, không có tiếng xôn xao ồn ào nên giọng Chủ tọa phiên tòa hỏi, các bên đáp vô cùng rành mạch, rõ ràng. Điều đó vô hình trung khiến cho không khí phiên tòa đã nghiêm minh nay lại càng thêm áp lực, căng thẳng.
Ngay sau khi thủ tục hoàn thành, thành viên đại diện Hội đồng xét xử tiến hành đọc lại nội dung vụ án.
Lúc này, Vỹ và hai người bạn của mình mới được biết nội dung vụ án mà họ được tham gia hôm nay.
Đây là một vụ án xét xử “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Trong quá trình làm việc tại cơ quan, nữ bị cáo Nguyễn Thu Phương, 38 tuổi, đã nhiều lần vay mượn tiền của nhiều người để mua bán, kinh doanh bất động sản nhưng mất khả năng thanh toán. Từ đó, bị cáo Phương nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của các đồng nghiệp làm cùng cơ quan bằng cách vay tiền của người này rồi trả cho người khác, cũng có khi chỉ trả một phần vốn và lãi cho chính họ. Để vay được tiền, bị cáo Phương đã nói dối mục đích vay để đầu tư bất động sản và chi trả lãi suất cao là 0,4%/ngày, tương đương 12%/tháng để tạo lòng tin của các đồng nghiệp.
Với thủ đoạn nêu trên, Phương đã vay mượn và chiếm đoạt tiền của sáu đồng nghiệp khác nhau, việc giao nhận tiền chủ yếu thông qua chuyển khoản và không thường xuyên viết giấy vay mượn.
Thông qua việc đối chiếu sao kê các tài khoản tại các ngân hàng khác nhau của bị cáo và các bị hại, cơ quan điều tra xác định con số cho vay lên đến hàng trăm lần, tổng số tiền cho vay lên đến hàng trăm tỷ đồng, tổng số tiền trả nợ gốc và lãi cũng lên đến hàng trăm tỷ đồng.
Cuối cùng, sau khi lấy số tiền gốc trừ tổng số tiền Phương đã trả cho các đồng nghiệp, con số Phương chiếm đoạt được xác định là 5.104.440.000 đồng.
Phiên sơ thẩm đã kết thúc với Bản án sơ thẩm tuyên bị cáo Nguyễn Thu Phương phạm “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, xử phạt bị cáo 15 năm tù.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và công bố quyền kháng cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Thu Phương có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
(*) Bối cảnh truyện giả tưởng dựa trên nền tảng xã hội Việt Nam, các tên địa danh hoàn toàn là giả tưởng.
Hùng Vỹ nhìn Bội, Bội cười gật đầu như xác nhận lời anh nói.
- Toàn bộ sách ở đây đều là của gia đình tôi, hiện tại thì nó thuộc về tôi. - Bội nói rồi đứng dậy, bước về phía Vỹ.
Thấy Vỹ sững ra tại chỗ, Bội huých anh, nói:
- Đi thôi, tôi tiễn anh về. Nếu anh đọc cuốn sách này thì chắc sẽ hiểu ít nhiều về tôi đấy.
Vỹ thật sự ngẩn người. Trong một thoáng anh đã nghĩ toàn bộ sách ở đây đều là do Bội chắp bút. Sau đó, anh phải bật cười vì sự hoang đường của bản thân. Một suy nghĩ quái lạ như vậy mà anh cũng có thể nghĩ ra được, sự lý trí của anh rốt cuộc đâu rồi?
Mặc dù con đường đến nơi hơi trúc trắc, thế nhưng Hùng Vỹ đi về đến nhà rất thông thuận, không có vấn đề gì cả. Anh cho rằng mình đã thuộc đường, điều này cũng tốt, đến khi anh cần tìm đến Bội để hỏi ngọn ngành nếu có thì cũng tiện.
Ơ nhưng mà, anh cứ cảm thấy cuộc gặp này nó dở hơi làm sao ấy?
___
Hùng Vỹ trở về nhà, tắm rửa rồi xuống ăn cơm cùng bố mẹ, sau đó lên phòng làm việc. Anh vẫn còn là một luật sư tập sự nên không thể lười biếng. Bản thân anh vẫn cho rằng mình còn đang học, nhưng là học thực tế ở đời.
Hùng Vỹ là một con người siêng năng và kỷ luật từ bé. Mọi công việc đều phải được hoàn thành theo kế hoạch đề ra. Anh không cho phép bản thân là một kẻ lười biếng và thiếu trách nhiệm với bản thân.
Gia đình anh là một gia đình học thức kiểu mẫu, bố mẹ anh đều là nhà giáo, quen nhau từ khi còn nghèo, yêu đương nghiêm túc và hết mình vì sự nghiệp trồng người. Họ sinh ra Hùng Vỹ và nuôi nấng anh trong yêu thương và khuôn phép, dung dưỡng nên con người anh được như ngày hôm nay.
