Cậu ấm nhà phú thương
Đầu tháng Giêng, vừa ăn xong Tết, phố phường hãy còn vẻ náo nhiệt chưa nguôi. Lồng đèn đỏ treo cao chưa tháo xuống, mấy chậu cúc vàng vẫn bày biện khắp xóm lớn ngõ nhỏ như để níu kéo chút không khí tưng bừng. Đất kinh kỳ phủ kín mưa xuân, từng hạt lất phất rơi thấm vào da thịt, mơn man cái se lạnh cuối đông còn sót lại khiến người ta tỉnh táo mà hăng hái. Hàng quán đã lục tục mở cửa từ mùng ba, cho dù trong nhà có đầy ắp bánh trái cũng không ngăn được ngựa xe nô nức, ghé chốn ăn chơi nói dăm ba câu chuyện chốn trà dư tửu hậu.
Kinh đô Phú Xuân phồn hoa tựa gấm, bên bờ dòng Hương Giang vắt ngang như mảnh lụa thiên thanh này có quán trà nổi tiếng gần xa, tên gọi chỉ một chữ “Sen”. Nói là trà quán lớn nhất kinh đô nhưng lại chẳng mang vẻ lầu son gác tía mà chọn cho mình cái dáng đơn sơ tịch mịch tựa lấy dòng nước êm, bàn ghế bên trong đều là gỗ trơn mộc mạc, quanh mấy góc phòng trưng dăm lọ sứ cắm đầy hoa nở theo mùa, cố giữ cái vẻ tĩnh lặng nguyên sơ. Đây là sản nghiệp của nhà họ Phạm, gia tộc kinh thương nức tiếng gần xa, nắm trong tay mấy chục cửa hàng từ nam ra bắc. Nhà họ Phạm khởi nghiệp từ việc buôn bán lá trà và kinh doanh trà đạo, đến thời phụ thân ông Phạm Minh Viễn thì triều đình cho xây dựng bến cảng ngay cửa biển quê nhà, ông liền nắm bắt cơ hội mở rộng buôn bán sang hàng tơ lụa cùng các sản vật địa phương. Tàu bè dừng ở đâu thì mua sắm các mặt hàng ở đó mang đến nơi khác buôn đi bán lại, gia tộc họ Phạm liền càng ngày càng phất, đến đời ông Phạm Minh Viễn thì tiền lời mỗi năm thu vào cũng đủ nuôi sống người dân trong cả một vùng. Ông Phạm Minh Viễn quanh năm suốt tháng bận rộn chuyện bán buôn, con cái đều theo ông làm nghề này cả. Người ta thường nói phi thương thì bất phú, nhưng thân phận con nhà thương lái xưa nay vốn bị khinh khi, thường bị coi là phường gian xảo. Vợ cả ông Phạm Minh Viễn sinh được ba người con, hai trai một gái. Cậu Minh Đăng và cô Minh Ngọc đã sớm dựng vợ gả chồng, tham gia quán xuyến mọi việc trong nhà, mấy cửa hàng cùng điền trang đều được quản lý ngăn nắp đâu vào đấy. Phạm Minh Phúc là đứa con sinh muộn tuổi xế chiều, năm nay vừa tròn mười bảy tuổi, ở trong nhà được cha mẹ nuông chiều chăm bẵm, ra đường có anh chị lo lắng chở che, tiền bạc rủng rỉnh tiêu cả đời không hết. Còn mấy đứa con vợ lẽ ông đều để ở quê mẹ tận trong nam. Thôi thì cái số đã đành, cậu Đăng cô Ngọc cũng đã theo cha, giờ còn cậu Phúc nhỏ tuổi ngây thơ, lớn lên như hòn ngọc quý của cả nhà, ông không nỡ để con mình phải lăn lộn chốn thương trường, chỉ ngày ngày căn dặn con đọc sách, cố mà gột rửa đi cái mùi thương lái trên người.
Minh Phúc từ nhỏ đã có chính kiến, chuyện gì cũng là tự bản thân mình suy ngẫm mà ra. Cậu không cho lời cha nói là đúng, càng coi thường những kẻ giả vờ nhắm mắt coi khinh việc kinh thương. Cậu ôm tay cha mà thỏ thẻ.
