Chương 17
Vẫn ngồi yên tại chỗ, Bình nắm chặt hai bàn tay đến mức các khớp xương trắng bệch.
Giữa bầu không khí đặc quánh sự căng thẳng này, cậu cay đắng nhận ra một sự thật tàn nhẫn: Dù chọn con đường nào đi chăng nữa, bản thân cậu cũng đang là kẻ yếu nhất trong số những người có mặt ở đây. So với già làng Liêng dạn dày sương gió, so với Y-Kha đã tự giam mình học thuật pháp suốt mười bảy năm ròng rã để chuộc tội, hay thậm chí so với Trân, người mang trong mình sợi dây nhân quả và huyết mạch trực tiếp với ác quỷ, thì Bình gần như chẳng có gì trong tay.
Vốn khai căn khi bên cạnh không có một vị sư phụ để trực tiếp dạy bảo và giúp cải thiện thể chất, cương khí của cậu hãy còn quá mỏng manh, kiến thức thực chiến lơ mơ chắp vá, còn mớ bùa chú mang theo thì đã hao hụt chẳng còn đáng là bao. Cậu lấy gì để bảo vệ Trân, lấy gì để giành giật lại mạng sống cho Minh và Nhung trước một thực thể oán hận ngút trời như ma lai?
Đang lúc sự tự ti và bất lực gặm nhấm tâm can Bình, một giọng nói khè khè, lạnh lẽo nhưng mang theo uy áp tuyệt đối chợt vang lên ngay bên tai cậu. Không phải bằng âm thanh vật lý, mà nó truyền thẳng vào đại não.
"Kẻ được dẫn đường... Hãy lục tìm phần đáy giả của chiếc ba lô."
Bình giật thót mình, ngước mắt nhìn lên. Ở góc phòng, Y-Kha, kẻ đang được rắn thần mượn xác, chỉ khẽ nhắm hờ đôi mắt sọc dọc, hoàn toàn bất động.
Nửa tin nửa ngờ, Bình kéo vội chiếc ba lô sờn cũ của mình lại gần và đưa tay sờ soạng lớp lót vải bên dưới đáy. Bấy lâu nay mang theo nó đi phượt khắp các cung đường, cậu biết loại ba lô này đúng là có đáy giả, nhưng cho đến nay chưa từng cho gì vào hoặc nhận thấy có gì bên trong nó. Ấy vậy mà, khi cậu mở khoá kéo và dốc mạnh…
Thứ rơi ra ngoài khiến nhịp tim cậu như ngừng đập.
Một cuốn sổ tay bìa da đã bong tróc, ố vàng. Nó đã nằm im lìm trong chiếc ba lô này suốt bao năm tháng qua, tĩnh lặng và bí mật, như thể bị yểm một lớp bùa che mắt, chỉ cho phép được nhìn thấy vào đúng thời khắc sinh tử này.
Bình run rẩy lật giở từng trang giấy. Nét chữ viết tay rắn rỏi, quen thuộc của người ông nội quá cố hiện ra rõ mồn một. Ông viết rằng, bằng những quẻ bói lúc cạn kiệt sinh lực vào những tháng cuối đời, ông đã nhìn thấu được kiếp nạn đầu tiên của đứa cháu trai sẽ diễn ra đúng vào một hoàn cảnh như thế này: giữa đại ngàn, đối đầu với tà vật, và kề cận ranh giới sinh tử.
Vì thế, ông đã để lại những lời dặn dò ngắn gọn nhưng mang tính sống còn. Kẹp giữa những trang sổ là vài xấp bùa chú đỏ chót mà chính tay ông đã cất công thỉnh từ một vị sư phụ ẩn danh trên Núi Cấm. Quan trọng hơn, cuốn sổ ghi chép lại các thuật pháp khắc chế tà ma: khu tà, thanh tẩy, hộ thân, truy hồn và hồi hồn. Tất cả vốn là những phép mà một đạo đồng nhập môn không dễ lĩnh ngộ chỉ trong ngày một ngày hai, nhưng ông đã chắt lọc những tinh hoa để giản lược hóa mọi thứ nhất có thể nhằm giúp Bình có thể miễn cưỡng thi triển có hiệu quả trong hoàn cảnh có nhiều hạn chế như hiện tại.