Vỹ vốn định học vào ngành giáo dục như bố mẹ, nhưng vì một số cơ duyên, anh rẽ hướng sang học luật.
Thật lòng thì ban đầu anh không định sống với nghề luật, chỉ là học vì phù hợp với định hướng chuyên ban, được bác cả tư vấn định hướng và cũng có một phần muốn thử sức với việc thi ngành học có thể nói là khó nhất của ban xã hội, không ngờ lại đậu.
Đậu vào trường Đại học Luật Quốc gia, ngành Luật học, chuyên ngành Luật Dân sự có thể coi là một thành tựu lớn đầu tiên của Hùng Vỹ, khiến gia đình và bản thân anh tự hào.
Nhưng Hùng Vỹ nhanh chóng đối mặt với vấn đề đầu tiên.
Đó là anh chưa thật sự yêu, chưa thật sự cảm được ngành học, chưa thật sự biết mình cần làm gì, mình muốn gì, mình có định hướng tương lai ra sao sau khi ra trường.
Giờ nhìn nhận lại, Vỹ nghĩ, đó là điều mà ai cũng phải trải qua với tư cách là một người trẻ đang chuẩn bị cho hành trang trưởng thành.
Vỹ thấy mình là một người may mắn, may mắn vì khi chỉ còn không bao lâu nữa sẽ phải tiến ra xã hội với tư cách là một người trưởng thành, bản thân đã tìm được con đường sáng.
Anh không bao giờ quên phiên tòa đầu tiên mình được tham gia.
Đó là năm thứ ba đại học, khi anh được giới thiệu thực tập tại Tòa án nhân dân tối cao thành phố.
Người hướng dẫn anh là chị Quỳnh, thư ký thẩm phán, đảm nhận vai trò viết biên bản các phiên tòa, phát hành án, lưu trữ án.
Chị Quỳnh rất dễ chịu, dễ tính, đôi khi hơi cẩu thả trong sinh hoạt hằng ngày. Thế nhưng trong công việc, chị ấy là một người vô cùng kỹ tính và kỷ luật, đúng tác phong của một cán bộ trong ngành tư pháp.
Hùng Vỹ nghĩ, một sinh viên ngành luật như mình chắc chỉ có thể ngồi ở văn phòng, lo chỉnh lý các hồ sơ, tài liệu, hỗ trợ công việc cho các anh chị, cô chú trong tòa, đôi khi hỗ trợ việc trà nước bên phòng tiếp dân là được. Anh vẫn luôn cố gắng hết mình, chủ động trong những công việc được giao.
Mọi chuyện cứ thế trôi qua được vài hôm, cho đến khi bản thân được chị hướng dẫn gọi vào một phiên xét xử phúc thẩm.
Thực chất, Hùng Vỹ cũng rất muốn vào trải nghiệm cảm giác được tham dự một phiên tòa.
Ngặt nỗi, cánh cửa phòng xử án luôn được đóng kín, người ra người vào phải được kiểm tra thân phận, giấy tờ, đương sự có liên quan thì cần được đọc tên mới được cho vào.
Vỹ vẫn nhớ hôm ấy, khi cả đám thực tập đang loay hoay phụ việc lưu trữ hồ sơ, chị Quỳnh nháy mắt với bọn họ, nói: “Vào xem thử một phiên không? Phiên này chị làm thư ký, chị dẫn các em vào, xem có học hỏi, có được mở mang tầm mắt không. Vụ này hay lắm.”
Anh cũng nhớ cái cảm giác tim đập thình thịch vì phấn khích, háo hức, mong đợi, xen lẫn chút lo lắng mơ hồ, không biết mình có lỡ phạm phải nội quy của phòng xử án hay không. Anh tin là hai người bạn của mình cũng vậy.
Thế là ba thực tập sinh có mặt ở tòa hôm ấy, một nữ, hai nam cùng hồi hộp bước vào phòng xử án, ngồi ở hàng ghế dưới cùng một cách nghiêm chỉnh, gần như không dám phát ra tiếng động.
Vừa bước vào, yên vị, cái không khí nghiêm minh, trang trọng của phòng xử án đã đập thẳng vào người đám thực tập sinh bọn họ.
Đây là một vụ án khá đặc biệt, nằm ở ranh giới giữa án hình sự và dân sự.
Sát giờ, Thư ký phiên tòa bắt đầu kiểm tra giấy tờ, sự có mặt của những người có liên quan trong phiên tòa của ngày hôm nay.
Khi gọi đến tên bị cáo, các cảnh sát tư pháp trong cảnh phục chỉnh tề đưa bị cáo nữ trung niên độ ba mươi mấy, bốn mươi mấy tuổi, trông có vẻ hơi tiều tụy, mặc áo xanh lá nhạt, nhạt hơn màu cảnh phục một chút lên vị trí ngồi ở gần bục khai báo.
