4
Tôi mời Tuyết đi ăn tối, mong rằng mình sẽ dành nhiều thời gian bên cạnh em nhất có thể. Dù không nói ra, tôi vẫn biết lòng em cồn cào cháy rực khi chưa thể tìm ra Trâm. Trước giờ đón em ở trung tâm năng khiếu, tôi tranh thủ viết báo cáo pháp y về vụ việc thi thể được tìm thấy ở công viên Gò Vấp. Thực ra vụ án này đã khép lại, một tình yêu cực đoan khác đã gây nên bi kịch cho cô gái trẻ. Người ta cũng đã sớm bắt được tên người yêu cũ khốn nạn của cô ấy. Mong cô ấy sẽ an nghỉ trên thiên đường, và mong tên đê hèn kia sẽ sống không bằng chết. Hoặc đó cũng không giống một lời rủa lắm, nhiều người bây giờ cũng sống không bằng chết mà. Phải chăng ai cũng có thể trân quý sự sống của mình thì hay biết mấy. Tôi lái xe đến trung tâm năng khiếu, thấy Tuyết đã đứng chờ ngay trước vỉa hè, trong chiếc áo khoác vải nỉ màu đỏ và đôi Jordan trắng quen thuộc. Em leo lên xe, và tôi liền phóng đến một quán bò né mà em lướt thấy trên Tiktok. Tôi cứ nghĩ em phải mệt nhoài sau một ngày nhảy nhót, ai dè trông em cũng vẫn như mọi ngày mà thôi, không có gì khác biệt. Em gọi một phần đầy ắp bò, pate. Nhân lúc chờ món, tôi định đưa cho em xem quyển nhật ký của Trâm, cũng như một và phát hiện khác của mình. Nhưng vì đã bỏ quên quyển sổ đó ở nhà, tôi chỉ đành hỏi trước một vài thắc mắc của mình, để dành chúng như một bất ngờ cho buổi gặp mặt lần sau. “Em này, hình như dạo trước đây em cũng mất ngủ phải không?” “Phải, sao anh hỏi thế?” “Chỉ là anh thấy… Chắc là anh hơi vô tâm với em nhỉ? Đáng lẽ ra anh phải hỏi chuyện em nhiều hơn. Có thể em mệt mỏi vì phải làm việc quá nhiều, hoặc ăn uống không điều độ gì đó, nên mới dẫn đến hậu quả như thế. Vậy mà anh chẳng biết rõ thực hư em bị gì.” “Sao mà em trách anh được, khi đó, anh vừa khởi động nghiên cứu khoa học với các em sinh viên mà. Đã thế, anh còn đặt đồ ăn cho em nữa. Em mới là người không nghĩ đến anh đấy.” Tuyết vừa nói vừa xua tay, cứ như những chuyện đó thật sự không quá ảnh hưởng đến em vậy. Nỗi áy náy cứ dùng dằng trong lòng tôi, khiến tôi không thể ngừng hỏi thêm. “Vậy em gặp chuyện gì cần trải lòng phải không? Em có thể chia sẻ với anh, ngay lúc này.” “Không…” Em bóp nát hai đầu cùi bánh mì. “Nó cứ như thế thôi. Cứ đang yên đang lành, rồi mọi thứ tự dưng rối tung lên, lúc nào cũng thế.” “Lúc nào cũng thế? Ý em là sao?” Câu hỏi của tôi như làm em tỉnh khỏi cơn mê, em đặt ổ bánh mì xuống, cười cho qua chuyện, cố gắng lái sang một vấn đề khác. “Thì… Là thế thôi. Em vẫn đang rất bình thường, mọi thứ vẫn suôn sẻ, thì tự dưng mất ngủ, nên em cũng chẳng biết giải thích làm sao hết.” “Em có viết nhật ký không? Anh nghe bảo tâm trạng sẽ ổn hơn nếu mình viết nó ra giấy.” “Không, em không viết.” “Em có chắc là-” “Em không muốn nói về chuyện này nữa.” Em cắt ngang lời tôi, tay lau chiếc dao ăn trên bàn bằng tờ khăn giấy mỏng. “Sao anh không nói về anh nhỉ? Trong tình cảnh này, em nghĩ mình sẽ muốn lắng nghe hơn là chia sẻ đó.” “Anh hả?” Có lẽ tôi vô ý thật. Bạn thân của Tuyết đang mất tích, em sẽ chẳng có tâm trạng nào để nói về chuyện của mình. Được yêu cầu đột ngột như thế, tôi cũng chẳng biết mình nên nói gì. Tôi nhớ lại những câu chuyện mà mình thường kể cho em, rồi cũng bắt đầu với công thức cũ. “Em có nhớ vụ án diễn ra lúc chúng ta đến quán rượu của ông Thiều không? Nạn nhân là một cô gái trẻ, đã chết vì bị đâm vào tim. Người ta đã điều tra được, rằng tên bạn trai cũ ghen tuông đã mất kiểm soát khi hai người cãi vã. Sau khi nhận ra mình vừa gây ra chuyện tày trời, hắn ta liền tháo chạy đến bến xe, tìm một nhóm người vận chuyển lậu, hòng thoát ra khỏi biên giới.” Tuyết ngưng tay, không lau con dao đó nữa. Ánh mắt của em dán vào trong hình ảnh phản chiếu từ lưỡi dao, như đang nhìn thấy một gương mặt xa lạ. Hạ chúng xuống bàn, giờ đây em nhìn thẳng vào tôi, cười trừ. “Lại là vụ án ha?” “À… Anh xin lỗi, chỉ là tự dưng em muốn lắng nghe, mà trong đầu anh hiện chỉ có chuyện đó thôi. Kỳ cục ghê, sao lại kể về án mạng ngay lúc này chứ.” Tôi cũng ngại ngùng cười. “Anh lúc nào cũng nhiệt tình với cái chết mà. Nếu không có chủ đề gì mới, chắc là em cũng đành nghe vậy.” Không, có một câu chuyện khác, cũng chỉ vừa nhảy lên trong đầu tôi khi Tuyết đề