"Ông biết cháu sẽ khai căn thành công vào đúng ngày hôm qua..."
Đọc đến dòng chữ ấy, hốc mắt Bình đỏ hoe, tầm nhìn nhòe đi. Ông nội còn tính toán được cả việc này. Ông căn dặn Bình phải học thật nhanh, thật gấp. Dù chỉ đạt tiểu thành, nhưng nếu kết hợp đúng vật dẫn, đúng thời điểm, những thuật pháp này sẽ phát huy uy lực không ngờ.
Và ở trang cuối cùng, ông nhắc đến một điều khiến Bình lạnh toát sống lưng nhưng cũng bùng lên ngọn lửa hy vọng: "Nếu một thực thể mang thần cách trong hình dáng loài xà xuất hiện, đừng sợ hãi. Ngài sẽ là trợ thủ đắc lực nhất, giúp cháu làm chủ những đạo pháp vốn vượt quá kinh nghiệm của mình."
Khoảnh khắc đó, Bình gần như vỡ òa. Nước mắt lã chã rơi xuống trang giấy ố vàng. Dù đã được ông nội dắt tay vào thế giới tâm linh từ thuở bé tí, nhưng những gì diễn ra trong ngày hôm nay vẫn khiến cậu choáng ngợp. Mọi thứ không còn là những câu chuyện kể bên hiên nhà hay những hình bóng lờ mờ của vong hồn vô hại đi ngang qua bàn cúng rằm, cũng không còn là những cảnh báo mơ hồ về “có thờ có kiêng, có thiêng có lành” nữa, mà là máu, là mạng sống, là sinh tử thực sự. Và giữa cái thế giới tàn khốc ấy, tình thương của ông nội đã vượt qua lằn ranh âm dương để che chở cho cậu.
Đến gần khuya, khi già làng xác nhận ma lai đã thực rút lui dưỡng sức để chuẩn bị cho đợt bùng nổ tiếp theo, tất cả mới thực sự thở phào. Bình nhẹ nhàng kéo chăn đắp cho Trân, ngồi cạnh vỗ nhè nhẹ lên lưng cô, dỗ dành cho đến khi hơi thở của Trân đều đặn trở lại sau một ngày dài vắt kiệt cả thể xác lẫn tinh thần.
Lúc chiều, Bình, già làng và thần Rắn đã trao đổi với nhau. Trước hết họ cần phải bằng mọi giá đưa phần hồn vía bị bắt mất của hai người bạn trở về để không bị ma lai lấy ra làm con tin. Người chủ trận bắt buộc phải là Bình, phần vì cậu có ít nhiều liên kết với họ, phần vì chàng thầy pháp trẻ cần sớm bắt tay vào thực hiện pháp sự đầu tiên để làm quen với quá trình gian nan này.
Đợi Trân ngủ say, Bình ôm cuốn sổ và xấp bùa, lặng lẽ bước ra khoảng sân sàn tối tăm. Ở đó, dưới sự giám sát nghiêm ngặt và uy áp của rắn thần thông qua Y-Kha, cậu bắt đầu học phép. Bằng cách nào đó, rắn thần đã tìm được một con thằn lằn còn sống giữa cái buôn làng đã chẳng còn gì ngoài đám người Bình là được coi là có sinh khí. Vì động vật đã phần nào hình thành giác hồn, Bình sẽ luyện tập trên con thằn lằn để trước hết quen với thao tác nắm bắt và triệu hồi phần hồn này về lại cơ thể.
Gió lạnh rít gào cả trong lẫn ngoài kết giới đỏ ối, thổi tung mái tóc rẽ ngôi dài quá gáy của Bình. Thần Rắn tạo một pháp đàn nhỏ, ở trung tâm nơi đó con thằn lằn đã bị rút mất giác hồn đang nằm tĩnh lặng như đã chết. Bình tự hỏi liệu con vật kia có đau đớn không khi cứ thế bị rút đi một phần hồn, nhưng nghĩ đến việc nó là con mồi tự nhiên của loài rắn, cộng thêm tình hình đã cấp bách và sự hy sinh của nó phục vụ cho mục đích cao cả hơn, cậu đành phải tạm bỏ đi lòng nhân hậu của mình. Thế là cậu liền ngồi xếp bằng, tay bắt ấn, niệm chú, ép cương khí chạy dọc các kinh mạch.