“Nhưng cha ơi, người ta thường nói con buôn những sặc mùi tiền, nhưng thử hỏi trên đời ni có ai không cần tiền mà sống được mô cha?”
Ông Minh Viễn xoa đầu con, biết lời con nói đúng, nhưng xưa nay thói đời ấm lạnh, có những điều đâu phải cứ đen là đen, cứ trắng là trắng.
“Cha hiểu lòng con, nhưng đâu phải cứ hiểu là được mô con. Bây chừ trong nhà cũng không cần con cáng đáng, cha cũng đã xin cho con được vô trường Thái Học mà đọc sách thánh hiền.”
Minh Phúc tuy sáng dạ nhưng cũng không ưa thích việc đèn sách là bao, huống chi người vợ lẽ của cha mình cũng là con nhà dòng dõi thư hương, chẳng may gặp cảnh sa cơ, cha mình ra tay tương trợ, từ ăn đói mặc rách bước một bước liền cửa rộng nhà cao, vậy mà nhà đó đi câu cũng kể lể buồn thương cho phận hạ mình vào chốn nhà thương lái. Minh Phúc tự cho mình là người thô thiển, không cách nào hiểu nổi đám văn nhân mặc khách. Thứ cậu thích chính là lụa là gấm vóc, là gác tía lầu son, người chê cậu kém sang, cậu càng khinh người giả dối.
Trà lâu lúc này đông đúc những người, phía trên gác cao là chốn cho các công tử thế gia thưởng trà đàm đạo, tầng dưới là chỗ cho kẻ sĩ gặp nhau lí luận chuyện đời. Minh Phúc một thân áo dài tím nhạt, tà áo dệt mỏng manh trong suốt như cánh ve sầu, cổ tay thêu hoa mai bằng chỉ vàng lấp lánh. Đầu cài trâm ngọc sáng trong, cổ đeo kiềng bạc, trên tay cầm chiếc quạt ngà, quản sự vừa ngó ra cửa liền biết người đến là ai.
“Thưa cậu, cậu ghé tiệm chơi ạ.”
“Tôi đi ngang thấy hơi khát liền ghé vô đây. Hôm ni trong tiệm có món chi?”
“Dạ hôm ni có trà sen mới sao ra, khách hàng chuộng lắm.”
“Rứa lấy cho tôi ấm trà sen lại thêm dĩa mứt gừng.”
“Dạ con mời cậu lên lầu. Đồ ăn thức uống của cậu con đưa lên ngay ạ.”
Đặng ông quản sự quay sang mấy thằng đầy tớ mà rầy.
“Bây còn không mau đón cậu, cái chân cái tay không lanh lẹ chi cả.”
Thằng đầy tớ cho dù bị la thì mặt vẫn tươi cười, vội vội vàng vàng dẫn Minh Phúc lên trên. Tầng hai yên tĩnh hơn hẳn, cũng chỉ có tiếng luận đàm khe khẽ. Bàn ghế xếp cách nhau khá xa, ở giữa còn được ngăn bởi mấy tấm bình phong thuỷ mặc. Phúc chọn một bàn cạnh cửa sổ nhìn phóng ra núi Ngự sông Hương. Ngồi được một lát, trà mứt đã được mang lên. Ấm trà bằng sứ thô giản dị màu nâu đất, nước trà nhạt mà thanh, rót ra cốc liền toả hương thơm thoang thoảng, ướp trọn không gian một mùi sen thấm đượm. Phúc nhấp một ngụm trà, vị đắng chát nơi đầu lưỡi nhanh chóng tan ra, trôi xuống cổ họng, vị ngọt dịu còn dư lại cứ vấn vương mà quấn quýt quanh đầu lưỡi. Trà sen thì phải đi với mứt gừng. Thứ mứt được cắt lát thật mỏng, ngào với đường mạch nha, sao thật lâu cho đến khi khô lại, khi sao phải đảo thật đều tay không ngơi nghỉ. Cắn một miếng mứt, cay cay nồng nồng khiến lòng người cũng ấm hơn.