cập đến cái chết. Suốt thời gian qua tôi đã không nhớ lại, nhưng nó đã luôn ở đó. Ngay lúc này, nhân viên đem đến bàn của chúng tôi hai dĩa bò, vẫn còn ngọn lửa nóng hừng hực cháy trên những nguyên liệu thơm lừng. Tôi nhìn vào ánh lửa đỏ xanh xen lẫn, nghĩ rằng mình có thể kể cho em chuyện này. *** Nhiều năm trước, tôi cũng chẳng nhớ chính xác là tầm ngày nào tháng mấy. Nó rơi vào dịp nghỉ hè của trường đại học, tôi và những người bạn cùng trải qua năm nhất cùng nhau có một chuyến đi phượt đến Tây Ninh. Nơi đó cũng không xa lạ gì với Minh, chính xác, cậu ấy là người dẫn đường cho chuyến đi đó, về chính quê nhà của cậu ta. Ngoài Minh, những người còn lại đều là bạn học cùng khóa với tôi. Dù đã chạc hai mươi ở thời điểm đó, tôi thừa nhận mình chỉ là một thằng nhóc. Lý do tôi có mặt ở chặng đường này, không phải vì tôi muốn trở thành một bác sĩ. Chỉ đơn giản là bố tôi muốn tôi học y, ông bảo rồi mọi thứ sẽ dễ dàng thôi. Tôi chẳng có định hướng gì, đành tin ông vô điều kiện. Suốt năm học đầu tiên ở giảng đường, tôi sống như đã chết, đó là từ đúng nhất mà tôi có thể dùng, lúc đó tôi vẫn chưa hiểu từ này đâu. Không tầm nhìn, ước mơ, mục tiêu, động lực. Tất cả chỉ xoay quanh việc cần làm-việc không cần thiết, vui vẻ-chán ngắt. Cơ may nào dẫn lối khiến tôi qua được năm đầu tiên đúng là nhiệm màu. Đáng lẽ chuyến đi chỉ kéo dài ba ngày, dạo quanh những hàng quán quen thuộc mà Minh biết. Rồi một ý tưởng tồi tệ đã níu chân chúng tôi vào ngày cuối cùng, chúng tôi sẽ ghé thăm rừng cây gần cửa khẩu Mộc Bài để hóng gió và ngắm cảnh. Màu xanh của các tán lá chuyển sang màu rêu lạnh. Khi hai cô gái trong nhóm còn đang bận chụp hình lưu niệm, làm phiền những cậu trai đi cùng, thì tôi đã tranh thủ trốn đi trước khi cũng bị nhờ vả chụp choẹt. Tôi đi bộ đến gần đường lớn, vẫn giữ khoảng cách với thanh chắn chia đôi đường nhựa và rừng cây. Xung quanh trăm mét như một, đâu cũng muôn trùng một màu xanh lục sẫm tối mắt. Bầu trời quang đãng bấy nhiêu, khi đứng dưới vòm rừng bí bách này cũng trở nên âm u, lạnh lẽo đến lạ. Tiếng động xào xạc bên kia đường nhựa hệt như âm thanh có ai đó đạp lên đống lá khô. Tôi ngước nhìn, thứ ở trước mặt tôi đã thay đổi cuộc đời tôi mãi mãi. Một Trần Thanh Toàn khác, đứng bên kia đường, mặc chiếc áo sơ mi ca rô tay ngắn khoác ngoài, áo thun cộc trắng, đeo một sợi dây chuyền xám,... y hệt như tôi lúc này. Cuộc gặp gỡ định mệnh khiến cả cơ thể tôi đều đơ cứng, không thể cử động dù chỉ là một ngón tay. Thứ sinh vật đó leo qua hàng rào chắn, chầm chậm tiến về phía tôi, đôi mắt được tráng duy nhất một màu đen thăm thẳm. Tôi muốn hét lên, bỏ chạy, vơ một nắm lá khô để ném vào người nó, làm bất cứ thứ gì để thoát khỏi cảm giác bất an mà nó đang gây ra cho tôi. Như một bóng ma, bóng ma của chính tôi lả lướt ngày một gần. Lần đầu tiên trong đời, tôi có thể ngửi được mùi của “cái chết”. Nó có mùi của một nhát dao, một chất đốt, hàng tá loài dòi bọ nhung nhúc bò trong khoang miệng, và điểm chung là nó đang đấm vào mũi tôi. Cơn buồn nôn dâng lên tận óc, tôi nhận ra: đó là tôi. ẦM. Một chiếc xe thùng chạy ngang, tông phải hình nhân trước mặt, làm thân thể ấy văng đi một khoảng xa, nằm giãy giụa điếng hồn. Chiếc xe lạc tay lái, đâm vỡ rào chắn ngay bên cạnh tôi, rồi bốc cháy phừng phực, nhưng những màn lửa sát bên đã không còn làm tôi bối rối, bằng nó. Trần Thanh Toàn kia bật nảy như con cá trên thớt, rồi bất động. Mùi của cái chết xộc lên mũi tôi lần cuối cùng, rồi tôi ngửi được một thứ mùi khác. Mùi sương sớm, mùi bạc hà mát lạnh, mùi mưa rào và nắng dịu, mùi của “sự sống”. Ngay lập tức, tôi chẳng còn nhớ gì nữa. Cho đến nhiều ngày sau đó, khi tỉnh lại trên giường bệnh, Minh đã nói rằng tôi bị một chiếc xe thùng tông phải, suýt mất mạng. Tiếng lách tách của lửa thổi còn vang trong đầu, tôi gặng hỏi về thứ sinh vật kia, về “tôi” khác. Minh khẳng định rằng trong bán kính vài cây số xung quanh, chỉ có nhóm bạn đại học của tôi, chiếc xe thùng chở một gia đình chưa xác minh được danh tính, và tôi nằm lăn lóc cách đó tầm chục mét. Chẳng có tôi nào khác cả. Vô lý. Tôi đã tận mắt nhìn thấy cái chết của chính mình, ngửi được cả mùi của sự sống, của cái chết. Đúng, khả năng