“...Cấp cấp như luật lệnh!”
Dù mới nhập môn, sự lĩnh ngộ của Bình tiến bộ với tốc độ kinh người. Hiệu quả ban đầu của các phép truy hồn và hồi hồn hãy còn chệch choạc, nhưng thần Rắn liên tục điều chỉnh nhịp thở cho cậu, xác nhận rằng chỉ cần kết hợp với đúng thao tác và vật dẫn, sức mạnh của cậu sẽ đủ sức kéo hồn Minh và Nhung trở về.
Không biết thời gian đã trôi qua bao lâu, khi mà đến cả điện thoại hay đồng hồ đeo tay cũng chẳng còn hoạt động nữa. Chỉ khi thần Rắn cảm nhận được địa mạch và bảo rằng đã đến giữa giờ Dần, Bình mới thu dọn bùa chú. Cậu sẽ có hơn một tiếng để nghỉ ngơi và chuẩn bị tinh thần trước khi chính thức thi pháp vào lúc giờ Mão hai khắc, tức khoảng năm giờ bốn mươi phút sáng, khi âm dương bắt đầu tiến vào thời khắc giao thoa.
Bước nhẹ nhàng vào trong gian phòng ngủ, Bình trở lại vị trí cũ bên cạnh Trân. Cậu ngồi khoanh chân, tựa lưng vào vách nứa, hướng ánh mắt nhìn khuôn mặt tiều tụy của cô gái. Bình muốn đảm bảo rằng, bất cứ lúc nào cô giật mình tỉnh giấc giữa cơn ác mộng của thực tại, thứ đầu tiên cô nhìn thấy vẫn luôn là cậu ở đó, chưa từng rời đi.
Có lẽ vì giấc ngủ vốn không được sâu, nên ngay khi nghe tiếng kẽo kẹt của sàn nhà và vách tường, Trân mơ màng tỉnh dậy. Hàng mi cô khẽ chớp, tầm nhìn lờ mờ dần trở nên rõ nét. Trong thứ ánh sáng xanh xao hắt ra từ cái đèn bắt muỗi chạy pin, Trân thấy Bình đang ngồi đó. Đôi mắt cậu thâm quầng, sắc mặt tái nhợt đi vì kiệt sức, nhưng ánh nhìn vẫn kiên định và dịu dàng hướng về phía cô.
"Ông... không ngủ cả đêm qua à?" Trân cất giọng khàn đặc, chống tay lồm cồm ngồi dậy, hàng chân mày lập tức nhíu chặt lại xót xa.
Bình hơi giật mình. Cậu vội vàng xốc lại tinh thần, nặn ra một nụ cười quen thuộc để xua đi bầu không khí căng thẳng:
"Đâu có, tôi vừa mới dậy thôi. Thấy bà ngủ say quá nên tôi mới ra ngoài hiên hóng gió một chút."
"Xạo." Trân gắt nhẹ.
Quen biết nhau từ thời còn ăn chưa no lo chưa tới ở cái hẻm nhỏ Thủ Đức, cô lạ gì cái tật giật mình và nụ cười gượng gạo lấp liếm của tên ngốc này. Trân híp mắt, nhìn soi mói vào những giọt mồ hôi hột vẫn còn lấm tấm trên trán cậu.
"Mặt ông trắng bệch ra kìa. Thức trắng đêm để canh chừng cho mọi người... hay lại lén vắt kiệt sức tập tành mấy cái bùa chú gì nữa đúng không?"
Biết không thể qua mặt được cô sinh viên ngành Y vốn luôn nhạy bén, Bình đành đưa tay gãi đầu, khẽ thở dài thừa nhận: "Thì... cũng có thức một chút để ôn lại mấy phép ông nội để lại. Nhưng bà yên tâm, dân có căn học đạo tụi tôi chỉ cần ngồi thiền nhắm mắt chừng mười lăm phút là nội công thâm hậu, hô hấp điều hòa, lại khỏe như vâm ngay ấy mà."