“Nghe nói năm ni trường Thái Học mở cửa không hạn định xuất thân, chẳng còn hạn chế trong con em quan lại quý tộc nữa, người thường nếu muốn theo học chỉ cần vượt qua kì khảo thí, hoặc chỉ cần có người tiến cử thì đều được nhận vô trường.”
Tiếng bàn luận cách tấm bình phong, như vô tình lại như cố ý lọt vào tai Minh Phúc. Người kia vừa dứt lời liền có kẻ khác phụ hoạ theo.
“Rứa thì anh nói đúng, tin ni tôi cũng đã được nghe từ trước rồi. Học trò trong thiên hạ nhiều vô kể, bây chừ có được cơ hội vô trường Thái Học ni, ông hoàng ta thiệt sự là coi trọng người tài.”
“Đúng là phải đội ơn ông hoàng nhiều lắm. Chữ thánh hiền thì không phân biệt phú quý sang hèn.”
“Nghe nói năm ni cậu ấm Khanh con ông Lễ bộ cũng vô trường đó.”
Tiếng bàn luận câu được câu chăng, Minh Phúc quyết không bận tâm nữa. Cha đã bày biện lễ vật đi nhờ người ta tiến cử cậu vào trường Thái Học, cậu không muốn phụ lòng cha, nhưng cũng không nỡ trói buộc bản thân mình, thôi thì đành được chăng hay chớ.
Cậu ấm Khanh thì Phúc đã nghe tiếng từ lâu, ở cái đất kinh thành ni có ai mà chưa nghe qua danh hắn. Cha là Thượng thư bộ Lễ Tạ Văn Hoành, ông ngoại là Đại học sĩ Nguyễn Hữu Công, cậu Tạ Trường Khanh sinh ra đã là dòng dõi thư hương nhất đẳng. Cậu ấm Khanh từ tấm bé đã bộc lộ tài trí, sớm đầy một bụng kinh thư, lại nghe hắn lớn lên tướng mạo nhã nhặn, dáng người đoan chính, áo dài hắn mặc thường mang sắc trắng trong như chân trời mùa hạ, hay là biêng biếc như màu nước Hương Giang, các cô thiếu nữ khi nhìn thấy hắn đều không thẹn mà đỏ mặt. Tiếng đàm luận về cậu ấm Trường Khanh vẫn tấm tắc vang lên không ngớt.
“Nếu được chung lớp với cậu ấm Khanh thì còn chi bằng, chỉ sợ xui xẻo lại cùng lớp với mấy người chẳng ra chi.”
“Răng anh lại buông lời như rứa. Người đã vô được trường Thái Học thì dĩ nhiên đều là người hiền đức, lấy mô ra phường bậy bạ, anh nói rứa là không nên.”
“Rứa là anh có điều chưa biết. Ông hoàng ban ơn đón nhận hàn sĩ vô trường đọc sách phải cấp học bổng nuôi mấy trăm người, quốc khố thì nặng gánh, đành lấy chỗ của thương lái bù vô. Con cháu mấy nhà nớ cứ cúng tiền cho triều đình, tu cư xá, bổ điện thờ, liền được biên tên vô danh sách.”
Người kia có vẻ tiếc hận đập bàn.
“Xưa ni làm chi có chuyện như rứa!”
“Nói mô xa, ngay cái quán trà ni của nhà họ Phạm giàu nứt đố đổ vách, nghe nói quyên cho trường một cái chuông đồng to, thêm một toà thư xá lót cho cậu con trai út một suất vô trường đó thôi.”
“Con nhà buôn thì thấm mùi đồng, đọc sách thánh hiền cũng nỏ ra cái cốt cách của chính nhân quân tử. Như cái quán trà ni võ vẽ học đòi theo kiểu văn nhân, chẳng qua cũng chỉ là xanh vỏ đỏ lòng mà thôi.”
Mấy lời này lọt vào tai Minh Phúc hết. Cậu nắm chặt quạt lụa trong tay, muốn đứng dậy phân rõ phải trái một phen. Thằng hầu vừa bước lên tính hỏi xem cậu Phúc nhà mình còn muốn dùng thêm thức gì không thì bắt gặp cảnh này, Minh Phúc đang đỏ mặt tía tai muốn xông vào bàn người ta đòi lý luận. Nó hoảng hốt tới níu lấy cậu.