đó không phải bẩm sinh mà có, nó là một món quà, hay cũng có thể, là một lời nguyền. Món quà đến như một động lực vô hình đẩy tôi vào con đường pháp y. Chỉ trong vài tháng vỏn vẹn, tôi học như thể mình đã được sinh ra để làm công việc này, để đứng giữa ranh giới của thiên đường và địa ngục. Lời nguyền đến cuốn tôi vào những thứ toát lên mùi của sự sống, khiến hình ảnh sinh vật kia hiện về mỗi khi cái chết cận kề. Cho đến tận bây giờ, tôi vẫn chưa biết mình thực sự đã gặp phải thứ gì. *** “Hoặc em sẽ nghĩ là anh bị điên.” Tôi cười khùng khục, rồi cắn mẩu bánh mì cuối cùng. “Chẳng sao hết, anh cũng nghĩ mình bị điên.” Ngước lên nhìn, tôi không mong chờ thứ biểu cảm này của em. Miếng bò cháy cạnh bị chiếc nĩa trên tay em găm xuyên qua, dần trôi tụt và rớt xuống mặt chảo gang đen đúa. Em nhìn tôi với đôi mắt mở to, vì sợ hãi chăng, môi đơ cứng, đến nhịp thở của em cũng chậm đến lạ thường. Trong một giây ngắn ngủi, tôi chẳng thể nhận ra tình yêu của mình, tâm thức tôi liền hoảng loạn gọi. “Tuyết? Em ổn không vậy?” “Chắc chắn.” Hai tiếng “chắc chắn” vô cùng xa lạ. Rồi như chưa có chuyện gì cả, Tuyết lại đâm miếng bò, đặt lên miếng bánh mì của mình, chuyện trò thường tình. “Anh có đặt ra giả thuyết nào cho hiện tượng đó không? Hồi quang phản chiếu? Hay thần chết đã cải trang anh?” Chuyện gì vừa xảy ra thế? Hai tay tôi cứng đờ, không biết nên phản ứng thế nào. Một lúc không thấy tôi trả lời, em nhìn tôi lần nữa, lần này đúng là Tuyết rồi, là em. Tôi bình tĩnh lại, khua tay. “Thật ra anh cũng nghĩ mình bị ảo giác thôi. Anh đã chạy xe một khoảng đường dài mà, hoặc là đám bạn đó đã bỏ đồ lạ vào đồ uống của anh.” “Không đời nào.” Em cười trước câu đùa của tôi. “Anh nói dối đúng không?” Tôi bất giác lạnh sống lưng. “Ưm… Phải. Được rồi, đúng là anh có nghĩ đến một giả thuyết điên rồ, chỉ sợ em sẽ cười nếu anh nói ra.” Vẫn có gì đó không đúng ở đây, tôi không biết chắc nó là gì. “Sao em lại cười anh được, anh cứ nói đi.” “Anh đoán đó là bản ngã của mình, một cái tôi chất chứa tiêu cực, luôn ẩn nấp xung quanh anh. Có lẽ khi anh một thân một mình tiến ra ngoài đường lộ cửa khẩu đó, nó nhận ra đây là cơ hội ngàn vàng để thủ tiêu những phần sống cuối cùng còn trong anh, trực tiếp kiểm soát mọi thứ. Đó là lý do khi nó tiến lại, anh đã ngửi được mùi của cái chết, rồi khi nó bị tiêu diệt, mùi sự sống lại tràn về trong hai lá phổi của anh.” “Nhưng rốt cuộc anh mới là người nằm ở đó, thế chỗ của nó mà.” “Vì nó cũng chính là anh, những gì xảy ra với nó, cũng sẽ xảy ra với anh, và ngược lại. Suốt khoảng thời gian trước đó, bản thể lúc nào cũng được chủ động quyết định điều gì sẽ xảy ra, nên chắc nó đã chạnh lòng rất nhiều…” “Em thích cách giải thích của anh đấy. Dù không thể biết thực hư ra sao, ít ra anh vẫn có một giả thuyết, điều đó sẽ khiến anh an tâm hơn nhiều đấy.” “Công nhận.” Tôi khều mấy miếng rau xà lách còn dư trên cái đĩa nhựa, chợt thốt. “Còn em thì sao?” Một chiếc bàn ăn, một cặp đôi ngồi đối mặt về phía nhau, trông như một phiên tòa vấn đáp hơn là một buổi hẹn hò. Chắc em cũng đã nhận ra bầu không khí khác lạ này. Đáng lẽ tôi đã phải hối hận ngay lập tức, nhưng cảm giác bức bối cứ xen ngang từng câu đối đáp, dâng lên trong tôi sự hả hê, thỏa mãn. Em chẳng nóng vội hay hoang mang gì, cũng nhẹ nhàng kể, như thể đây là một cuộc trao đổi công bằng. “Em không rõ rằng anh muốn nghe kể về chuyện gì, nên chắc là, em sẽ nói về thứ đang ở trong đầu của em lúc này.” *** Tuyết và Trâm, vừa là một cặp sinh đôi bất thường, vừa là một sự đối nghịch đầy tương đồng. Họ lớn lên cùng nhau, xem gia đình của đối phương cũng hệt như gia đình của mình: có ba, có mẹ, có anh trai. Một nhà ở đầu xóm, một nhà ở cuối xóm, thân nhau như ruột thịt. Cái hẻm cụt gần chợ Hóc Môn đã nhiều năm không có tiếng con trẻ vui đùa, mẹ của Trâm ở thời điểm đó đã vô cùng lo lắng. Cô ấy có một tuổi thơ bằng đôi chân chạy vùn vụt bên những cánh đồng bát ngát, tiếng ve kêu vang trời và cơn gió nổi lúc hoàng hôn. Khi cùng chồng lên thành phố lập nghiệp, sự cô đơn của thành thị đã làm bao nhiêu kỳ vọng của cô sụp đổ. Ngay cả đứa con trai lớn cũng trở thành nạn nhân xấu số cho lần đi xa này. Cậu bé hiếu động ngày nào cũng