Có một lần, Ly không biết đã nghĩ quanh quẩn thế nào mà nói với tôi rằng cô rất thương tôi, cô hy vọng tôi sẽ tìm thấy một ai đó, người ấy sẽ đồng hành cùng với tôi, cùng đi chơi khắp nơi, sống với tôi đến cuối đời, mãi không chia lìa. Cô bảo mỗi lần nhìn tôi, cô tưởng tượng rằng tôi sẽ cứ sống một thân một mình như vậy, thành một thằng trung niên cô độc, rồi thành một ông già cô độc. Giống như những người trung niên đồng tính cô độc vẫn lởn vởn trên các ứng dụng hẹn hò, cố gắng tìm chút cảm giác gắn bó để thoát khỏi sự cô đơn hiện tại, biết rằng cuộc đời mình đã chẳng còn mấy cơ hội nữa. Mỗi lần nhìn thấy họ, tôi lại sợ hãi khi hiểu rằng rất có khả năng tương lai mình sẽ trở thành họ. Nếu đó là lựa chọn của tôi và tôi vui vẻ với cuộc đời như thế thì không có gì phải lo lắng, nhưng không hề, tôi rất cần những người khác, Ly biết điều đó. Sẽ có những ngày chúng ta hoài nghi về giá trị của chính mình, và nếu không có ai ở bên cạnh để khẳng định rằng ta có một phần ý nghĩa dù nhỏ nhoi trong cuộc đời họ, thì ta hẳn phải hoang mang lắm. Nên khi thấy cặp đôi đáng yêu chạy xe phía sau chúng tôi, tôi thấy ngưỡng mộ còn cô thì ngẫm ngợi. Có phải cứ nói mãi chuyện tình yêu tình báo thì rất tầm thường, rất ngớ ngẩn không, và chết vì tình là chuyện ngu ngốc hết mức có thể, trong khi nhìn lại, chết vì bất kỳ điều gì cũng đều ngu ngốc như nhau cả thôi. Nhưng ngu ngốc không phải là xấu, đâu có ai đủ khôn lanh trong mọi hoàn cảnh. Ít ra thì tôi có thể ôm chính mình. Tôi lại vòng tay ôm ấy chính mình lần nữa, cố để thò tay chạm vào hai bên xương bướm trên lưng, rồi hai bên cầu vai, tôi cứ vậy rờ rẫm từng khúc xương nhô lên trên người, từng cấu trúc bên trong mà vì tôi quá gầy nên lộ ra hết. Cảm giác được ôm là như thế này. Hai cậu bạn hôm qua ôm nhau chắc cũng có cùng cảm giác như thế này. Tôi rùng mình: trong lúc tôi đi xem phim với Ly, cười ngất ngưỡng trong rạp với những tình huống và lời thoại ngớ ngẩn, trong lúc hai người bạn lạ mặt nọ ôm lấy nhau, trò chuyện cười đùa, dạo vòng vòng trên con xe máy, thì Minh đã tìm đến sợi dây của cô. Những chuyện ấy có xảy ra đồng thời không, trong một thời điểm đã chứa hết tất cả những điều đó, thật kỳ lạ khi mọi thứ đều đang ở đây, gói gọn trong khoảnh khắc này, tất cả xảy ra cùng lúc từ những niềm vui mừng hân hoan nhất đến những cơn tuyệt vọng u ám nhất. Lát nữa lên trường gặp Ly tôi nên thể hiện thế nào, và chiều đến trong bữa thịt nướng đã hẹn trước tôi nên thể hiện thế nào. Tôi hy vọng mình sẽ vượt qua được. Hay tôi nên xin nghỉ học một buổi và gác lại cuộc hẹn ăn uống – với một lý do vô cùng chính đáng, lẽ ra tôi phải xin hoãn lại tất cả – song điều đó cũng tiếp tục là một nhiệm vụ quá khó khăn: tôi còn không thể tưởng tượng việc mình cứ nằm trên giường suốt cả ngày hôm nay với bao nhiêu suy nghĩ, không phải tôi chưa từng làm như vậy, nhưng ngay lúc này tôi cảm giác không nên. Tôi không đau buồn, nếu có thì chỉ là tôi giả vờ thôi, tôi đang không cảm thấy gì, có lẽ những cảm xúc cần thiết sẽ đến sau, khi mọi chuyện đã nên hình nên tướng rõ ràng. Tôi có nên đến đám tang không? Hay câu hỏi đúng hơn là liệu có cái đám tang nào không, chắc là không. Tôi không biết đám tang của một người tự tử sẽ diễn ra như thế nào, tôi chưa từng nghe nói đến, tôi nghe người ta nói đến việc tự tử, có ai đó tự tử, nhưng tôi không biết đám tang của một người tự tử ra làm sao, người tự tử có được tổ chức đám tang với đầy đủ quy cách không. Cha mẹ Minh sẽ nói gì với họ hàng người quen, dù tất nhiên sẽ chẳng ai bắt họ nói gì cả. Nếu họ câm lặng thì người khác cũng giữ lịch sự không đả động đến. Nhưng nếu có tổ chức đám tang, có mời người quen họ hàng, chắc chắn họ không thể câm lặng được, ai đó phải nói gì đó, dù tất cả đều không biết phải nói gì, nhưng ai đó phải nói gì đó. Cũng thật kỳ lạ khi tôi phải dự đám tang người bạn thân của mình ở tuổi này, dẫu biết chuyện quái quỷ gì cũng có thể xảy ra. Đám tang duy nhất tôi dự cho đến thời điểm hiện tại, mà có thể tính là tôi có khóc cho ra khóc, là đám tang bà cóc tôi, bà ra đi thanh thản đến mức bây giờ nhớ lại tôi cầu mong sao tương lai mình cũng có thể chết như thế, chết vì tuổi già, nguyên nhân tự nhiên, thanh thản đến mức nay nhớ lại tôi cảm thấy việc mình khóc không hợp lý lắm. Sau này có đám tang bà ngoại sau của tôi, rồi đám tang ông bác ba của tôi, nhưng cả hai lần này tôi đều không dự vì không thân với họ lắm để mà phải chạy từ thành phố về quê. Tôi chỉ nghe mẹ mình thông báo cái chết của bà ngoại sau qua điện thoại rồi thôi, mẹ tôi cũng không thân thiết với mẹ kế của bà lắm, tôi thì thích bà ngoại sau theo kiểu hai bên vui vẻ với nhau. Ông bác ba cũng không phải quá thân, hơi thân thôi. Chuyện hai người họ mất cũng không phải đột ngột, họ đã phải chống chọi với bệnh tật khá lâu trước khi có thể nhắm mắt xuôi tay, chuyện có thể đoán trước được. Ký ức gần nhất về bà ngoại sau mà tôi còn nhớ là hồi năm lớp mười hai, tôi đến nhà ngoại thăm Tết, bà ngoại sau bảo nhìn tôi năm nay lớn quá, ra dáng đàn ông đàn ang lắm rồi, cũng trong ngày hôm đó, chỉ một lát sau, bà ngoại kể cậu út tôi, đứa con của bà với ông ngoại, đã li dị vợ, vì cô nản chí quá, không thể ở bên cạnh một người đàn ông làm công ăn lương làng nhàng không có gì trong tay, chưa kể còn gánh thêm một bà mẹ chồng bị ung thư chỉ dựa vào tiền của họ để chạy chữa, cô không muốn sống như vậy nữa nên đã dẫn con rời đi. Hồi đó bệnh ung thư của bà ngoại sau trở nặng. Đứng trước cái chết, nỗi đau thể xác và sự mất mát của bà, mẹ tôi cũng dần tha thứ, dù cảnh mẹ ghẻ con chồng hục hặc hồi xưa đã từng khiến mẹ căm ghét lắm. Sao nhỉ? Tôi sẽ cố gắng tưởng tượng ra điều đó. Với một người mình luôn căm hận, khi tôi đứng trước họ, nhìn họ nằm trên giường bệnh, đầu trọc lốc, đau đớn sau những lần vào hoá chất, tôi có còn muốn nuôi dưỡng lòng thù ghét họ nữa không, hay tôi cũng thôi, không muốn cứ ôm mối hận trong mình nữa, không phải vì đã nhìn thấy “quả báo” hay “hả hê” khi đối phương lâm vào cảnh như vậy, mà là: để làm gì chứ, để làm gì, rốt cuộc là để làm gì chứ? Lần đám tang bà cóc cũng là lần đầu trong đời tôi chứng kiến người bên cạnh mình mất, tôi đã nhìn cảnh người ta hạ quan tài xuống mồ, nên nó tác động mạnh đến cảm xúc của tôi. Còn những đám tang khác tôi không trực tiếp chứng kiến nên cũng không có cảm xúc bằng, mọi thứ ở rất xa tôi. Ngoài những cái đám này ra tôi chẳng còn nhớ mình có dự đám tang nào nữa. Dù dạo gần đây, người xung quanh tôi bắt đầu chết dần, đến một độ tuổi nào đó ta sẽ thấy những người xung quanh ta chết dần. Lần sau cùng tôi về nhà, tôi đang ngồi cạnh mẹ trông tiệm thì cha tôi nghe điện thoại xong báo với mẹ một ai đó vừa chết. Một ai đó cha mẹ tôi quen và vì thế có lẽ tôi cũng từng chạm mặt, nhưng để kể rõ thì không, chỉ nghe nhắc thì biết là có quen thôi. Ông nội tôi mấy năm nay cơ thể cũng bắt đầu sa sút. Vân vân. Tôi phải làm