"Khỏe như vâm hay là vắt kiệt sức đến nơi rồi?" Trân lừ mắt.
Không thèm đôi co thêm với kẻ lúc nào cũng thích gồng mình gánh vác mọi chuyện, Trân nhích người tới. Bất thình lình, cô vươn hai tay ấn mạnh lên vai Bình, đẩy cậu ngã ngửa xuống mặt nệm.
Cú đẩy thực chất không mang quá nhiều lực, nhưng cơ thể Bình lúc này vốn đã mỏi nhừ khi liên tục tập bắt ấn trước đó nên ngoan ngoãn đổ ập xuống theo sự dẫn dắt của cô. Cậu còn chưa kịp mở miệng ngơ ngác hỏi thì một tấm chăn mỏng đã được Trân kéo lên, đắp kín ngang ngực.
"Nằm im đó. Ngủ đi!" Giọng Trân cộc lốc, lạnh lùng như thường lệ, nhưng ẩn sâu trong từng chữ lại chất chứa một sự quan tâm bồn chồn không thể che giấu. "Ông mà gục xuống thì ai lo cho cái mạng của tôi với đám Khoa, Minh, Nhung hả? Nhắm mắt lại, mười lăm phút hay một tiếng cũng phải nhắm mắt ngủ cho tôi."
Bình chớp mắt nhìn trần nhà, rồi lại lén nhìn sang gò má đang hơi ửng hồng lên vì ngượng của cô bạn hàng xóm. Khóe môi cậu vô thức cong lên. Sự dịu dàng vụng về, luôn thể hiện bằng hành động thay vì những lời sến súa này của Trân luôn có cách khiến bao nhiêu mệt nhọc, gánh nặng trong cậu bỗng chốc tan biến.
"Biết rồi, thưa bác sĩ Trân." Bình khẽ đáp, ngoan ngoãn nhắm mắt lại, để mặc cho sự mệt mỏi êm ái cuối cùng cũng được phép vây lấy mình.
Thấy hơi thở của Bình đã bắt đầu đều đặn, Trân mới lén thở hắt ra một hơi. Cô cẩn thận tém lại góc chăn cho cậu, rồi lẳng lặng đứng dậy, rón rén bước từng bước thật khẽ để không làm ván sàn kêu kẽo kẹt. Bụng dạ ai nấy đều đã réo cồn cào, cô phải ra góc bếp tạm bợ phía sau, dùng chút nước sạch ít ỏi còn lại để nấu vội mấy gói mì tôm. Giữa cái chốn rừng thiêng nước độc lạnh buốt và đầy rẫy tà khí này, chí ít cô cũng phải chuẩn bị một tô mì nóng hổi lót dạ, để "tên ngốc" kia thức dậy còn có sức mà tiếp tục chiến đấu bảo vệ mọi người.
~~~
Khi giờ đẹp đã điểm, Bình cùng già làng và rắn thần trong thân thể Y-Kha ngồi xung quanh hai thân thể tuy còn sự sống nhưng đã chẳng còn ý thức của Minh và Nhung. Các vật dẫn ngũ hành đã được chuẩn bị, Bình bố trí một tiểu kết giới để đảm bảo âm dương được cân bằng. Đoạn cậu trích máu mình và của hai người bạn chấm lên bùa, đồng thời vẽ ra họ tên cùng sinh thần lục tự và dán chúng lên đầu và hai vai họ. Việc bát tự thiếu đi giờ sinh, thứ không được ghi trong chứng minh thư của Minh và Nhung, sẽ khiến quá trình khó khăn thêm một chút, cậu đành thay thế bằng một lọn tóc của mỗi người.
Phần chuẩn bị của Bình đã tạm xong, tiếp theo già làng bày một mâm cúng nhỏ với rượu thịt và hương nến. Dẫu không rõ có thể thông linh đến các vị thần linh địa phương hay không, nhưng đây vẫn là thủ tục cần có để một thầy pháp ngoại đạo đến từ nơi khác xin phép các đấng để có thể hành lễ tại địa phương.