rủ bầy đàn trong xóm đi bắn bi, bắn ná, nay chỉ còn thui thủi trong nhà. Cô luôn luôn day dứt điều đó, lo sợ rằng đứa con mình đang mang trong người, rồi cũng sẽ cô đơn, sẽ một mình như bản thân cái thành phố này. Đó là lý do, khiến cho người hàng xóm mới chuyển đến ở đầu xóm, gia đình của Tuyết trở nên đặc biệt đến vậy. Người vợ của gia đình đó cũng đang mang thai, ngày dự sinh gần kề với cô. Lại thêm một kỳ vọng khác được dựng nên, lần này, mọi thứ đã diễn ra đúng như thước phim mộng tưởng của người mẹ khổ tâm. Tuyết ra đời sau Trâm, đúng mười một ngày, vừa mở mắt đã ngay lập tức được gặp người bạn nhất cuộc đời mình. Sợi dây liên kết thần kỳ nối vào hai linh hồn tưởng chừng chẳng hề liên quan gì nhau, giờ đây đã trở thành tri kỷ. Thời đó, hai đứa trẻ chỉ đơn giản là bạn rất thân với nhau. Vì là hai đứa con nít duy nhất trong xóm, quanh quẩn cả ngày, chúng chỉ có nhau mà thôi. Những món đồ thuộc về Tuyết, cũng thuộc về Trâm, và ngược lại. Hai cô bé chia sẻ đồ chơi, đồ ăn của mình cho nhau, hệt như một cặp sinh đôi không thể tách rời. Tuyết và Trâm năm đó vẫn khác nhau nhiều lắm. Thứ dễ nhận ra nhất, là tóc và làn da. Tuyết bẩm sinh đã có mái tóc xoăn xù, làn da bánh mật. Đi cùng với đó là một hàng lông mi vừa dày vừa dài, nhưng chẳng hiểu vì sao cô bé lại cắt chúng đi không thương tiếc. Trâm thì nổi bật trong nước da trắng phát sáng, màu tóc đen tuyền đặc. Trong khi Tuyết được hai gia đình miêu tả là một đứa trẻ hiền lành, nhút nhát, thì Trâm là một con “báo nhi đồng” chính hiệu. Biết bao nhiêu trầy trật thương tích, bao nhiêu nước mắt máu đổ từ trò nghịch phá của cả hai, đều là Trâm bày đầu. Đi bên cạnh nhau, Tuyết lúc nào cũng như một tay sai nhỏ bé theo chân thủ lĩnh của mình. Lớn hơn một chút, Tuyết và Trâm học cùng lớp tiểu học. Trâm xem ngỗ nghịch thế mà lại thông minh nhất lớp, học một hiểu mười, lại được cái lanh lợi, xinh xắn nên bạn bè, thầy cô ai cũng yêu mến. Trái lại, với bản tính rụt rè, thụ động, Tuyết không thể theo kịp các bạn trong lớp, trở thành mục tiêu hàng đầu cho những trò chọc ghẹo, bắt nạt. Hai cô bé ngồi cùng bàn, một người như ngày càng tỏa sáng, thì người kia dần mờ tàn như bóng đêm. Có những ngày không đi cùng Trâm, Tuyết bị đám con trai chặn đường, nắm tóc, giấu đồ. Mọi thứ sẽ chỉ kết thúc khi Trâm đến, chỉ cần nói một tiếng, liền dẹp loạn được trò xấu xa. Mỗi lần như thế, đêm tàn sẽ nhìn vầng hào quang bằng một ánh mắt ngưỡng mộ tha thiết. Trâm hoàn toàn nhận ra, cô bé đã không biết bao lần dặn người bạn của mình phải học cách trở nên tốt hơn. Tuyết không thể đi bất kỳ đâu mà thiếu Trâm, và ngược lại. Học đến cấp hai, Tuyết đã thực sự trở nên tốt hơn, như lời của Trâm. Vẫn là cô gái dịu dàng, e thẹn đó, nhưng không biết đã phải nỗ lực bao nhiêu để cải thiện điểm số của mình, tích cực giao tiếp hơn nữa. Giờ đây, cả hai vầng ánh sáng song hành nhau, một vầng chói chang, gay gắt như mặt trời giữa trưa hè, một vầng lại đằm thắm, thơ mộng tựa trăng tròn đêm rằm. Tuyết và Trâm được biết đến như một đôi bạn cùng tiến vang danh khắp trường, đều xinh đẹp, đều giỏi giang, đều dễ mến, và đặc biệt, vừa vẽ đẹp, vừa múa hay. Gia đình Trâm ngỏ lời đưa Tuyết đến trung tâm năng khiếu, học mỹ thuật và khiêu vũ. Những ngày tháng đầu tiên, Tuyết lại lép vế trước tài năng thiên bẩm của Trâm. Nhưng chỉ vài tháng sau đó, đâu lại vào đấy, cả hai lại song hành, hai linh hồn lại tỏa sáng bội phần khi đứng cạnh nhau. Những màn trình diễn song sinh và các bức vẽ đôi của họ nằm ngoài trông đợi của ban huấn luyện. Họ đã được mời tham gia rất nhiều cuộc thi năng khiếu, cũng đã gặt hái được rất nhiều giải thưởng ở cả hai lĩnh vực. Bản thân họ là một tấm huy chương danh giá. Từ đó, lại có những thách thức mới xảy ra, không phải những cuộc thi hay thành tích, mà chính với bản thân họ. Mười sáu, mười bảy, ở cái tuổi mà đáng lẽ Tuyết và Trâm phải nở rộ rực rỡ, mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười, thì lại bị nhận định là quá giống nhau. Ngay từ hiện tượng màu tóc của Tuyết bỗng dưng trở nên y hệt như Trâm, cả tông da của hai cá thể riêng biệt, cũng dần như hòa tan vào một thứ màu. Không chỉ là một sự “đồng hóa” về ngoại hình, mà còn về tính