quen với những đám tang. Dù tôi chẳng muốn xuất hiện ở bất kỳ đám tiệc nào cả, tang hôn giỗ dạm gì cũng không muốn, tôi không thích những không gian mà vài chục con người xúm quanh ồ ạt bày tỏ cảm xúc, trông cứ kỳ cục thế nào. Tôi sợ để lộ ra mình là kẻ không có cảm xúc, dù thật ra tôi có, tôi chỉ cảm thấy quá mệt để bày tỏ thôi. Nếu nhà Minh tổ chức đám tang cho nó, tôi sẽ không đi, có thể tôi sẽ viếng sau, nhưng hiện tại thì chắc sẽ không. Tôi còn ghét cả sau đó nữa, tôi từng tưởng tượng đến cảnh cha mẹ mình mất, hay anh em mình mất – chẳng hiểu sao tôi lại tưởng tượng như vậy – và hiển nhiên như bất cứ ai khác, tôi không thích cảnh mình phải làm đám tang cho họ, đồng thời tôi còn không thích khoảng thời gian sau khi ai đó thân thuộc với mình ra đi nữa – nghĩa là khi người thân tôi mất và chôn cất xong, mọi thứ quay lại “bình thường”. Phải cố tỏ ra bình thường để sống tiếp dù chẳng ham thích, tất cả đã thay đổi nhưng thật ra chẳng thay đổi gì, cảm giác đó dù chưa trải qua tôi vẫn thừa biết là nó cực kỳ khó chịu, đây hẳn là cảm xúc chung thôi. Ước gì tôi chết trước tất cả, nhưng ước mơ này quá ích kỷ, ích kỷ đến mức gần như hèn hạ, tởm lợm. Phải nhát gan đến mức nào mới đi ước mơ điều đó, chẳng phải thứ chúng ta cần làm là cố tỏ ra dũng cảm hơn thế hay sao, phải đứng dậy để mà xoay xoả cuộc đời mình chứ, và phải hoàn thành những bổn phận chứ. Đâu thể sống mà mãi trông chờ vào việc người ta làm cho mình mà tới lượt mình lại chẳng muốn xắn tay làm cho ai. Thật kỳ lạ khi nghĩ rằng đã đến lúc ta cần học cách tham dự đám tang và học cách tổ chức đám tang, nên có hẳn một khoá học chỉ bảo tận tình về công việc này – nếu có thì tốt quá, sao không ai nghĩ ra nhỉ. Nhưng nghĩ đến chỉ càng khiến tôi bải hoải, cảm giác này thật quen thuộc, cảm giác như mình chưa bao giờ đủ năng lượng để sống. Tôi có thể bước một bước là sẽ trở lại chiếc giường, cùng đống chăn dày và mát mẻ như nấm mồ, chúng chỉ ở ngay đằng kia. Nhưng tôi sợ bây giờ mà tôi chui vào đó, tôi sẽ ở đó luôn, sẽ không dậy được nữa, trong khi tôi sắp phải vệ sinh cá nhân buổi sáng cho kịp giờ đến trường rồi. Tôi cần đưa ra lựa chọn ngay, nếu không là không kịp nữa. Tôi phải lựa chọn giữa từ bỏ việc tìm kiếm sợi dây buộc tóc và chuyển qua chuẩn bị cho kịp giờ lên lớp hay tiếp tục tìm kiếm nó rồi trễ giờ, giữa bước ra ngoài kia đi học đi chơi như thể không có chuyện gì xảy ra hay xin nghỉ một ngày để trốn ở đây chấp nhận rằng đã có chuyện gì đó xảy ra. Lựa chọn nào cũng khó khăn, cũng có đánh đổi. Nhưng nếu tôi cứ mải phân vân thì tôi sẽ chẳng thể chọn được gì cả, tôi sẽ chỉ làm được mỗi chuyện phân vân và trì hoãn. Được rồi, tôi sẽ thử tìm trên sào quần áo. Mọi thứ đã sáng rõ lắm rồi, tôi gần như đã thấy được toàn bộ căn phòng, mắt tôi vừa đủ quen với bóng tối mà trời cũng đang dần sáng. Khoảnh khắc tối tăm nhất dường như đã qua, dù từ nãy đến giờ tôi chẳng làm được gì, cuộc sống có thể như thế: ta có thể ngồi yên một chỗ và vấn đề sẽ bỗng nhiên được giải quyết, đâu lại vào đó, ta chỉ cần chờ đợi, cứ loay hoay lúng túng. Cuộc đời sẽ tự nó sáng tỏ thôi, miễn ta có đủ kiên nhẫn để chờ đợi. Sự sáng tỏ, nghe cứ như có một mặt trời ở bên ngoài khả năng kiểm soát của chúng ta và miễn nó muốn sáng tỏ lúc nào thì ta sẽ được lúc nấy. Dưới đất là đống quần áo cũ để bừa phứa, lẽ ra tôi phải bỏ chúng vào cái sọt dành cho đồ bẩn, do chính tôi đã mua, mới đúng. Nhưng nhìn lại, chính cái sọt đồ bẩn cũng đang đầy ắp, chưa được đóng bọc mang đi giặt, thế nên tôi phải để bồ bẩn lung tung, có cái mắc trên ghế, có cái quàng lên sào, có cái bỏ lên đống quần áo đầy để rồi lát sau nó rơi xuống. Tôi đã mua nhiều quần áo đến mức dù có hàng đống quần áo chưa giặt, tôi vẫn còn khá nhiều để mặc, thật ra không phải vì tôi thích mua sắm hay giàu có nên thoải mái vung tay, chỉ là tôi có thói quen mua cả lô. Ví dụ như những bộ đồ đá banh mua một lượt năm màu cùng kiểu, hay những cái áo cũng ba màu cùng kiểu, những cái quần y hệt nhau chỉ khác mẫu mã. Chúng thật ra không quá khác nhau, nhưng việc khác màu đem đến cảm giác khác, nó không tạo ra khoảng cách quá xa khiến tôi đắn đo lựa chọn khi đứng trước sào đồ, nhưng cũng không y hệt nhau để tránh đơn điệu. Vả lại, phong cách của tôi rất an toàn, chọn cái gì mặc vào cũng sẽ hợp thôi, lựa chọn gì cũng chẳng khác mấy. Không giống với hồi trước – cái hồi mà tôi thật sự nghĩ đến việc mặc một chiếc quần đá banh với áo len – bây giờ tôi không dám mạo hiểm, nghe thì có vẻ xấu, nhưng ngược lại điều này tốt: nó chứng tỏ tôi đã tìm thấy chính con người mình, ít nhất là trong vấn đề thời trang, tôi biết bản thân cảm thấy thoải mái và tự tin nhất khi mặc kiểu quần áo nào, để mỗi dịp quan trọng cần đi ăn uống đám tiệc tôi có thể yên tâm là lựa chọn này sẽ ổn – những dịp ấy rất hiếm hoi nhưng lần nào cũng khiến tôi lo lắng kinh khủng. Tôi biết mình mặc gì là sẽ không bị đánh giá, dù có thể không được khen nhưng cũng chắc chắn không ai đi chê. Việc “thử nghiệm” ngày xưa đối với tôi chỉ là chút biểu hiện nổi loạn của lứa tuổi ấy, kiểu của những cô cậu đang trong giai đoạn cần khẳng định bản thân, muốn tỏ ra dị biệt độc lạ, để tạo ấn tượng với ai đó. Những thử nghiệm ấy đa phần đều thất bại, tại tôi thôi, có một điều gì đó trong tôi luôn đưa ra những lựa chọn sai lầm về mặt thẩm mỹ, giống như việc nuôi tóc dài vậy, tôi luôn có xu hướng chọn những thứ điên khùng, chẳng giống ai, buồn cười lố bịch. Tôi có thể kể ra hàng lô hàng lốc những lần mình thử nghiệm sai lầm rồi bị chê cười như thế, không chỉ là bộ đồ phối giữa quần đá banh đen và áo len dài tay nâu đất kia. Bây giờ sào đồ của tôi rất đồng điệu, nhìn vào là biết tôi là một đứa con trai bình thường, không lập dị, yêu thích sự tối giản nhưng đâu đó vẫn không thoả hiệp với sự đơn điệu, tôi có vài chiếc áo màu hồng và tôi thích chúng vô cùng, điều này có đủ gọi là phá cách không? Dù nước da tôi chẳng hợp với quần áo tông hồng lắm, nói thế mới thấy mắt nhìn của tôi kỳ quặc đến mức nào. Có rất nhiều quần áo tôi mặc từ hồi còn ở quê đến giờ. Tôi là một người có thể mặc một cái áo suốt bốn năm năm trời đến khi nó cũ mèm, nhão ra, từ lúc nó còn mới cứng có thể mang đi chơi đến lúc nó quá cũ chỉ dành mặc khi ngủ, như bộ quần áo hiện tại tôi đang mặc, thế nên việc đến giờ tủ quần áo tôi vẫn còn quần áo mua từ thời học sinh cũng là bình thường. Tôi mới lên thành phố học hơn hai năm nay, chưa thể có nhiều thay đổi đến mức có một sào đồ hoàn toàn mới, dù đúng là đã xuất hiện nhiều món mới thật. Hồi trước tôi thích mặc áo thun tay dài, bây giờ tôi thích áo thun tay ngắn, đặc biệt nữa là sơ mi tay ngắn, nhưng kích cỡ thì vẫn trung thành với việc rộng thùng thình. Thực ra chúng chỉ rộng lúc mới mua, chỉ một thời gian sau khi tôi đã đem chúng đi giặt nhiều lần, chúng co lại hoặc mất kiểu dáng cũ, chúng trở nên vừa vặn, thậm chí có khi còn nhỏ hơn trước – tôi không nghĩ do mình