Khi nến và hương đã cháy, Bình ngồi quỳ, chắp tay thành tâm cất tiếng:
"Cúi xin Thần Đất Yang Lăn, Thần Bếp Lửa linh thiêng chứng giám. Kính lạy O' Yang H'bong, Yang H'biêng, các vị thần núi thiêng, thần rừng linh bảo hộ vùng đất này. Đệ tử tục danh là Nguyễn Thanh Bình, mang căn đạo Thất Sơn, nay lưu bước chốn đại ngàn, gặp lúc tà ma lộng hành, oán khí che khuất thanh thiên. Đệ tử không dám làm loạn phép tắc, chỉ cậy chút đạo pháp gia truyền để cứu vớt sinh linh, kéo hồn gọi vía những người bạn đang phiêu dạt cõi u minh. Nay mâm bạc lễ mọn, xin mượn tấc đất thiêng của chư vị Yang để lập pháp đàn Ngũ Hành. Cúi xin ánh sáng của Yang chiếu rọi khắp chốn, xua đuổi tà ma, tạo vòng giới đàn kiên cố, che chở cho đệ tử thi pháp không bị ác linh quấy nhiễu. Bằng sức mạnh của núi rừng, bằng pháp lực của trời đất, Thất Sơn đồng lòng, Yang linh trợ lực!"
Ở bên cạnh, già làng cũng hỗ trợ bằng cách dịch lời của cậu sang tiếng Ê Đê. Kết câu, cả hai vái lạy ba cái, và trong khi Bình thấp thỏm chờ đợi, ngọn lửa nến bùng lên trong thoáng chốc.
“Các Yang đã chấp thuận rồi, các ngươi bắt đầu đi.”
Thần Rắn khẳng định, rồi ngài thoát ra khỏi người Y-Kha. Không chút chần chừ, cả ba tiến tới vị trí của mình. Bình làm chủ sẽ ngồi ngay sau pháp đàn, hai bên tả hữu cậu là già làng và Y-Kha hộ pháp, còn thần Rắn đảm bảo sẽ cản trở ma lai cảm nhận được quá trình thi pháp.
Trong tư thế xếp bằng, Bình nhìn cuốn sổ tay, chậm rãi bắt từng ấn quyết và đọc từng câu chú được diễn giải trong đó. Ngay lập tức cương khí được vận dụng từ đan điền đến hai tay, các ấn quyết từ đó nhanh dần và áp lực tinh thần cậu phải chịu cũng tăng theo, đến mức mồ hôi rịn ướt trán và lưng.
"Khói trầm quyện Thất Sơn mờ ảo,
Thỉnh chư thần chứng bảo lời cầu.
Đất trời lồng lộng sông sâu,
Mượn oai đạo pháp phép mầu giăng ra.
Chốn u minh đường xa mù mịt,
Trận âm dương bưng bít nẻo về.
Giác hồn phiêu bạt bến mê,
Cầm nhang rọi lối ta thề tìm phương.
Chín nẻo suối âm dương cách trở,
Mộc kiếm vung xé vỡ sương mù.
Cương khí đánh nát ngục tù,
Ác ma tà ngải mặc dù ngàn khơi.
Gió chướng thổi vạch trời soi tỏ,
Gọi vía hồn theo ngõ đò ngang.
Sông dài rẽ sóng xuôi đàng,
Nương theo đăng hỏa lai hàng bản tôn.
Lưới oán niệm vùi chôn cửa ngục,
Ánh chu sa hối thúc vong về.
Cắt lìa muôn sợi u mê,
Ba hồn bảy vía dựa kề hoàn sinh.
Đỉnh Thất Sơn hiển linh pháp ấn,
Lệnh Năm Ông giáng chấn tà ma.
Âm dương phân rõ chánh tà,
Hồn quy bản xác tức là bình an!
Cấp cấp như luật lệnh!"
Bình hoàn tất câu chú phải nói là phức tạp nhất đời mình, rồi đưa tay chỉ thẳng về phía hai người bạn.