cách. Nếu như ngày trước, người cá tính, người dịu dàng, giờ đây, cả hai chỉ còn được gói gọn bằng từ “dễ thương”, “hòa đồng”. Mọi người xung quanh đều có một suy nghĩ, rằng Tuyết và Trâm tình cờ giống nhau quá thể, ngoại hình, tính cách, tài năng, quan niệm. Điều đó khiến họ chẳng còn gì đặc biệt cả, không có người này thì có người kia. Nhưng đối với cả hai, chuyện đó chẳng sao cả, họ không cần những lời phán xét xung quanh, miễn là đối phương vẫn ở đây, nghĩa là họ vẫn ổn. Tuyết sẽ không thể đi bất kỳ đâu mà thiếu Trâm, và ngược lại. Họ chỉ cần có nhau mà thôi. Rồi khi trưởng thành, họ sẽ cùng mua một ngôi nhà trên thành phố. Nỗ lực kiếm tiền, rồi họ sẽ làm tất cả mọi thứ cùng nhau, thực hiện những ước mơ ngày bé, từ khả thi như du lịch năm châu bốn bể, đến ảo tưởng như bay khắp bầu trời. Biến cố xảy đến trước thềm ôn thi đại học của cả hai. Ba của Trâm, một tài xế xe bồn đã gây tai nạn cho một cô nữ sinh lớp mười. Ông phải chi trả một số tiền bồi thường khổng lồ cho gia đình nạn nhân, đồng thời chịu viện phí trong suốt khoảng thời gian cô bé hôn mê. Kinh tế nhà trở nên khó khăn, lại được tin anh trai của Trâm bỏ học cao đẳng, lâm vào cờ bạc làm nợ nần chồng chất. Từ một gia đình văn hóa hạnh phúc, họ đã có một bước nhảy thẳng xuống vực thẳm không đáy. Tương lai của Trâm tưởng chừng tươi sáng rực rỡ, giờ lại mịt mù tăm tối. Mọi thứ chỉ thật sự bùng nổ khi nữ sinh kia qua đời trên giường bệnh, ba của Trâm sẽ phải đi tù. Vạn vật trên đời đều sẽ không cam lòng cái chết, nó sẽ vùng vẫy mọi đường để được sống, gia đình Trâm cũng thế. Họ lập một kế hoạch bỏ trốn qua biên giới ngay trong đêm. Theo lời họ, ở một đất nước xa lạ, cá bốn người có thể làm lại từ đầu, họ sẽ xây dựng lại tổ ấm văn hóa ngày nào, không còn ai thiết tha quá khứ của họ nữa. Mọi giấy tờ tùy thân và căn cước sẽ bị tiêu hủy, ông sẽ lợi dụng những mối quan hệ của mình với các nhân viên cửa khẩu để đưa gia đình đi. Trâm phải ngồi nghe những lời sáo rỗng đó cả đêm, từ chính người thân ruột thịt của mình. Suốt đoạn đường đen kịt như chính cuộc đời mà họ hứa hẹn, cô tựa đầu vào cửa sổ, vờ ngủ nhưng lại nghĩ mãi không thôi. Cô sẽ làm gì đây? Nếu như đã ở một đất nước xa lạ, không tên, không tuổi, không có Tuyết bên cạnh, cô sẽ là ai đây? Một cô gái mười tám xinh đẹp? Một học sinh thông minh học một biết mười? Một tay họa sĩ nghiệp dư? Một vũ công tài ba? Hay sẽ còn tệ hơn như thế nữa: Chẳng là ai cả. Đáng lẽ giờ này cô đã chìm vào giấc ngủ sâu, chuẩn bị cho một ngày ôn thi nữa với bạn bè, với Tuyết. Cô sẽ thi vào đại học mỹ thuật của thành phố, sống với người bạn tri kỷ, trở thành con người mà mình luôn mong muốn. Nhưng mà cô muốn trở thành con người như thế nào cơ? Không biết được. Và trên cái xe thùng này, nó cũng không còn quan trọng đến thế nữa. Vì mọi thứ đã trở thành một màu đen hết rồi, giống như màn đêm ngoài kia. Gương mặt của Tuyết hiện về trong tâm trí, như ánh sáng cuối con đường, đem theo một ý tưởng tồi tệ, hoặc cũng có thể là một sáng kiến: Trâm phải trở về thôi, trở về bên Tuyết, bên cuộc sống trong mơ, tương lai, tất cả mọi thứ. Trâm không thể chịu đựng nổi suy nghĩ rằng mình sẽ bỏ cả cuộc đời ở lại, tiến vào một đường hầm tăm tối, vô định. Cô phải quay về nơi cô thuộc về. Trâm vờ như mình cần đi vệ sinh gấp, nhờ ba lái vào một trạm dừng chân cách đó chưa đến mười cây số. Mẹ và anh trai có chút khó chịu, nhưng vẫn chấp nhận. Cô mở khóa điện thoại của chính mình, viết một tâm thư ngắn trong ứng dụng ghi chú của điện thoại và giấu trong hộc đựng đồ nhỏ cạnh cửa sổ. Nếu phải đợi quá lâu, họ sẽ gọi vào số máy của cô, đọc được những lời nhắn gửi này. Chỉ có hơn mười phút, Trâm đã đổi ý đến hơn chục lần, không chắc mình có nên làm điều này hay không. Cô sẽ làm cách nào để trở về Hóc Môn, tìm Tuyết, có lại tất cả? Cô chẳng còn giấy tờ gì trong người. Sẽ ra sao nếu cơ quan chức năng tóm được và hỏi về danh tính của cô. Chẳng lẽ cô sẽ khai thật? Rằng mình là con gái của một gia đình tẩu thoát sang biên giới, trốn nợ nần, tránh pháp luật. Rồi họ sẽ làm gì cô nữa? Họ sẽ làm gì với gia đình của cô, những người đang nỗ lực gầy dựng cuộc sống mới? Tuyết sẽ không đi bất kỳ đâu mà không có Trâm, và