to ra, lớn hơn, ý nghĩ này quá vô lý, tôi đã qua giai đoạn cơ thể có thể phát triển thêm rồi. Tôi đã qua thời điểm vàng để thay đổi, tôi đã được định hình xong, không thể nào chọn cuộc đời khác nữa, trừ khi… tôi bỗng nghĩ, có lẽ Minh chỉ đơn giản là chọn một cuộc đời khác thôi. Nó sẽ làm lại. Và hẳn lần này nó hy vọng mình sẽ làm tốt hơn, biết rút kinh nghiệm. Nên khi gia đình tôi bảo Phát dạo này có thói quen đi tập thể hình vào mỗi buổi chiều, sau khi học về, cùng bạn bè nó, tôi mừng phát khóc lên được, bởi vì, nó vẫn còn có thể cứu vãn cuộc đời mình, cuộc đời nó chỉ mới bắt đầu, mọi thứ đều đang rất sáng sủa, nó không sống như tôi: sống một cách hàm hồ, vô ý, bạ đâu sống đấy, cứ đâm đầu mà sống chẳng có đường hướng la bàn, để tất cả trôi qua chỗ mình một cách vô minh, ngu ngơ mà sống, sống xong rồi mới nhận ra mình đã sống hoàn toàn sai cách, rằng đây không phải là đáp án đúng, đáp án đúng là một đáp án khác mà thậm chí tôi còn không hề nhìn thấy, tôi chỉ mới đọc đáp án này và cứ thế chọn luôn, không nhận ra vẫn còn những ngả đường khác mà tôi cũng nên cân nhắc. Tôi cứ vậy mà sống một mạch cho đến khi mọi thứ đã xong, tôi mới nhận ra tôi thậm chí còn không ý thức về cuộc sống đang có. Với Phát, nó đang có ý thức, nó biết rằng việc ta sống thế nào là do chính ta lựa chọn, rằng ta không nhất thiết phải quá đau đớn thì mới sống được, chỉ cần ta đưa ra lựa chọn đúng mà thôi. Nó không sống hàm hồ, sống bừa được chăng hay chớ, sống mà không suy nghĩ như tôi. Nó biết dừng lại, cân nhắc và suy tính. Nó nhìn thấy cuộc đời sáng rõ hơn tôi và tại sao tôi lại không mừng rỡ vì điều ấy cho được. Đồng phục thì khác, hồi cấp ba mỗi lần đến năm học mới, cha sẽ chở tôi đi may áo sơ mi quần tây, năm nào tôi cũng đều có hai bộ đồng phục mới, may riêng, tất nhiên hàng may riêng rất đẹp, vừa vặn sáng bóng. Năm nào tôi cũng đến lấy số đo, dù số đo qua từng năm của tôi không biết có đổi không, có vài lần chủ tiệm may nhầm tôi là một đứa mới học cấp hai, tôi luôn được bảo là trông trẻ hơn tuổi vì chẳng còn phát triển gì thêm. Thật ra bẩm sinh tôi không yếu ớt, mẹ kể lúc sinh tôi ra, trong ba anh em tôi là đứa nặng cân nhất, bụ bẫm nhất, hồi còn nhỏ trông tôi cũng đầy đặn hồng hào chứ không phải ốm yếu gì. Nhưng có lẽ đã có một điểm sai nào đó không ai phát hiện, tôi đã vô tình dính phải một chất độc nào đó chăng, hay trong chính con người tôi, đầu óc tôi, có một thứ gì đó sai quấy, không được bình thường. Hay thể trạng tôi có mầm mống của một loại virus mà chỉ khi lớn lên biểu hiện của nó mới rõ ràng. Tôi nghĩ, chắc không chỉ có mỗi mình, có lẽ ai sống trên đời cũng đều trải qua những thời khắc tự hỏi bản thân có bình thường không, có “đúng” không, có gì sai trật khiến cho cuộc sống cứ lao dốc mỗi ngày hay không, có gì quyết định cho tất cả nhưng đã bị bỏ qua không thấy hay không. Vài lần, tôi được cha dẫn đi khám tổng quát, khám tất cả mọi thứ có thể khám, song không ra được bệnh tật gì cả, chỉ đơn giản cơ thể tôi nó như thế thôi, thậm chí, chữ “bình thường” trên những tờ kết quả xét nghiệm bắt đầu khiến tôi đâm ra hoài nghi, nó có phù hợp với tôi không, tôi bất ngờ khi bản thân được chẩn đoán là “bình thường”, nếu cơ thể có dấu hiệu bất thường có lẽ tôi còn sẽ dễ chấp nhận hơn. Nghĩa là, tất cả đều bình thường thì vấn đề không nằm ở tác động bên ngoài, không dính độc, không do biến đổi gen, không phải máu xấu, không do bệnh truyền nhiễm, mà là từ bên trong, những phần không có máy móc hay bác sĩ nào khám ra được: tâm hồn, cách suy nghĩ, thế giới quan, cách ứng xử, lối sống… những thứ mà quá rõ ràng là lỗi thuộc về tôi, nếu thật sự có lỗi lầm nào đó. Những con chữ “bình thường” được nghí ngoáy rất nhanh ấy khiến tôi không có chỗ để đổ lỗi nữa. Tôi nhớ ngày đi thi năm ấy, tôi cũng mặc đồng phục học sinh nên hẳn về trang phục thì tôi cũng không có gì kỳ lạ, hay nói đúng hơn là chẳng có điểm nào ở tôi ngày hôm ấy kỳ lạ cả. Cảm giác quê mùa đến từ những thứ khác, đến từ nỗi mặc cảm hay từ nguồn năng lượng tôi toả ra, chỉ mình tôi cảm nhận được và chỉ mình tôi tự nghĩ như vậy, sự đối đãi nhiệt thành từ những người bạn mới gặp và sự giúp đỡ sát sao của họ lại càng khiến tôi thấy mình bé nhỏ hơn. Nếu không gặp họ thì có lẽ tôi cũng sẽ gặp những người khác khi đến địa điểm thi thôi, song một mặt nào đó tôi thấy mừng khi gặp họ. Thi xong, tôi bước xuống sân và nhắn chỗ mình đang đứng đợi, một bạn nữ trong ba người đến gặp tôi, bạn ở ngay toà kế bên. Bạn và tôi đi gặp hai người còn lại, chúng tôi thi buổi sáng và khi hoàn thành thì đã đầu giờ trưa. Bạn nữ lấy ra một chiếc dù, che cho cả hai. Tôi chưa bao giờ che dù, ngay cả trời mưa, chứ nói gì đến che trời nắng. Ở khu tôi sống hồi nhỏ, việc một người xuất hiện với một chiếc dù, tuy là trời đang mưa nên việc che dù là chính đáng đi chăng nữa, cũng khiến họ trông điệu đà, thậm chí là “làm màu” (tất nhiên chỉ có phụ nữ, đàn ông còn không đụng đến món đồ ấy). Khu tôi sống cho đến năm lớp sáu, là một nơi chốn mà chỉ dùng từ “quê” thì có lẽ cũng không đủ, vì miền quê bây giờ cũng khá cởi mở rồi, còn nơi tôi sống hồi ấy, ít ra là vào giai đoạn đó, có một sự cũ kỹ nhất định, tôi không dùng từ “cổ hủ” hay “phong kiến” bởi vì nó không phải kiểu đó, nó không phải cái kiểu những bộ phim lấy bối cảnh gia đình miền quê Bắc Bộ gia phong lễ giáo đến ngộp thở, nó vẫn thoải mái và sao tôi có thể nói nó gò ép gì mình chứ, tôi được hàng xóm nơi ấy thương yêu còn không hết. Nhưng nó vẫn có sự bày xích với những hiện tượng kỳ lạ, nhất là những gì vốn chỉ xuất hiện trên phim, như che dù, như ngồi một bên sau xe máy. Không ít lần, tôi nghe các bà các cô kể về một chị gái nào đó với câu, “Nó ngồi sau xe thằng đó, ngồi một bên.” như thể chỉ trong hình ảnh ấy đã chứa tất cả thái độ cần thiết. Có hai chị gái còn trẻ, xinh đẹp là hàng xóm tôi, làm trong ngân hàng, họ phải mặc váy ngắn vì đó là đồng phục của chỗ họ làm. Họ được chồng hay người yêu gì đó chở đến chỗ làm mỗi ngày, và cả hai đều phải mặc quần đến chỗ làm rồi đến đó mới thay ra đổi sang váy ngắn đồng phục. Tôi biết bởi vì vào lần đầu họ mặc váy ngắn và ngồi một bên xe, được chở đi, họ đã bị bàn tán, kiểu ngồi đó dành cho những cô gái ăn diện, “thành phố”, không phải kiểu người bình thường. Dù cái váy thì được chấp nhận, vì váy bó dài qua đùi, kín đáo và nhìn là biết đồng phục đi làm nên không ai ý kiến. Nhưng người ta lại ý kiến với tướng ngồi xe khi mặc váy của họ, dù ai cũng hiểu đã mặc váy như thế thì chỉ còn mỗi kiểu ngồi ấy, thì nó vẫn khiến người khác “chướng mắt”. Nói chung là vậy, tôi chưa từng thấy ai lại mở dù ra che nắng, trước khi gặp hội bạn nọ, Người bạn gái rất thản nhiên bung dù che cho tôi, còn tôi thì hơi lúng túng vì nghĩ không biết việc người khác cầm dù che cho mình như thế trông có kỳ cục không, tuy nhìn là biết cả hai chỉ đang che dù đi dưới nắng thôi. Tôi còn nghĩ có lẽ hội bạn này là