“Một hồn bốn vía Dương Tuyết Nhung và Đào Nhựt Minh mau mau quy vị!”
~~~
Trong khi ở thế giới bên này, Bình đang vắt kiệt từng giọt cương khí để chuẩn bị cho nghi thức kéo hồn, thì ở một nơi khác, một không gian vặn vẹo không thuộc về cõi âm lạnh lẽo, cũng chẳng phải dương gian ấm áp, có hai mảnh hồn phách đang phiêu dạt.
Chúng bị lôi xềnh xệch đi bởi một sợi dây tà khí đặc quánh. Nó không phải là xiềng xích sắt thép hữu hình, mà là một lực hút vô hình, nối thẳng từ chúng đến một thực thể đang lơ lửng phía trước.
Mảnh hồn nam là kẻ lấy lại được ý thức đầu tiên. Khi "tỉnh", thứ đầu tiên Minh nhận ra không phải là cảnh vật xung quanh, mà là một nỗi hoảng loạn tột độ dội thẳng vào tâm trí. Cậu không có tay chân để vùng vẫy, không có ngực để thở dốc. Thế nhưng, nhờ bốn vía chứa thất khiếu bị kéo theo, cậu vẫn mơ hồ "nhìn" thấy mảng không gian méo mó trôi tuột qua, "ngửi" thấy mùi rỉ sét tanh tưởi xộc lên, "nghe" thấy những tiếng rít gào vô thanh vọng lại từ hư không, và “nếm” được vị máu lợm giọng hòa với đất mùn của mồ mả cùng. Tất cả cộng lại tạo nên một sự xót xa đến cùng cực.
Minh nhận ra sự bất lực tuyệt đối của mình: Cậu giờ chỉ còn là một ý thức thuần túy. Những ký ức cuối cùng xẹt qua: cảnh Khoa rồi tiếp đó là Nhung lên cơn điên dại, không khí ngột ngạt trong nhà dài, và rồi bóng tối ập đến. Cậu đang bị áp giải đi đâu? Kẻ nào đang kéo cậu đi? Minh hoàn toàn không biết.
Không lâu sau, mảnh hồn nữ của Nhung cũng dần thức tỉnh.
Nhung nhớ lại khoảnh khắc mình tỉnh dậy sau cơn mê, sự nghẹt thở điên cuồng khi đôi bàn tay vô hình bóp nghẹt lấy cổ, và rồi cú đánh ngất của Bình. Giờ đây, trôi dại trong không gian kỳ dị này, giác hồn, nơi cai quản toàn bộ cảm xúc con người của nhỏ rung lên bần bật. Những gì Nhung cảm nhận được về không gian này và những thắc mắc đang ập đến như thác lũ cũng giống hệt với Minh.
Họ vốn không phải là những kẻ vô thần. Qua lời răn dạy của ông bà và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, cả Minh và Nhung ít nhiều đều mang trong mình một khái niệm nhất định về linh hồn và thế giới bên kia. Nhưng khi chính hồn mình bị tước đoạt khỏi thể xác, vứt vào một không gian vô định với linh trí vừa bị cưỡng ép khai mở, thứ khái niệm mơ hồ ấy bỗng chốc hóa thành một hiện thực tàn khốc.
Bởi lẽ phần bị bắt đi chỉ là giác hồn, mảnh hồn cai quản thuần túy những cảm xúc hỉ nộ ái ố, hoàn toàn khuyết thiếu đi phần hồn lý trí trọn vẹn để có thể tự trấn an hay phân tích tình hình, nên bước đầu, họ bị nhấn chìm trong một cơn hoảng sợ tột độ. Đó là một nỗi kinh hoàng nguyên thủy, bạo liệt và không thể kìm nén khi bản chất lạnh lẽo của cái chết bất ngờ phơi bày ngay trước mắt. Họ sợ hãi chới với giữa bóng tối, ngỡ rằng mình đã thực sự bỏ mạng nơi rừng thiêng nước độc.