ngược lại, Trâm sẽ không đi bất kỳ đâu mà không có Tuyết. Rồi cô quyết định, mặc kệ chúng đi, bằng mọi giá, Trâm phải trốn khỏi đây. Đúng ba giờ sáng, chiếc xe thùng đậu ngoài vạch đỗ xa nhất trong trạm dừng chân. Cả mẹ và anh trai của Trâm cũng xuống xe để đi vệ sinh. Tranh thủ lúc không có ai để ý đến mình, Trâm đã bỏ trốn. Đó là đêm dại dột nhất của cô bé mười tám tuổi. Chỉ có ánh trăng khuyết lấp ló qua những tán lá rừng, xung quanh xào xạc đủ mọi loại âm thanh kinh khủng mà cả đời này, một bông hoa trong lồng kính không thể nào lường trước. Cô cứ chạy, chạy mãi, đi, rồi đi mãi. Con đường mòn cứ dài tít tắp không có lối ra, chân cô đã rã rời. Khi kiệt sức ngã xuống một góc cây, cô cũng chẳng biết mình có thực sự muốn thức dậy hay không nữa. Sáng hôm sau, có một bác gái trung niên đã tìm thấy Trâm nằm vật vã trên nền đất. Bác đánh thức Trâm, hỏi han đủ chuyện nhưng cô chẳng còn tâm trí đâu để trả lời, chỉ biết chưng ra gương mặt bơ phờ mệt mỏi, nên bác đưa cô về nhà mình. Trên đường đi, bác đã lờ mờ đoán Trâm vừa chạy khỏi bọn bắt cóc, buôn người, dạo này có tin đó rộ lên, làm ai cũng khiếp sợ. Chắc bác sẽ còn khiếp sợ hơn nếu biết cô đã chạy khỏi chính gia đình của mình. Bác bảo ở nhà bác cũng đang có một đoàn sinh viên, bạn của con trai bác đến tá túc, nhưng khi hai người trở về, bọn họ đều đã thu dọn đồ rời đi hết cả. Bác cho Trâm mượn phòng tắm, áo quần để thay, còn chuẩn bị một bữa sáng thịnh soạn cho cô. Trong lúc ăn ngấu nghiến bát cơm nguội, Trâm cứ phải sốt ruột lên xuống trước kế hoạch giao cô lại cho cơ quan chức năng, để họ mau chóng liên lạc với gia đình của cô. Không thể ngẩng mặt lên, hay trả lời bất kỳ câu nào của bác gái, Trâm áy náy vô cùng. Và như ý trời đã tán thành cho cuộc tẩu thoát này, bác gái có việc phải rời khỏi nhà gấp ngay sau đó. Bác bảo Trâm hãy ở yên trong nhà, khi bác trở về, sẽ giúp cô tìm lại gia đình. Một cơ hội quý giá, Trâm đợi cho bác đi khuất, liền vơ khắp nhà, được hơn một triệu tiền mặt. Cô biết rõ việc mình làm thật vô ơn với bác, nên đã để lại một lời nhắn, bằng cách viết lên tờ lịch mới đã xé của ngày hôm đó: “Con xin lỗi vì đã rời đi thế này, nhưng ơn nghĩa của bác, cả đời con sẽ không quên.” Rời khỏi nhà của ân nhân cứu mạng, Trâm tiếp tục chạy, ra khỏi khu dân cư đến đường lộ. Cung đường chỉ toàn những chiếc xe công-tai-nơ, xe tải chạy vùn vụt không kiêng nể trái phải. Cô dùng hết can đảm của mình, bước qua làn chắn, giang tay thật rộng, cầu mong cho một tài xế tốt bụng nào đó có thể dừng lại hỏi han. Hơn mười phút vẫy vùng, cuối cùng cũng có một chiếc xe tải dừng lại bên đường để tiếp chuyện với cô. Người đàn ông hơn ba mươi tuổi đồng ý cho cô quá giang về thành phố Hồ Chí Minh. Nhưng cái giá phải trả, lớn hơn cả một triệu đồng… Trâm về đến Hóc Môn khi nắng đã ngả màu, mây đen ùn ùn kéo đến. Đôi chân cô bé như rụng rời, ngồi bệt xuống trước cửa nhà của Tuyết, chẳng có ai ở nhà. Bám lấy cổng nhà bạn mình, cô không biết mình có nên hối hận hay không. Hiện chẳng có hàng xóm nào qua lại, chắc vẫn chưa ai biết cô đã về. Nhưng nếu họ biết thì sẽ phải làm sao đây? Cô sẽ phải đại diện cho gia đình trước pháp luật để trả nợ ư? Ý nghĩ đó khiến cô mãi vùi mặt vào bóng tối, như thể cái chết đang ở đây rồi. Một tiếng động cơ xe quen thuộc từ phía xa đang lại gần. Đó là lúc Trâm biết mình đã dùng cạn may mắn của của ngày hôm nay, hoặc tuần này, tháng này, có thể là điều may mắn cuối cùng trong đời: Tuyết đã về nhà. Khi cả hai chạm mặt, Trâm thấy chính mình đang sống trở lại, nhịp tim này đang đập mãnh liệt, bơm dòng máu nóng nuôi cả cơ thể này bừng nhiệt. Những giọt nước mắt cứ tuôn trào, Trâm chẳng biết nói gì ngoài thốt ra tiếng nức nở vô dụng, phiền phức. Tuyết cũng bần thần mất một lúc, cố nén xúc động để đưa Trâm vào nhà. Trâm bí mật sống trong phòng người anh trai của Tuyết, nhân lúc anh ấy đang theo học nội trú, khóa huấn luyện quốc phòng của trường đại học. Đương nhiên, phi vụ này chẳng được lâu, ba mẹ Tuyết đã phát hiện ra vị khách không mời này vào một hôm Trâm chẳng may làm đổ cây móc treo đồ trong phòng. Họ đã vô cùng sửng sốt sau khi nghe được đầu đuôi câu chuyện từ chính con gái của mình. Nhưng thay vì hiểu cho