Vì đây là phiên xét xử phúc thẩm nên bị cáo thống nhất mặc áo màu xanh lá nhạt, phiên sơ thẩm sẽ là màu xanh dương.
Tất cả mọi người, bao gồm đại diện Viện kiểm sát, luật sư bào chữa, gia đình bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đều có mặt đông đủ.
Đúng giờ, chuông reo.
Tiếng chuông reo mang theo một áp lực còn lớn hơn nữa, khiến ba cô cậu sinh viên cũng hơi giật mình.
Đây là lúc Hội đồng xét xử bước vào.
Mọi người trong phòng xử án đồng loại đứng lên chào.
Sáu đó, mọi người được ngồi xuống, riêng bị cáo vẫn đứng nghe Chủ tọa phiên tòa khai mạc đọc Quyết định xét xử.
Thư ký phiên tòa báo cáo với Hội đồng xét xử về sự có mặt, vắng mặt của những người được Tòa án triệu tập hoặc được mời và lý do vắng mặt.
Nghe xong, Chủ tọa phiên tòa kiểm tra lại sự có mặt của những người có mặt tại phiên tòa theo giấy triệu tập, giấy mời của Tòa án; kiểm tra lý lịch, phổ biến quyền và nghĩa vụ của họ; giải thích cho họ biết về những bản án, quyết định được công bố trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án và quyền của họ về việc yêu cầu Tòa án không công bố những nội dung liên quan đến bí mật cá nhân, bí mật gia đình, bí mật kinh doanh.
Sau đó, Chủ tọa giới thiệu những người tiến hành tố tụng và hỏi những người tham gia tố tụng xem họ có đề nghị thay đổi Thẩm phán, Kiểm sát viên và Thư ký phiên tòa hay không.
Khi xác nhận không có yêu cầu thay đổi, Chủ tọa phiên tòa hỏi người kháng cáo có bổ sung, thay đổi hay rút kháng cáo hay không.
Bị cáo nữ đáp: “Bị cáo không rút kháng cáo.”
Chủ tọa phiên tòa tiếp tục hỏi Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng xem có ai yêu cầu bổ sung chứng cứ mới, tài liệu, đồ vật, triệu tập thêm người làm chứng hay không.
Tất cả mọi thủ tục bắt đầu phiên tòa được tiến hành một cách liền mạch, trơn tru, trong sự nghiêm minh và thượng tôn pháp luật.
Cả phòng xử án im lặng, không có tiếng xôn xao ồn ào nên giọng Chủ tọa phiên tòa hỏi, các bên đáp vô cùng rành mạch, rõ ràng. Điều đó vô hình trung khiến cho không khí phiên tòa đã nghiêm minh nay lại càng thêm áp lực, căng thẳng.
Ngay sau khi thủ tục hoàn thành, thành viên đại diện Hội đồng xét xử tiến hành đọc lại nội dung vụ án.
Lúc này, Vỹ và hai người bạn của mình mới được biết nội dung vụ án mà họ được tham gia hôm nay.
Đây là một vụ án xét xử “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Trong quá trình làm việc tại cơ quan, nữ bị cáo Nguyễn Thu Phương, 38 tuổi, đã nhiều lần vay mượn tiền của nhiều người để mua bán, kinh doanh bất động sản nhưng mất khả năng thanh toán. Từ đó, bị cáo Phương nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của các đồng nghiệp làm cùng cơ quan bằng cách vay tiền của người này rồi trả cho người khác, cũng có khi chỉ trả một phần vốn và lãi cho chính họ. Để vay được tiền, bị cáo Phương đã nói dối mục đích vay để đầu tư bất động sản và chi trả lãi suất cao là 0,4%/ngày, tương đương 12%/tháng để tạo lòng tin của các đồng nghiệp.
Với thủ đoạn nêu trên, Phương đã vay mượn và chiếm đoạt tiền của sáu đồng nghiệp khác nhau, việc giao nhận tiền chủ yếu thông qua chuyển khoản và không thường xuyên viết giấy vay mượn.
Thông qua việc đối chiếu sao kê các tài khoản tại các ngân hàng khác nhau của bị cáo và các bị hại, cơ quan điều tra xác định con số cho vay lên đến hàng trăm lần, tổng số tiền cho vay lên đến hàng trăm tỷ đồng, tổng số tiền trả nợ gốc và lãi cũng lên đến hàng trăm tỷ đồng.
Cuối cùng, sau khi lấy số tiền gốc trừ tổng số tiền Phương đã trả cho các đồng nghiệp, con số Phương chiếm đoạt được xác định là 5.104.440.000 đồng.
Phiên sơ thẩm đã kết thúc với Bản án sơ thẩm tuyên bị cáo Nguyễn Thu Phương phạm “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, xử phạt bị cáo 15 năm tù.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và công bố quyền kháng cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Thu Phương có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.