Thế nhưng, giữa cơn hoảng loạn dường như muốn xé nát cả ý thức ấy, chính sự nhạy bén của linh trí dẫu không đầy đủ lại thắp lên một tia sáng. Bằng một loại trực giác vô hình, họ dần nhận ra sự bất thường của không gian này. Nơi đây không có sông Vong Xuyên quạnh quẽ, chẳng có hơi lạnh vĩnh hằng hay âm luật của cõi chết, càng không mang cái uy áp trầm mặc phán xét của Âm ty địa ngục. Nó chỉ là một vùng không gian bị bóp méo, vặn xoắn, ngập ngụa oán khí tà đạo. Sự vắng mặt của trật tự cõi âm báo cho họ một sự thật mỏng manh nhưng vô cùng quý giá. Đây không phải là địa ngục, đồng nghĩa với việc sợi dây sinh mệnh của họ vẫn chưa đứt lìa. Họ vẫn chưa thực sự chết.
Ngay khoảnh khắc bấu víu được vào tia hy vọng ấy, hai mảnh hồn bất chợt nhận biết được sự tồn tại của nhau. Dù không có hình hài để nhìn hay tay để chạm, họ vẫn cảm nhận rất rõ một trường năng lượng mang hơi ấm quen thuộc đang lơ lửng ngay sát cạnh mình.
Đáng lý việc nhận ra cả hai cùng bị kéo vào chốn hung hiểm này phải khiến họ càng thêm lo lắng, bởi nó chứng tỏ thế lực tà ác kia không nhắm riêng vào một cá nhân nào mà tất cả đều đang gặp nạn. Nhưng đối với những mảnh giác hồn mang thuần cảm xúc đang chới với giữa hư vô, việc tìm thấy một đồng bạn lại trở thành chiếc phao cứu sinh mạnh mẽ nhất. Sự hiện diện vô hình nhưng rõ ràng của đối phương như một liều thuốc an thần xoa dịu đi nỗi cô độc tột cùng. Hơi ấm thân thuộc ấy đánh lùi cái lạnh lẽo của tà khí, giúp những cơn sóng sợ hãi điên cuồng dần lắng xuống. Dẫu vẫn đang bị thế lực hắc ám lôi xềnh xệch đi, nhưng khi biết mình không đơn độc, cả Minh và Nhung đều đã bình tĩnh lại ít nhiều, âm thầm nương tựa vào nhau để đối mặt với thứ đang chờ đợi ở phía trước.
Cuối cùng, lực kéo dừng lại. Họ bị ném vào một nơi.
Không gian ở đây nứt toác, vỡ vụn như phần lõi của một thế giới đang hoại tử. Và ở trung tâm của sự đổ nát ấy, một cảnh tượng hiện ra khiến cả Minh và Nhung, dù không còn trái tim vật lý để đập, vẫn cảm thấy một nỗi kinh hãi đan xen bóp nghẹt lấy Giác hồn.
Họ "nhìn" thấy vách đá trong rừng. Nhưng nó hoàn toàn không giống với vách đá ở trần thế. Nơi này bị băm vằm, phủ kín bởi hàng vạn ký hiệu đỏ au khắc chồng chéo lên nhau.
Ở chính giữa trận đồ ấy là ma lai.
Thật kỳ lạ, nó không hiện lên trong hình hài của một ác quỷ hung bạo, khát máu. Bằng đôi mắt của linh trí, họ thấy một thực thể gầy guộc đang bị trói chặt bởi chính lớp sương mù đen kịt tỏa ra từ người nó, một mớ oán hận đặc quánh. Nó đang ngồi xổm trên đá, dường như chẳng mấy bận tâm xung quanh, hai cánh tay vòng lại trước ngực, khư khư ôm lấy một khoảng không vô hình... Tư thế ấy dịu dàng, run rẩy hệt như một người mẹ đang ôm ấp đứa con đỏ hỏn.
Cùng lúc đó, bốn vía thất khiếu của hai mảnh hồn đồng loạt rung lên khi họ trông thấy một sợi dây khác. Sợi dây này sáng rực rỡ, mang màu đỏ thẫm, nối thẳng từ vị trí trái tim của con ma lai, đâm xuyên qua không gian méo mó, hướng về một nơi xa xăm nào đó. Dù không biết nó nối đi đâu, nhưng giác hồn của cả Minh và Nhung đều lập tức nhận ra một cảm giác quá đỗi quen thuộc phát ra từ vệt sáng ấy. Là Trân! Sợi dây đó mang theo hơi thở và sự hiện diện của cô bạn khó chiều cùng nhóm.