cô bé mà mình đã từng xem như con ruột, họ lại không chấp nhận giấu diếm cô như thế này. Nếu có bất kỳ ai phát hiện Trâm không có giấy tờ tùy thân, gia đình Tuyết sẽ gặp rắc rối. Chỉ trong một đêm, họ lo liệu chi phí, gói ghém đồ đạc, cho cô một ít tiền tiêu vặt, rồi tiễn cô lên xe trở về quê ngoại, nơi những người họ hàng đang sinh sống. Nhưng có vẻ sau một lần băng qua cả cánh rừng biên giới, việc tẩu thoát khỏi một chiếc xe đò, tìm đường trở ngược về thành phố đối với Trâm, dễ như ăn bánh. Thật ra, cô nghĩ sống với họ hàng cũng không tệ đến thế. Đó là nếu như họ không từ mặt cả gia đình cô sau khi nghe về món nợ khổng lồ, họ cũng chẳng tốt lành gì. Trâm muốn tìm một bến đỗ, nơi cô tìm thấy sự an toàn, cảm giác được tin tưởng tuyệt đối, và đó không đâu khác ngoài ở bên cạnh Tuyết. Một nửa con người cô đã luôn lưu lạc lại nơi người bạn nối khố. Một triệu đồng chỉ vừa đủ để Trâm lang bạt trên đất Sài Gòn được gần một tháng. Hai tuần đầu tiên, cô mất khá nhiều thời gian để sốc lại tinh thần của chính mình, chống lại những hoang mang vô định theo tận vào trong giấc ngủ chập chờn ở các cửa hàng tiện lợi. Sau khi tạm vượt qua được khủng hoảng, không có gì trong tay, không quen biết bất kỳ ai, Trâm đã tự viết cho mình một bản kế hoạch trang trải điên rồ. Ban đầu, cô nhìn thấy một cặp đôi nam nữ trẻ trạc tuổi mình, với lối ăn mặc hầm hố, bụi bặm ra vào cửa hàng tiện lợi vào đêm hôm khuya khoắt. Nếu là Trâm, cô học sinh gương mẫu ngày xưa, hẳn cô đang liếc nhìn họ với hàng ngàn những đánh giá khuôn phép trong đầu. Nhưng lúc này đây, thứ cô bận tâm hơn chính là về những chủ đề mà họ nói với nhau. Chàng trai với quả đầu xanh lè kia lòe với cô gái gầy gò ngồi bên cạnh, cổ tay cô ta đầy vết cắt, khiến Trâm lạnh run cả người. Anh ta nói rằng mình chơi guitar điện cho một ban nhạc khá nổi tiếng trong cộng đồng gì đó, Trâm khá chắc mình giỏi tiếng Anh, nhưng chưa được tiếp xúc với từ đó bao giờ, ở thời điểm đó, cô tạm gọi nó là “xập cầu gì gì đó”. Đó là một hội kín chăng? Hay là băng đảng? Dựa vào những thông tin mà anh kể, Trâm có thể hình dung ra một thế giới mới đang song hành tồn tại cùng thực tại tàn khốc. Nơi đó có những người không biết mình là ai, không biết mình sẽ gặp ai, họ chỉ sống mỗi ngày cho thật vui, cố gắng gạt đi tất cả những quy tắc, đặt ra luật lệ cho riêng mình. Thật sự có một nơi trong thành phố này vô hình trong mắt những con người khuôn mẫu, một nơi mà ngay cả khi biết đến sự hỗn loạn của nó, cũng chẳng ai mảy may quan tâm, kể cả các cơ quan chức năng. Cô biết, những diễn tả lúc này của cô khiến cho cái Xập cầu đó nghe như một thế giới thần tiên, một đất nước cộng hòa trong mơ, chắc chắn chẳng có nơi nào như thế cả. Không phải quá phù hợp với Trâm ngay lúc này sao? Sẽ không có ai biết cô là ai, hay vì sao cô lại ở đây. Chính vì thế, cô đã ghi nhớ địa chỉ quán rượu mà tên đầu xanh lè kia nhắc qua, ngay ngày hôm sau, cô có mặt tại đó. Sau này khi kể lại cho Tuyết nghe, cô cũng không chắc mình can đảm hay ngu ngốc, mà dám đến một quán rượu nằm sâu trong hóc hẻm chỉ vì nghe câu chuyện đêm qua thật diệu kỳ. Câu trả lời sẽ là can đảm, vì thật sự sau này cô đã được nhận vào làm ở đó, quán rượu của ông Thiều. Nhưng ngu ngốc, vì họ không làm việc vào ban ngày, nên mọi công sức chuẩn bị bản thân tươm tất vào sáng hôm đó là công cốc. Trâm đã phải ngồi bệt ở ngoài hiên quán rượu, thở dài sườn sượt suốt buổi sáng, đó cũng là lúc cô gặp chị Cơ. Chị bước ra từ quán rượu, chị vừa xăm cho một người bạn làm nhân viên ở đó, bắt gặp dáng vẻ Trâm ngủ gà ngủ gục bên hiên, nên đã hỏi chuyện. Thoạt đầu, cô chẳng nói gì về mình, chỉ bảo mình đến đây xin việc. Thế rồi chị mời cô về tiệm xăm nhỏ mới mở của mình. Trâm khá bất ngờ về sự phóng khoáng và thân thiện của những người ở Xập cầu. Công nhận rằng phần đông số họ có vấn đề về tâm lý chống đối xã hội, nhưng cũng không ít người hào phóng và tốt bụng. Nhất là chị Cơ đây, chỉ trong một buổi sáng hôm đó, Trâm có một chân học và phụ việc trong tiệm xăm 11/2. Chị có vẻ rất hứng thú sau khi biết cô em lang thang này có một nét vẽ rất ấn tượng. Ngoài ra, chị còn đồng ý để Trâm ngủ lại tiệm vào ban đêm, sau khi nghe rằng cô không