những cậu ấm cô chiêu, nhà họ phải giàu có và được chăm sóc kỹ lắm, nên việc dùng dù che nắng mỗi khi ra ngoài mới trở thành điều bình thường đến thế. Trông họ cũng có cái vẻ ấy thật, nghĩa là chỉn chu, xinh xắn, nước da hồng hào, trắng trẻo, quần áo sạch sẽ sáng bóng, cử chỉ chừng mực chứng tỏ được dạy dỗ kỹ lưỡng, dù đến tận bây giờ tôi cũng không rõ nhà họ có giàu thật không. Phải, tất cả những cảm nhận đầy định kiến thế này, dù tôi biết là định kiến và ngay hồi ấy tôi đã biết là định kiến, tôi vẫn không thể thoát khỏi chúng. Ai đó sẽ bảo đây chỉ đơn giản là “khả năng nhìn người” thôi, còn tôi thì sẽ gọi đó là “trông mặt mà bắt hình dong”. Chúng tôi gặp lại nhau và tôi bảo tôi phải đợi bạn mình, ý là Minh, qua chỗ này, bởi vì gần đây có trường đại học mà tôi và cô muốn thi vào, nên sẵn đó cả hai qua xem thử luôn. Những người bạn mới và tôi kiếm một quán nước, chúng tôi không dò kết quả gì cả, tôi chỉ nhớ chúng tôi chỉ nói chuyện vô thưởng vô phạt, trong lúc tôi còn đang ngượng với hai túi đồ lỉnh kỉnh mình phải ôm theo, tôi thật sự ước gì mình không mang quá nhiều quần áo và đồ dùng như thế. Khi đã thi xong xuôi hết rồi – nghĩa là nhiệm vụ quan trọng nhất, mục đích cuối cùng của chuyến đi này đã hoàn thành – tôi mới thừa nhận là hầu hết sách vở tôi đem chẳng có ích gì cả. Với bài thi ấy, chúng ta chỉ ngồi xuống và làm bằng hết vốn liếng kiến thức của mình từ trước đến nay, chúng tôi không có gì để ôn tập hay xem lại trước khi thi hết, phần lớn những gì ta ôn khi sắp sửa đi thi đều trôi vào đầu theo hướng vô vọng hết mức có thể, do đó mà nó không ở lại được lâu, không biến thành “kiến thức” mà chỉ đơn thuần giúp trấn an mà thôi, cố nhồi nhét vội vã không phải là cách học của tôi từ trước đến nay. Sau đó Minh đến, tôi tạm biệt họ và ra ngoài cổng. Tôi không bao giờ gặp lại họ nữa, ít nhất là trực tiếp ngoài đời. Tôi không kể cho Minh về họ, với tôi thì họ chỉ là những người lạ mà ta vô tình gặp trong một dịp nào đó, trôi qua cuộc đời ta chẳng đọng lại gì mà thôi, dù tất nhiên tôi hẳn không nghĩ sâu xa vào lúc ấy, tôi chỉ hành động theo bản năng. Sau này, một bạn trong nhóm ấy vẫn còn liên lạc với tôi, người bạn mở dù ra che cho cả hai. Vào hôm có kết quả, bạn ấy nhắn hỏi tôi có khả năng đậu không, tôi nói số điểm với bạn ấy và bảo mức này cũng không rõ là có đậu không. Số điểm tôi đạt được cao nhưng không đủ cao, cao so với một số trường nhưng không đủ cao so với nguyện vọng của tôi. Bạn ấy bảo tôi chuẩn bị có tổ chức thi đợt hai, nếu tâm huyết với nguyện vọng của mình thì tôi hãy thi luôn đợt hai cho chắc. Tôi cũng đồng ý nhưng rốt cuộc lại không đăng ký thi tiếp, bởi thực chất nếu đợt đầu không có Minh rủ thì tôi đâu có đi thi, nói gì đến đợt sau. Tôi thấp điểm hơn Minh một chút, sau này cô dùng số điểm đó để vào đại học luôn, tôi thì thậm chí đã quên sạch con điểm của mình. Minh bảo số điểm cô đạt được đã đủ đậu một vài ngành trong ngôi trường ấy, nhưng chưa đủ để vào đúng ngành cô muốn, bây giờ nếu cô bỏ điểm này thì cô sẽ lấy điểm thi tốt nghiệp phổ thông để xét. Nghĩa là nếu chúng tôi muốn ăn chắc mặc bền thì lấy điểm này luôn và vào một ngành mình không ưng ý lắm nhưng cũng ổn, còn nếu không thì huỷ và phải dành toàn tâm huyết cho kỳ thi tốt nghiệp sắp tới. Tôi đưa ra lựa chọn khá dễ dàng, tôi bỏ con điểm đó để lấy điểm tốt nghiệp, vì tôi vốn cũng chẳng tâm huyết lắm. Minh thì khó hơn một chút. Nhưng rồi nghĩ đi nghĩ lại, cô bảo cứ ăn chắc mặc bền đi vậy, ngành kia chưa phải điều cô muốn nhưng nó không tệ, quan trọng là vào được ngôi trường đại học ấy. Với chúng tôi, danh tiếng của trường thì quan trọng hơn là học ngành gì, vì thực chất các ngành nhân văn rất gần nhau, học ngành này xong tốt nghiệp ra làm nghề kia vẫn được, nên “danh tiếng” của cơ sở đào tạo mới quan trọng. Tôi cũng muốn vào chung trường với Minh và Vân, có lẽ nếu tôi học cùng họ thì cuộc đời chúng tôi bây giờ sẽ khác lắm, dù không rõ khác theo hướng nào. Điểm thi tốt nghiệp của Vân lại rất cao, đậu được cả ngành mà Minh muốn nhưng không đủ điểm, tuy nhiên đó lại không phải ước mơ của Vân, ước mơ của Vân còn cao hơn nữa cơ. Có đôi lần, Vân than thở mình đang phải học ngành mình không thích lắm, Minh bực mình tâm sự với tôi, “Nó đang có được ước mơ của người khác, của tao, mà không biết trân trọng, cứ nói những câu như thế làm tao tổn thương quá!” và tôi có thể phản hồi gì được đây? Sau khi thi xong, chúng tôi đến thăm ngôi trường mà theo nguyện vọng chúng tôi muốn vào (giờ nghĩ lại, nói cho đúng thì tôi tỏ ra muốn vào ngôi trường ấy vì bạn bè mình đều muốn vào, cả đám có thể học chung, chứ tôi không tha thiết với nó, hay bất kỳ ngôi trường nào, đến mức như tôi thể hiện với những người xung quanh; vào hôm chúng tôi nhận kết quả thi tốt nghiệp phổ thông và tôi không đậu vào trường cùng Minh và Vân, nhưng đó là “lỗi” trong lúc tôi điền nguyện vọng chứ tôi vẫn đủ điểm đậu, Minh nhắn cho tôi, trách tôi vì đã điền nguyện vọng tào lao, tại sao không vào chung trường với tụi nó, tôi đáp rằng, “Tao có cảm giác tao thích ngôi trường ấy chỉ vì những người xung quanh thích tao vào ngôi trường ấy, chứ tao không thấy mình thích gì cả!” và một khoảng lặng trôi qua, Minh phản hồi là không sao, ở xa nhưng lâu lâu gặp đi ăn đi uống vẫn được). Chúng tôi dạo trong khuôn viên, đến đâu Minh kể đến đó, cô đã nghiên cứu rất kỹ: từng địa điểm, từng góc khuôn viên, từng toà nhà, từng con đường. Cô kể người ta đồn thổi những chuyện tâm linh gì ở đây, chuyện tình cảm gì ở kia, ý nghĩa của bức tượng này, công trình khác. Đến giờ tôi còn thấy bất ngờ vì sự quan tâm của Minh về một địa điểm, như thể cô sinh ra là dành cho nó và chính cô cũng biết như vậy. Minh sẽ “sống” cùng với ngôi trường, chứ đây không đơn thuần chỉ là ngôi trường cô đi đi về về hàng ngày theo lịch trình. Tôi thì khác: tất cả địa điểm, hay thậm chí tất cả mọi thứ, mọi người trong đời tôi đều gắn với các chức năng. Tôi không cấp ý nghĩa cho chúng hay nói đúng hơn tôi sợ hãi việc cấp ý nghĩa cho một điều gì đó, bởi tôi hiểu rõ: nếu tôi xem thứ gì có ý nghĩa, tôi sẽ rất buồn khi đến ngày phải rời xa nó. Nếu tôi xem ngôi trường của mình, lớp học của mình có ý nghĩa như một biểu tượng thiêng liêng, đến mức nảy sinh cảm xúc rung động dạt dào mỗi lần nghĩ về chúng, vậy thì khi học xong và rời đi, khi ngôi trường trở thành “trường cũ”, tôi sẽ buồn lắm. Và với tôi, nỗi buồn ấy thật ngu ngốc, chẳng giá trị gì cả, không học trường này thì học trường khác thôi, không ở đây thì ở kia thôi, không làm bạn với người này thì làm bạn với người khác hay thậm chí sống cô độc một thân một mình cũng không có gì xấu. Sự gắn bó dường như chẳng có mục đích nào khác ngoài việc tạo nên nỗi đau lớn lao khi ta không còn có thể gắn bó được nữa. Tôi đã nghĩ thế và tất nhiên khi nói ra, tôi biết nó sai lầm, sai ở quá nhiều chỗ, quá nhiều nguỵ biện. Nhưng câu chuyện không dừng