“Cậu ơi cậu, con van cậu. Một điều nhịn chín điều lành, ông ở nhà lo cho cậu đủ đường, đừng vì mấy lời nói mà bực bội thân mình nghe cậu.”
Nó thấy cậu hơi xuôi xuôi liền vội rót cho cậu chén trà, mồ hôi nó thấm ướt cả trán. Chuyến này mà cậu lao vào tranh phải trái với người ta, đám học sinh ni giỏi nhất là lấy lời nói mà thu phục lòng người, trắng cũng nói thành đen, lại có bằng có cớ, đến đoạn nớ lợi không bằng hại. May thằng hầu cũng là đứa lanh lợi, nó vuốt lưng cho cậu thủ thỉ.
“Cậu ơi, cậu chấp làm chi mấy kẻ sĩ nghèo hèn, nói cho sướng cái miệng hắn thôi, một ấm chè của quán nhà mình còn phải gom góp mỗi người dăm hào bạc mới đủ, không đáng để cậu bận tâm mô cậu.”
Phúc biết thằng hầu nói phải, nhưng lòng cậu vẫn nóng bừng bừng. Đã tự nhận mình là kẻ đọc sách thánh hiền, sống noi theo bậc hiền nhân quân tử, nhưng mở miệng liền phân biệt sang hèn, khinh khi người khác.
“Các vị ở đây nói mấy lời đàm luận ni, không biết có thấy hổ thẹn với sách thánh hiền đã đọc hay chăng?”
“Cậu… cậu ấm Khanh tới chơi ạ.”
“Chào cậu ấm, chúng tôi không biết cậu ấm ghé chơi.”
Một thoáng lúng túng xuất hiện đằng sau tấm bình phong. Tạ Trường Khanh nghe mấy tên học trò nói năng không câu nệ, càng ngày càng quá trớn khó nghe, cầm lòng không đặng liền đứng lên nói lại mấy lời. Hắn xưa nay sống ngay thẳng chính trực, không thẹn với lòng, mong muốn sau này vào trường Thái Học được thầy giỏi dạy dỗ, được bạn hiền hỗ trợ giúp đỡ lẫn nhau chứ không muốn vào để thấy người ta bẻ cong con chữ, nói năng xiên quàng. Huống chi trong lòng Trường Khanh vẫn canh cánh một người mang họ Phạm. Trường Khanh chắp tay xá mấy người học trò, đủ lễ nghĩa đủ tôn trọng.
“Tôi nghe các anh nói chuyện, đáng ra không nên xen vô, nhưng tôi thấy các anh đang nói điều chưa đúng.”
“Chúng tôi nói có chỗ mô chưa chuẩn, mong cậu ấm chỉ cho.”
“Các anh nói con nhà buôn thì thấm mùi đồng, có đọc sách cũng không ra được cái cốt cách văn nhân, nhưng từ xưa đã dạy hữu giáo thì vô loài, các anh tự xưng là người đọc sách mà lời dạy của thánh hiền thì các anh nhắm mắt làm ngơ, tôi nghe các anh nói mà cũng tự thấy lòng hổ thẹn.”
Giọng Trường Khanh sáng mà vang, lưng thẳng như tùng bách, gầy gò mà không yếu đuối, lạnh lùng mà không kiêu ngạo, nói ra từng lời đều như trời đất đã tỏ tường. Đám học sinh kia tự thấy mình đuối lí, đỏ mặt không dám tiếp lời.
Minh Phúc thoáng chấn động trong lòng, cố nhìn cho rõ bóng dáng thấp thoáng sau tấm bình phong, chỉ tiếc chẳng thấy được gì. Cậu muốn đi ra nói lời cảm tạ nhưng cũng ngại ngùng, cứ mãi xê dịch bước chân rồi chầm chậm ngồi xuống, đến khi người đã bước chân ra khỏi trà lâu, Minh Phúc vẫn chưa đứng dậy.