có nơi để đi. Chỉ là trong một chốc lát, Trâm cảm thấy mọi thứ… thật dễ dàng. Đương nhiên là không phải sung sướng gì, nhưng ở cái thế không có gì trong tay, Trâm có được một thứ gì đó thật nhanh chóng. Cứ như thể mọi thứ đã ở đó sẵn từ lâu, chỉ cần đợi cô đến, là mọi thứ sẽ đâu vào đấy. Suy nghĩ thật không đúng tí nào. Không một ai có thể lường trước những đổ vỡ của gia đình cô. Vụ tai nạn giao thông có thể là sắp đặt, nhưng vụ bài bạc vay vốn thì hoàn toàn là ngẫu nhiên. Nếu có một thế lực nào đó có thể dàn xếp tất cả chuyện này, chỉ có thể là ông trời, là bánh xe số phận. Để làm gì ư? Ai mà biết được? Phá hỏng cuộc đời cô sao? Nghe hay đấy, nhưng tại sao cơ? Trâm đã phải cam lòng một khoảng thời gian ngắn, cụ thể là một tháng không gặp gỡ hay liên lạc được với người bạn tri kỷ, động lực lớn nhất cho những cuộc du hành mờ mịt này. Chủ yếu, cô cần phải làm quen với cái Xập cầu này, cách nó vận hành tương đối phức tạp hơn cuộc sống học đường chính chuyên. Đồng ý rằng vẫn tồn tại thứ gọi là quy tắc, giấy trắng mực đen, nhưng thứ âm thầm chảy dưới những giao ước cỏn con đó mới quyết định cuộc sống của những mảnh đời trẻ nổi loạn, biết mình và biết điều. Có những người bằng tuổi bạn, năng lực ngang, hoặc kém hơn cả bạn, ăn nói thì xấc xược, hành tung bất thường, nhưng vẫn có được tiếng nói ở đây. Lạ nhỉ? Cả cuộc đời phía trước quanh quẩn ở huyện Hóc Môn, trường học, trung tâm năng khiếu không hề dạy cho Trâm điều này. Bạn bè cùng tuổi cô cũng đã tốt nghiệp cả rồi, việc làm quen với môi trường mới là vấn đề chung. Vậy mà Trâm có cảm tưởng rằng trong một tháng, mình đã “học” bằng cả mười hai năm đèn sách của mình. Mọi thứ dồn dập, ngột ngạt như một cơn sóng dữ tạt vào chân cầu tre mỏng manh, cô đã có thể sụp đổ bất kỳ lúc nào. Trong những đêm nằm quằn mình trên băng ghế xăm, Trâm tưởng tượng như đống khói mờ thơm mùi cam, chanh vàng mình vừa thở phào từ cửa miệng, là ân xá của một vị thần. Ông ta vắt những mảnh vải trắng trên người, lộn xộn, nhưng cũng khá hợp mắt. Mỗi lần ông ta vuốt bộ râu dài quằm, rối ren của mình, làn khói bốc lên từ dưới chân cầu, khiến những thanh tre cũ kỹ thành đống thép lạnh lẽo. Chính nó đã giúp cô vững vàng hơn, cũng chẳng biết có phải là một cơ may hay không, chỉ biết là làn khói đó đưa cô qua những ngày đau đớn nhất. Cảm ơn, ông già. Quả là một phép màu khi sau đó, cô có thể nhờ một vài quan hệ mới quen biết, tìm kiếm Tuyết trên mạng xã hội. Chị Cơ đã sắp xếp cho họ một buổi gặp gỡ tại tiệm xăm của mình, vào một dịp vắng khách. Tuyết đã suýt nữa báo cảnh sát vì nghĩ đó là một trò đùa. Ngày đó đến, họ gặp lại nhau qua một lớp kính dày của tiệm. Tuyết đứng bên ngoài cửa, trời nắng chói chang, trên tay cô cầm một chồng sách vở dày, có lẽ đó là những gì Trâm để lại ở trường trước khi bỏ trốn. Còn cô, Trâm đứng nhìn ra ngoài, trong một gian phòng xăm phủ bằng các phụ kiện trang trí đen tối, đáng sợ. chỉ có âm thanh rù rù từ máy điều hòa là nghe “người” nhất. Cuộc hội ngộ đầy nước mắt diễn ra ở cửa tiệm, họ vội vàng đến nỗi Tuyết còn chẳng kịp vào trong, ngồi xuống đàng hoàng. Trâm kể cho người bạn của mình nghe về hàng nghìn thứ đã diễn ra trong hơn hai tháng. Có rất nhiều lời cảm ơn đáp lại lời xin lỗi, những lời hứa bị từ chối vì quá bất khả thi. Mọi thứ nay đã khác rồi, Trâm đã có một cuộc sống của riêng mình, cố gắng để không khiến tri kỷ của mình bị liên lụy dù chuyện gì xảy ra đi nữa. Phải mất rất lâu, cô mới có thể thuyết phục Tuyết, rằng chẳng có gì xảy ra là do Tuyết, rằng cô sẽ ổn thôi, rằng họ vẫn là một đôi tri kỷ. Từ đó, hai đường thẳng song song đã trở thành hai đường tiệm cận. Có người vẫn phải đi tiếp con đường tươi sáng mình đã sắp xếp từ khi còn là cô nhóc nhút nhát, bị đám con trai bắt nạt. Có người cũng chẳng biết mình có còn là mình hay không nữa, còn sống yên ngày nào thì hay ngày đó. Chẳng có sự đồng hóa nào ở đây cả, tất cả chỉ là những suy đoán tưởng tượng của cô thiếu nữ cấp ba. Họ vẫn là hai cá thể riêng biệt, sống cuộc đời khác nhau, đi trên những con đường chập chùng lên xuống chồng chéo nhau. Nhưng chắc chắn rồi, họ là một đôi tri kỷ. Không có một luận điểm, ý kiến nào có thể thay đổi sự thật muôn đời đó. |
0 |