lại ở việc ta biết sai nên không nghĩ vậy nữa và biết đúng nên cứ theo y đó mà làm, nếu được vậy thì đã chẳng ai đau khổ. Nó nằm ở một điều trong tôi, khiến tôi cự tuyệt dù không muốn, né tránh dù thừa biết không hợp lý, kỳ quặc. Nếu tồn tại mà không thật sự quan tâm gì đến nơi mình đang đứng, hiểu về những người xung quanh, có kết nối nào đó dù ít ỏi với thế giới này, vậy thì chẳng khác nào là hòn đá cả, tôi có đủ sức trở thành hòn đá hay không? Tôi nhớ năm ngoái, chúng tôi phải hoàn thành học phần tin học cơ bản để đảm bảo đầu ra của trường, tôi học cùng lớp với Bảo và khi đi qua con đường dẫn đến dãy phòng học tin học, vốn nằm khá tách biệt với những khu còn lại, Bảo chỉ vào gốc cây bằng lăng nằm trong hẻm và nói với tôi, “Mấy anh chị khoá trước kể là cái cây này cầu duyên linh lắm, đó là một truyền thuyết của trường mình đó, hôm nào để tao thử xem!” và tôi bất ngờ vì thứ nhất, người ta cần cầu duyên đến thế hay sao, người ta cần tình yêu đến thế hay sao, chẳng phải đến trường là để học à, đầu óc sao cứ mãi lo chuyện yêu đương thế, hay là người ta “sốt ruột”, có phải Bảo cũng đang sốt ruột không. Với những sinh viên lần đầu lên thành phố, dường như ai cũng không khỏi ấp ủ mình sẽ có một mối tình quan trọng khi lên đại học, bởi vì rất nhiều người hồi cấp ba không được phép yêu đương, tuổi đó cũng bị kìm kẹp nhiều, còn khi đã lên đại học rồi, rời xa quê để bước vào cuộc đời mới, nghĩa là “tự do”, nên người ta hy vọng về chuyện có thể thử nếm trải cảm giác yêu đương. Minh cũng từng bảo với tôi là có một “quy luật” ngầm thế này: nếu trải qua kỳ quân sự trên đại học mà không kiếm được người yêu là xác định cả thời sinh viên sẽ không có được người yêu. Dù tất nhiên mỗi trường mỗi khác, trường của Minh có học kỳ quân sự kéo dài tận một đến hai tháng, trường chúng tôi thì chỉ đi một tuần thôi. Vài thứ hai, tôi nhận ra rằng ngôi trường của tôi tồn tại trước tôi, nghĩa là nó có lịch sử, có rất nhiều con người đã ở đây trước tôi, đã có bao nhiêu câu chuyện, bao nhiêu ước vọng và bao nhiêu tâm hồn sống ở đây. Khi tôi và Bảo sánh vai đi học trên con đường này, chúng tôi đang ngầm tương tác với những điều vô hình, chúng tôi sẽ không bao giờ biết những điều ấy là gì, chỉ biết chúng có thật, từng tồn tại hết sức rõ ràng, mà vì thế tôi thấy tất cả có một điều gì rất “thiêng liêng”. Tôi chẳng thể thích nổi những thứ “nghĩa lý” diệu kỳ đó, không thích việc tôn xưng một thứ lên trên hiện tượng ta đang thấy, dù tôi thừa nhận là mình có tâm hồn – một thứ cũng có lẽ phù phiếm. Trước khi tôi lên thành phố, người bạn trong nhóm tôi quen được khi đi thi – vẫn là người có chiếc dù – đã nhắn tôi bảo “khi nào ông lên thì chúng ta gặp nhau đi chơi”, bạn hứa mọi người sẽ dẫn tôi đi dạo vòng vòng cho biết rõ thành phố này. Nhưng đến tận bây giờ, tôi đã đứng đây rồi, trong căn trọ này, trước sào đồ, đi tìm sợi dây buộc tóc, tôi vẫn chưa trả lời tin nhắn đó. Tôi chỉ đọc rồi thả biểu tượng trái tim, hồi ấy chuyện gì xảy ra thì tôi không còn nhớ rõ, tôi chỉ biết là bằng cách nào đó, bỗng dưng tôi sợ hãi: tại sao tôi không phải là người mở lời giữ liên lạc, tôi mới là “chiếu dưới” cơ mà, tôi là người cần giúp đỡ, nên đáng lẽ tôi phải mở miệng nhờ cậy, ấy thế mà người bạn nọ, bằng sự tốt bụng nằm ngoài bản chất con người tôi, lại mở lời trước, như cô muốn thể hiện rằng cô và mọi người rất trân trọng tôi. Mà, khi tôi đứng trước một lòng tốt quá lớn, tôi không chịu nổi, vì tôi không xứng đáng, tôi sợ mình sẽ làm hỏng nó mất. Tôi sợ, rằng lỡ như chúng tôi gặp lại, rồi thật sự trở thành bạn bè, thật sự kết giao, tôi sẽ lại phá hỏng mọi thứ một lần nữa. Rằng có thể thời gian đầu sẽ rất vui, nhưng sau này lỡ đâu giữa chúng tôi xảy ra chuyện gì thì sao. Tôi muốn bảo toàn sự tốt đẹp ấy, bảo toàn vẻ tuyệt vời ấy, và ta chỉ có thể bảo vệ một điều tốt đẹp bằng cách đứng xa nhìn nó. Bởi vì tôi quá vụng về trước những điều tốt đẹp, tôi quá xấu xa, tôi không xứng đáng, thế nên khi có ai dúi vào tay tôi một viên ngọc, tôi thà đập vỡ nó chứ không thể trân trọng nó nổi, vì tôi thừa biết dù tôi ra sức trân trọng bao nhiêu cũng không đủ, nên thà ban đầu tôi đập quách nó đi, còn hơn nhìn thấy mình thất bại trong việc bảo vệ nó. Nên đến tận bây giờ, khung tin nhắn giữa tôi và người bạn kia vẫn dừng ở lời hứa hẹn, người bạn kia dù không biết đã diễn giải thế nào nhưng có lẽ cũng tôn trọng hành động của tôi, nên thôi không nói thêm gì nữa. Đến bây giờ, mỗi lần nghĩ lại tôi đều cảm thấy rất hổ thẹn, khi những điều tốt đẹp đến vào lúc tôi chưa sẵn sàng cho chúng. Tôi không đủ tự tin để nhận lấy những món quà tuyệt vời, nếu tôi tự tin vào bản thân mình hơn, đón nhận tất cả những gì đến với mình, và tin rằng mình xứng đáng với chúng, thì không chỉ tôi mà có thể cả thế giới này đã khác hơn rồi, tôi đã có thể thay đổi được gì đó. Tôi biết mình sẽ hối hận vì sự cự tuyệt ấy nhưng tôi vẫn làm, dù mọi thứ lẽ ra rất đơn giản: khi tôi lên thành phố thì nhắn bạn một tin, tôi sẽ được chào đón, ít nhất là có vài người trên thành phố này chào đón tôi, họ sẽ dìu dắt giúp đỡ tôi chăng, có lẽ tôi sẽ không gặp nhiều khó khăn (mà, tôi có gặp khó khăn gì đáng kể hay đáng để nhờ vả người ta đâu). Tôi chắc chắn sẽ hối hận, bởi vì ngay bây giờ, tôi đã nếm được mùi vị của sự hối hận chạy vòng trong miệng mình, án ngữ đâu đó giữa ngực mình và rung rinh trong bụng mình. Tôi cần phải cố bình tĩnh, tôi không được phép tưởng tượng ra những cuộc đời khác, tưởng tượng là một cái bẫy. Tôi hay dành thời gian tưởng tượng rằng nếu vào thời điểm này mình đã lựa chọn khác thì sao, hay lúc kia mình lựa chọn khác thì sao, và tiếp tục vẽ nên cảnh tượng “tốt đẹp quá đỗi” trong đầu dựa trên sự lựa chọn khác ấy, dù rõ ràng chưa chắc lựa chọn đó đã tốt, nhưng bởi vì tôi không biết, tôi không chắc, nên tôi mới thèm muốn chúng. Rõ ràng là một cái bẫy. Chắc chắn một chuyên viên tâm lý học mà nghe được thì sẽ ngay lập tức cảnh báo tôi về hành động sa đà này. Thế nên tôi dặn mình không được phép tưởng tượng về những lựa chọn khác, những cuộc đời khác đáng lẽ tôi phải có. Thứ nhất là hành động đấy vô nghĩa, không hề có giá trị thực tế, thứ hai là nó như một bãi cát lún mà trên bề mặt thì mọc đầy hoa cỏ sặc sỡ, vẫy gọi chúng ta. Tôi phải cố đánh lảng đi, chuyện đã qua và tôi đã lựa chọn rồi, không tưởng tượng thêm gì nữa hết. Tôi gạt từng cái áo cái quần, xem mình có vắt sợi dây lên đống móc treo này hay không, tôi có thói quen ấy thật, song cũng không phải quá thường xuyên. Mới gần đây thôi, tôi đã lỡ sa đà vào một tưởng tượng sâu hút, đến mức tôi đã có hẳn một cuộc đời trong ấy. Suốt hàng tuần, không ngày nào tôi không ngồi bần thần nghĩ về nó, về việc nếu hồi trước tôi không cứ vậy im lặng biến mất khỏi những lời mời của nhóm bạn kia thì sao, nếu tôi đồng ý gia nhập vào cuộc sống của họ và cho phép họ trở thành một phần trong cuộc sống của mình thì sao, nếu tôi tin rằng mình xứng đáng với những điều tốt đẹp thì sao. Tôi tưởng tượng mình đi ăn uống, dạo chơi, trò chuyện, du lịch, tâm sự, trao đổi thân thiết với họ và sẽ từ chỗ họ, tôi được dịp làm quen thêm nhiều người khác nữa. Rồi, kinh khủng hơn, mỗi khi tôi gặp chuyện không ưng ý ngoài đời thực, tôi sẽ ngay lập tức đặt câu hỏi “Nếu hôm ấy mình đồng ý thì sao?” và lại bắt đầu một chuỗi tưởng tượng chỉ để né tránh cái vấn đề đang cần đối mặt giải quyết, bởi vì trong cuộc đời hoàn hảo ấy tôi sẽ không bao giờ thất vọng, không bao giờ đau khổ, không bao giờ gặp hoạn nạn. Chúng như một mạch nhánh được chiết ra từ mạch chính, một khả năng khác tôi đã bỏ lỡ, tôi xây dựng chúng hết sức tỉ mỉ. Đến mức, chúng xâm chiếm cả cuộc sống thực của tôi, có những chi tiết tôi quá dụng tâm nên thành thử nó bắt đầu chân thật hơn cuộc đời tôi đang sống. Mới gần đây, tôi đã nhầm lẫn, lú lẫn, bảo với Ly là cuối tuần tôi có cuộc hẹn với người bạn nọ (phải, vẫn là người bạn mở dù che cho tôi), nên đành từ chối một buổi đi tham gia sự kiện giới thiệu sách của một tác giả với cô, phải đến khi tôi nói hết, tôi mới giật mình nhận ra rằng kế hoạch kia không có thật, tôi không hề có một nhóm bạn bè nào như thế cả và cuối tuần tới đây tôi hoàn toàn rảnh. Nhưng lời đã nói với Ly rồi tôi không thể rút lại được. Từ hôm ấy tôi quyết định mình sẽ ngừng cái trò này lại, nó giúp tôi mụ mị, khiến mỗi ngày của tôi có chút gì đó lý thú, đáng tận hưởng, không nhàm chán, nhưng nó… quá đáng sợ. Thực lòng, tôi tự thấy mình có đủ điên rồ để đưa ra quyết định sẽ sống song song hai cuộc đời, nếu hành động này đủ xoa dịu tôi thì tại sao tôi không làm chứ, việc tưởng tượng rốt cuộc cũng đâu có gây hậu quả gì lớn ngoài những nhầm lẫn tủn mủn. Nhưng tôi còn lại gì đây, tôi còn lại gì cho mình, nếu chỉ có tưởng tượng thuộc về tôi thì như thế, với tôi, là không đủ, sao mà đủ được. Tôi sống đến giờ phút này đâu phải để như thế, bao nhiêu người yêu thương tôi, giúp đỡ tôi, tôn tạo tôi, tôi nhận bao nhiêu phúc đức từ xung quanh đâu phải để bây giờ tôi quyết định sẽ sống như thế. Đến cuối cùng, tôi sẽ còn lại gì sau tất cả những thứ đó? Quan trọng hơn, chính tôi cũng sẽ không chấp nhận một người – ví dụ như Minh, Ly, Bảo, Khang, Yến, Hoàng, Tuyền… những người đó – ngồi bên cạnh tôi, nói chuyện với tôi, mà đầu óc đang chìm vào thế giới khác, hay muốn nhanh nhanh gấp gấp về nhà để bước vào thế giới do họ xây dựng lên. Như thế có lẽ quá tàn nhẫn với đối phương đang tồn tại – bằng da bằng thịt – ngay sát cạnh mình. Nếu bỗng nhiên một ngày nọ, một trong những người tôi quen kể với tôi về người yêu tưởng tượng của nó, người bạn tưởng tượng của nó, gia đình tưởng tượng của nó hay thế giới trong mơ của nó, mà mỗi ngày nó dành vài tiếng đồng hồ để đến với cái huyễn hoặc ấy, thì tôi có dễ dàng chấp nhận không. Hay tôi sẽ lo lắng, rùng mình ớn óc, can gián khuyên ngăn? Phải, tôi sẽ ngăn cản họ, bởi vì cuộc đời thật đang ở đây, tôi đang ở đây với họ, và không có gì thay đổi được sự thật này hết. Nếu tôi vẫn còn ở đây, không có một ảo ảnh nào có thể cướp họ khỏi tôi được, dù tôi biết rõ mình không mạnh mẽ đến thế, nhưng trơ mắt nhìn người khác đắm chìm mãi thì tôi chẳng thể chịu đựng nổi. Vì vậy, chính tôi cũng không muốn bản thân rơi vào tình cảnh như vậy. Tôi không thể từ bỏ, phải, không thể từ bỏ, dù có đang chật vật bước qua cơn bĩ cực. Tôi đã nhớ bằng hết ký ức về dịp đi thi ấy, tôi thấy chẳng có chi tiết nào có vấn đề cả. Tôi gắng sức nhớ xem hôm qua sau khi xem phim với Ly xong chúng tôi làm gì tiếp. Hình như do sáng nay có tiết học sớm nên hôm qua chúng tôi xem hết phim là tranh thủ về luôn. Sau đó cô chở tôi qua tiệm mỹ phẩm để mua một chai dầu dưỡng tóc, tóc tôi nếu không được dưỡng là sẽ chẻ ngọn, khô cứng, dễ gãy vụn tan nát. Thật ra tóc tôi hồi còn để ngắn rất khoẻ và rất mượt, chất tóc di truyền của gia đình tôi vốn dĩ tốt, nhưng chẳng hiểu sau khi để dài hơn thì chúng bắt đầu yếu đi, dù so với những người có vấn đề tóc tai khác thì không đến nỗi nào, nhưng tôi vẫn bực mình vì đuôi tóc mình cứ vểnh xiên xẹo theo những lối rất kỳ cục. Ngoài ra kể từ khi nuôi tóc dài, tôi phải đưa tay vén đến mức mỏi nhừ, vào giai đoạn tóc mới vừa được nuôi, chưa đủ dài để thả hết ra sau hay vắt lên nằm yên trên vành tai, mà cũng không đủ ngắn để không vén. Vào giai đoạn đó, thầy dạy thể chất ở trường chúng tôi rất ghét kiểu đầu của tôi. Ly vì thế mà thường đay nghiến ông ấy sau lưng. Tôi thì không khó chịu mấy, vì ngoài hơi tỏ vẻ hằn học ra thầy cũng chẳng làm gì tôi cả. Ly lắc đầu, “Làm giáo viên không ai được phép có thái độ như thế hết!”. Đó là cái hôm chúng tôi học cầu lông, lớp xếp thành hai hàng để bắt cặp tập với nhau. Thầy gọi tôi đang đứng xớ rớ, “Cái em nam để tóc dài đó qua đây đứng!” và thầy chỉ cho tôi một chỗ còn trống, tôi đến rồi hỏi lại “Chỗ này hả thầy?” thì ông, dường như nghe thành một câu gì đó, quay ngoắt lại và gầm lên, “Em vừa nói cái gì với tôi đó?” khiến cả lớp giật mình. Trên đại học, ai muốn đăng ký học phần nào thì học, thế nên lớp thể chất là một tập hợp đủ các lớp ở các ngành trong trường, hiếm ai quen biết ai, thế nên không ai tiện ra điều. Họ chỉ nhìn hai thầy trò chúng tôi. Tôi bối rối, lặp lại, “Em hỏi là em đứng đây đúng không ạ?” và thầy ấy, với bộ dạng khinh bỉ như thể khi nãy tôi đã lầm bầm chửi gì đó nhưng giờ không có đủ gan nhắc lại, nói một câu mỉa mai mà đến giờ tôi vẫn không thể hiểu là nó có ý gì, “Em về cắt tóc ngắn lại cho ra con trai, rồi đọc Chiến tranh và hoà bình của Lev Tolstoy đi!”. Quả tình, tôi có vốn đọc cũng tốt và đã đọc Chiến tranh và hoà bình rồi, dù là đọc hồi cấp ba nên đến giờ cũng quên kha khá, nhưng vẫn chẳng hiểu thầy đang có ý gì. Tôi đưa tay sờ môi, tự hỏi câu đó có ý gì nhỉ? Cả lớp quay lại tập luyện như bình thường. Tôi không hề xem đó là một xích mích, nhưng có lẽ với những người khác thì hẳn giữa tôi và thầy đã xảy ra xích mích gì đó mà người ngoài không hiểu. Dù sao thì, trên bề mặt câu chữ, thầy không xúc phạm tôi gì cả, dù trong thái độ chắc chắn là có. Lát sau Ly đến hỏi tôi có sao không, thầy có mắng gì tôi không, tôi lắc đầu chỉ bảo là hình như thầy không thích bộ dạng này của mình, thầy chỉ kêu tôi cắt tóc ngắn lại cho bớt giống con gái. Ly nghe xong thì đột nhiên tức giận, cô bảo mình sẽ báo với Phòng Đào tạo, sao lại để thế được và tôi phất tay, bảo cô không cần đâu, thầy không nói gì “quá đáng”, thầy chỉ không thích thôi và “không thích” là bình thường. Ly chịu xuôi vì biết tôi là kiểu không thích dây vào phiền phức, chưa kể một học phần trôi qua rất nhanh, sau này chúng tôi sẽ chẳng bao giờ gặp lại người giáo viên đó nữa, vì thế cho qua được thì cứ cho qua. Song lâu lâu, cô lại nhắc, rằng nhìn ông ta là biết cái kiểu đàn ông dễ tự ái, người ta nói gì cũng nghe ra thành đang chửi mình, nên ông ấy mới nghe nhầm câu hỏi của tôi thành một câu gì đó. Nói chung theo cô, không phải ai cũng phù hợp với ngành giáo dục, và các giáo viên thể chất, theo như cô thấy từ trước đến nay, rất hiếm để tìm ra được người có đủ sự thông cảm. Giáo viên thể chất bao giờ cũng đáng ghét, Ly bảo vậy và tôi nghĩ, là do chúng tôi thôi, chúng tôi không phải những người sinh ra với năng khiếu thể thao, tất nhiên một giáo viên không thể có thiện cảm với những học sinh yếu môn của họ. Tuy vậy, qua những tiết học sau, thầy ấy dường như cũng chẳng nhớ nữa, chúng tôi không va chạm thêm gì cho đến lúc kết thúc môn, cũng được cho qua trót lọt không vấn đề gì. Tôi vẫn còn một học phần thể chất nữa mới đủ điều kiện ra trường nên hy vọng kỳ tới tôi sẽ không gặp ai làm khó làm dễ mình. Vậy là sợi dây cột tóc không có trên sào quần áo, ngược lại việc lục tìm chỉ khiến tôi nhận thấy mình có quá nhiều quần áo treo đầy ở đây mà không mặc, đa số là hàng tôi đặt mua trên mạng đến khi giao về thì thấy không ưng, hoặc nó vẫn y hệt hình mẫu được đăng nhưng vấn đề là ở tôi, tôi mặc chúng trông xấu xí không chịu nổi, nên chỉ mặc một lần rồi bỏ xó. Có những chiếc quần quá rộng, tôi không mặc vừa, mà đem đi sửa thì quá lười, có những bộ tôi đã không mặc từ lâu nhưng chỉ để chất đống chứ không đem cho lại hay đem bỏ, cũng đơn giản là vì quá lười, hay tôi cứ tự nhủ sẽ soạn lại rồi quên mất. Tôi chỉ mới sống trên thành phố này được hơn hai năm mà cảm giác như thể lâu lắm rồi, như thể tôi đã có rất nhiều kỷ niệm với bao nhiêu là món đồ cũ kỹ. Tôi nhất định phải tìm cách dọn dẹp hoặc vứt chúng đi, tôi rất ghét thói tích trữ của gia đình mình và ghét cả việc càng lúc mình càng trở nên giống họ. Vài lần, tôi có ý định sẽ chuyển sang khu trọ khác, nhưng với số lượng đồ đạc thế này, tôi không thể tưởng tượng cần bao nhiêu công sức để chuyển chúng sang chỗ mới, nhất là những thứ quá vặt vãnh, quá bé nhỏ và dễ biến mất. Ta khó mà làm mất một cái bàn, một cái giường, nhưng rất dễ làm mất một sợi dây cột tóc. Có lẽ vì lý do này mà tôi cứ ở mãi một chỗ không thể đi đâu được nữa: giữ lại quá nhiều thứ để rồi chính mình bị chúng níu lại, không thể di chuyển cho đến khi chấp nhận rằng cách tốt nhất là phải vứt bỏ chúng đi. Hôm qua, vì đã mua bắp rang và ăn hết cùng với Ly khi xem phim nên bụng tôi cứ no no, tôi đã không ăn tối, sau tin tức của Minh thì tôi cũng không còn muốn ăn gì nữa. Tôi nghĩ sự kiệt quệ mình đang cảm thấy này không phải là nỗi buồn, sợ hãi hay rối bời, mà chỉ đơn giản tôi đang quá đói thôi. Một lát tôi ăn sáng xong có lẽ đầu óc tôi sẽ thông thoáng hơn, suy nghĩ rành mạch hơn. Tôi hay có thói quen xem bữa ăn vặt là bữa chính, ví dụ khi mua một phần bắp rang và ngồi ăn khi xem phim xong, tôi nghĩ mình không cần ăn thêm gì nữa. Với lại, việc cơ thể hơi đói một chút sẽ giúp tôi thiếu năng lượng, nhờ đó tôi đi vào giấc ngủ rất dễ, nếu người khác làm việc cả ngày mệt mỏi khi về nhà sẽ lăn ra ngủ ngay, tôi lại không làm gì tốn sức đến mức ấy nên phải tự làm mình tốn sức bằng cách nhịn ăn cho dễ ngủ. Một tháng trở lại đây, tôi bắt bị chảy máu mũi, không vì lý do gì cả, chỉ đơn giản là đang ngồi hay làm gì đó thì máu mũi tôi đột nhiên chảy ra thôi. Hôm trước đang ngồi nghe giảng thì Bảo xoay qua nhìn tôi, cậu ấy hét toáng lên, Bảo sợ máu và hơn hết, ai lại không hét lên trong tình huống ấy chứ. Tôi nhìn xuống và nhìn thấy một đường đỏ lòm trên bàn, tôi còn tự hỏi nó là cái gì và ở đâu ra, lúc đó tôi mới biết mình đang chảy máu mũi. Không vì lý do gì cả, thậm chí tôi còn không có cảm giác đau đớn, không có dấu hiệu. Tôi cứ nghĩ mũi mình tiết dịch bình thường vì lâu lâu khi ngồi dưới máy lạnh hay có gì kích thích, nước mũi tôi vẫn chảy, máu cũng không khác gì lắm, tôi không cảm nhận được vị tanh, cũng không nhiều đến mức ấy. Cả lớp hoảng loạn, nhưng đó cũng chỉ là chảy máu cam mình thường, tôi ngửa đầu lên và hít vào một lát là hết. Tôi nói với Bảo là dạo này tôi hay bị vậy lắm, để một lát là hết và Bảo gắt gỏng, “Mày nói thế mà nghe được hả?” bởi vì tôi trông quá thản nhiên trong một trường hợp chẳng ai thản nhiên cả. Như thể tôi đã chấp nhận việc lâu lâu máu mũi mình sẽ chảy mà không có nguyên do duyên cớ, quyết định sống với nó như nó chỉ là một đặc điểm sinh lý hết sức bình thường, dù rõ ràng nó đang báo hiệu cho một căn bệnh nào đó. Bảo nói rằng, “Bệnh tật là một trạng thái không bình thường, mọi người chỉ bị bệnh và chảy máu rất hiếm hoi trong đời, phần còn lại họ sống trong trạng thái khoẻ mạnh, mày đừng có nghĩ chuyện này là bình thường chứ!”. Cậu đã khuyên tôi đi khám xem thế nào, và đến giờ tôi vẫn chưa đi, bởi vì bằng cách nào đó, tôi biết chắc chắn mình sẽ không khám ra được bệnh gì cả. Vả lại, việc đến bệnh viện một mình quá đáng sợ, hồi trước tôi có lần đến bệnh viện cùng với Bảo, cậu ta cần khám cái gì đó rất nhanh thôi, trong một buổi chiều, và cậu rủ tôi đi cùng. Tôi thì không cần khám và không muốn khám gì cả, nhưng tôi nghĩ mình phải đi cùng Bảo, bởi vì không thể để một người quen của tôi đi bệnh viện một thân một mình trong khi hôm đó tôi cũng không có lịch trình. Nhưng ngược lại, tôi không thể rủ người khác đi bệnh viện cùng với tôi được. Bởi vì đơn giản thôi, người ta thì xứng đáng với những điều tốt đẹp còn tôi thì không, tất cả những người tôi gặp gỡ, quen biết, ai cũng đều xứng đáng với những thứ tốt đẹp nhất, chỉ mỗi tôi là không xứng đáng và hơn ai hết tôi biết rõ điều ấy. Thật khó tưởng tượng tôi đến bệnh viện khám bệnh một mình, tự lò mò qua các thủ tục, chạy đôn đáo khắp nơi, xong nhận được tin mình mắc bệnh nan y, một thân một mình ở đó, bị kết án, không có chỗ dựa, vậy thì thà tôi cứ để bệnh tật huỷ hoại và chết luôn cho xong. Tôi thà chết chứ không dám thừa nhận thẳng thắn rằng mình không xứng đáng. Bởi vì chết thì dễ, tôi cũng tin Minh đã nghĩ vậy. Nhưng có lẽ trong giờ phút này, khi chưa tìm được dây cột tóc, tôi mới tiêu cực thế thôi, có lẽ khi tìm được sợi dây và bới gọn được mái tóc bù xù của mình, tôi sẽ nghĩ thoáng ra một chút. Rằng sống không bằng chết thì cũng còn đỡ hơn là chết thật. Sống không bằng chết là nỗi đau mà chỉ mỗi ta phải chịu đựng, còn nếu ta chết thật thì nỗi đau sẽ liên đới đến những người khác xung quanh, những người mà đáng lẽ cuộc đời họ có thể tốt đẹp song cái chết của ta đã đến và phá huỷ tất cả. Tôi thậm chí còn không dám bảo rằng Minh đã thành công, còn tôi thì thất bại – nói thế thì quá độc ác với người thân của nó, quá độc ác với những người còn lại. Không được phép nói thế dù tôi có nghĩ thế đi chăng nữa. Không, đây chỉ là những ý nghĩ do bóng tối dẫn đường, nó không phải của tôi, tôi đã bị bóng tối này kéo xuống, đã bị sự choáng váng này ảnh hưởng đến dòng chảy mạch lạc của những ý tưởng, tất cả chỉ là hậu quả từ việc nhịn ăn đến kiệt quệ, của việc tỉnh dậy trong đám tóc rối như tổ quạ của mình. Chắc chắn phải có cách nhìn nhận khác, hay nói đúng hơn cách nhìn nhận của tôi mới là thứ lập dị so với những người khác, tôi mới là cái thằng đó, cái thằng đầu óc tiêu cực đó. Không biết Vân và Toại đã biết tin chưa, tôi cần tìm điện thoại, khi tìm ra tôi sẽ nhắn tin cho Vân. Vân và tôi không còn nói chuyện mấy song cô vẫn còn tương tác với những thứ tôi đăng trên mạng, việc liên lạc lại, nhất là khi một người bạn của hai đứa vừa mất, cũng hợp tình hợp lý. Vấn đề là Toại, chẳng biết bây giờ nó ra làm sao nữa, dù nhà nó hồi trước ở rất gần nhà của Minh, nhưng không rõ nó đã biết chuyện chưa. Lần cuối cùng tôi gặp Minh và Vân là vì chuyện của Toại. Thằng bạn của chúng tôi, dù chỉ mới lên thành phố học được hơn nửa học kỳ, đã bước chân vào một nơi chúng tôi không hiểu nổi. Đa cấp – chúng tôi nghe mà rụng rời tay chân. Chúng tôi luôn cố bảo ban nhau là tiền không phải lá cây và vàng không phải đất cát, nếu bỗng nhiên có ai dụ dỗ cách kiếm tiền dễ dàng thì tốt nhất là chạy đi. Nhưng chắc chắn có lý do để tụi đa cấp chọn sinh viên từ quê lên phố để chiêu mộ, chúng tôi là đối tượng phù hợp nhất, nhiều kẻ trong chúng tôi lớn lên mà không quen với phù hoa, chúng tôi dễ loá mắt, dễ bị những miếng mồi đẹp đẽ dụ dỗ vào bẫy. Thậm chí tôi có thể tưởng tượng được chuyện gì đã xảy ra. Hồi cấp hai khi chúng tôi còn đi chung theo nhóm thì nhà Toại đã không phải dạng khá giả, gia đình nó nợ nần và dù chúng tôi không biết gì thì cái bầu không khí căng thẳng ấy vẫn đủ sức lan đến chỗ chúng tôi, nói chi Toại còn phải sống hoàn toàn trong đó. Tôi biết áp lực tiền bạc, gia cảnh, gánh nặng khi trở thành người lớn phải đeo mang. Ít nhất gia đình tôi vẫn đủ khả năng nuôi được tôi, song có nhiều người ngoài kia không được thế, có người phải luôn chịu đựng áp lực tiền bạc rất lớn và khi lên đại học nghĩa là đã bắt đầu mưu sinh, không ai nuôi ai được nữa. Chính những thứ vô hình này khiến người ta trở thành miếng mồi ngon của tụi đa cấp. Tôi không rõ chuyện gì đã xảy ra. Nghe Minh kể lại, Toại đã gọi cho gia đình bảo mình đã đậu vào một trường đại học danh tiếng của Hà Lan, nó cần một trăm triệu để lo toàn bộ chi phí du học, chỉ trả một trăm triệu là được xếp trọn gói, một lần duy nhất. Gia đình nó đồng ý và đã gửi, sau đó nó biệt tích và gia đình phát hiện nó đi theo đa cấp, số tiền kia đã được đem vào đầu tư cái gì đó mà chẳng ai hiểu, mặt hàng liên quan đến kem dưỡng da. Tôi đưa tay rờ rẫm da mặt mình, chắc tôi cũng cần một loại kem dưỡng da nào đó để chống lão hoá. Tôi đã chấp nhận việc mình sẽ sớm trông già khú đế ngay khi bắt đầu lão hoá, bởi vì tôi không dùng kem chống nắng, không dùng mỹ phẩm gì cả, những làn da “có tuổi nhưng trông vẫn mịn màng trẻ trung” là vì họ đã dành cả tuổi trẻ của mình để chăm sóc, về già họ hưởng thụ cái vẻ xinh đẹp bền vững ấy. Dù phần nào, tôi nghi ngờ, rằng những hãng mỹ phẩm chỉ đơn giản là đánh vào nỗi sợ: nếu bạn không dùng thứ này thì “tương lai” bạn sẽ xấu xí và lúc đó “muốn thay đổi gì cũng không còn kịp nữa”, nếu bạn không làm theo hướng dẫn của chúng tôi thì tương lai sẽ không ai cần bạn nữa. Họ còn hơn cả thầy bói, họ là những doanh nghiệp có những nghiên cứu dựa trên khoa học thực tiễn, những quan sát bày bản được đầu tư hàng đống tiền. Họ có món vũ khí mạnh nhất: khả năng nhìn thấy tương lai. Bởi vì tương lai, suy cho cùng, rất dễ đoán: nếu bạn không cố gắng thì bạn thất bại, dễ hiểu mà. Nhưng vấn đề là tôi không muốn theo đuổi cái trò ấy, tôi có thể mua dầu dưỡng tóc vì sự xơ xác của mái tóc này làm tôi phát điên và tôi đã lựa chọn nuôi nó, còn những thứ mỹ phẩm kia tôi không có niềm tin cho lắm. Hay, nói thẳng ra, tôi chưa đủ xấu xí hay sao mà còn bày đặt sợ mình xấu xí. Hồi nhỏ, tôi từng bị nhắc vì cười quá nhiều, và khi cười mặt tôi nhăn lại như khỉ, người ta bảo tôi cười quá nhiều đến mức xuất hiện nếp nhăn ở đuôi mắt khi chỉ mới là học sinh cấp hai. Một người bạn của tôi, năm lớp chín, nhìn tôi cười và bảo “Ôi trời, mới tuổi này mà mày đã có nếp nhăn ở đuôi mắt rồi.”, tôi nhận ra vấn đề nằm ở chỗ tôi cười quá nhiều, mà còn cười một cách thoả chí. Tôi nên giữ một khuôn mặt đơ ra, hoặc cười tiết chế thôi, như thế sẽ tránh xuất hiện nếp nhăn. Tôi nghĩ, thế chẳng khác gì một hình thức đàn áp hạnh phúc và niềm vui. Đến cả cười còn không được phép vì sẽ khiến ta trở nên xấu xí, bất hạnh nhiều quá cũng mau bị lão hoá, ta cần sống như một con robot, không thể hiện buồn vui là tốt nhất. Tiêu chuẩn cái đẹp gì mà lại bắt con người không được phép làm người nữa vậy chứ? Nên thay vì nghe lời khuyên của họ, tôi gạt phắc chúng đi và chấp nhận rằng, được rồi, tôi sẽ già và sẽ xấu, tôi sẽ bị người ta coi thường vì ngoại hình nhăn nheo xấu tởm khi đã có tuổi của mình. Tôi sẽ bị xem thường vì dám sống như một con người, thì sao, nói xem, thì sao? Những tiêu chuẩn độc hại ấy làm ơn tránh xa tôi ra, dù tôi thừa biết về già mình sẽ hối hận, mình sẽ hối hận khi cái “tương lai” mà người ta hay nhắc đến gõ cửa và nhập vào tôi, ăn mòn tôi đúng như những gì đã được tiên đoán. Tôi dường như có dấu hiệu lão hoá rõ ràng hơn những người cùng tuổi, chỉ có ngoại hình nhỏ thó có vẻ sẽ khiến tôi bị nhầm thành học sinh, nhưng khuôn mặt thì không, hay chỉ cần nhìn kỹ hơn người ta sẽ đoán rằng tôi là một người già hơn số tuổi tôi có. Tôi thử ngồi xổm xuống, xương cốt tôi kêu lốp cốp, đây cũng là điểm kỳ lạ, dường như các khớp của tôi bắt đầu khô cứng, không có gì bôi trơn cho chúng, chúng không còn cử động được linh hoạt nữa. Mẹ tôi từng kể, hồi nhỏ mẹ thấy người lớn mỗi lần đứng lên ngồi xuống, cơ thể họ kêu lốp cốp, mẹ đã cười sặc sụa, để rồi bây giờ xương cốt của mẹ cũng kêu những âm thanh y hệt, và không có gì buồn hơn điều ấy. Không có gì buồn hơn điều ấy. Khi ta nghĩ rằng, có lẽ, ta được chiếu cố, ta đã được bỏ qua, thời gian không để mắt đến ta, cuộc đời đã tha cho ta, nhưng đến một ngày, ta nhận ra nó luôn ở đó nhìn ta, nó không hề quên những người tồn tại trong nó, nó chỉ ở một bên lẳng lặng quan sát mà thôi, nó cho ta thêm một chút thời gian để ta nhầm tưởng rằng, biết đâu, cuộc đời mình sẽ không như thế, nhưng rồi cuộc đời sẽ như thế. Ta bẽ bàng nhận ra ta không trốn được vào đâu cả, trong hốc kẹt cũng bị tìm ra, trong bóng tối cũng bị tìm ra. Nó không quên, ta phải nhớ rằng nó không bao giờ quên. Khi nghe mẹ kể vậy, tôi không dám thú nhận với bà chuyện xương khớp tôi cũng y hệt, dù tôi chỉ mới đầu hai, vẫn còn quá trẻ, tôi đã bị một vấn đề mà người gấp đôi tuổi tôi mới bắt đầu bị, nó tìm thấy tôi quá sớm và tôi thừa biết việc này báo hiệu cho điều gì. Tôi không rõ hãng kem mà Toại bị lừa ấy trông như thế nào, mà nếu đã là đa cấp rồi thì chắc chắn chỉ là hàng bậy bạ nhảm nhí. Chúng chẳng cung cấp được gì ngoài cảm giác yên tâm rằng ta đã thử, đã cố gắng làm gì đó, ta không đứng yên và vô dụng. Thôi thì, nghe có vẻ sẽ giúp ai đó ngoài kia cảm thấy khá hơn!

Bình luận đoạn văn

Bình luận

Thiết lập văn bản

Xem trước

Nội dung sẽ hiển thị như thế này

Chọn font chữ

Cỡ chữ

12px 30px