Hai mảnh hồn không biết gì về quá khứ mười bảy năm trước, cũng chẳng hiểu tà thuật là gì, nhưng linh trí hé mở giúp họ lờ mờ nhận ra một sự thật trước mắt: Ma lai này không vùng vẫy thoát ra, không phải vì những chữ bùa đỏ au kia, mà vì sợi dây màu đỏ đang níu chặt lấy trái tim nó. Chính sự tồn tại của hình bóng tên Trân ở đầu dây bên kia đã giữ thực thể này lại lằn ranh.
Từ góc nhìn bao quát của một ý thức, Minh chú ý đến cấu trúc xung quanh vách đá. Có năm cột trụ bằng ánh sáng nhờ nhờ đang bao quanh thực thể này, đan thành một cái lồng ngũ giác. Tuy nhiên, một trong năm cột sáng đó đang nhấp nháy, mờ nhạt và rung lắc dữ dội, như thể chân đế của nó đã bị lệch khỏi vị trí nguyên bản. Minh không biết ai đã lập ra cái lồng này, nhưng bản năng cơ khí và linh trí mách bảo cậu rằng trận đồ này đang mất cân bằng nghiêm trọng. Nếu có bất kỳ sự can thiệp nào từ bên ngoài dội vào lúc này, cấu trúc kia sẽ sụp đổ, và cái thứ đen ngòm đang bị giam giữ sẽ tràn ra ngoài.
Trong khi đó, giác hồn của Nhung lại bị hút vào một thứ khác biệt.
Lẫn trong biển oán khí ngút trời đang gầm rú, bốn vía thất khiếu của nhỏ "nghe" thấy một âm thanh. Nó không chát chúa, không mang theo sát khí. Nó là một đoạn âm thanh mỏng manh, tĩnh lặng trôi dạt giữa mớ hỗn mang.
Một tiếng ru con ầu ơ.
Tiếng ru ấy rất mờ, rất yếu ớt, nhưng nó trong vắt và chưa bao giờ bị bóng tối nuốt chửng. Nỗi buồn vô tận và tình thương phát ra từ tiếng ru ấy cộng hưởng mãnh liệt với giác hồn của Nhung. Sự cảm thông bản năng của phụ nữ cất tiếng mách bảo Nhung rằng đây chính là phần mềm yếu nhất, là khe hở duy nhất để chạm vào thực thể đang điên loạn kia.
Ngay lúc hai mảnh hồn vừa kịp ghi nhận những điều đó, không gian xung quanh bỗng vặn xoắn dữ dội.
Họ không nghe thấy tiếng Bình đọc chú, cũng chẳng biết có một trận pháp đang được kích hoạt ở dương gian. Họ chỉ đột ngột cảm nhận được một lực kéo dương khí khổng lồ từ phía sau lưng, chói lòa và sắc bén như một chiếc móc câu bằng vàng. Lực hút này đối chọi trực diện, giằng co ác liệt với sợi dây tà khí đang trói buộc họ.
Phựt!
Sợi dây của khối bóng tối đứt tung. Hai mảnh hồn bị giật ngược lại, lao vun vút về phía sau theo đúng con đường họ đã bị kéo đi. Cảnh vật méo mó lướt qua nhanh như một cơn lốc, cho đến khi cả hai cảm thấy mình va đập mạnh, rơi tự do vào một nơi chật hẹp, ngột ngạt nhưng vô cùng quen thuộc.
Ngay sau đó, những cảm giác khuyết thiếu đồng loạt ùa về như thác lũ.
Sức nặng của cơ thể đè gắt lên xương cốt. Không khí ùa vào buồng phổi gây ra một trận ho sặc sụa. Âm thanh ù ù bên tai dần rõ nét. Ánh sáng vàng vọt của ngọn đèn dầu đâm xuyên qua mi mắt.
Minh và Nhung mở bừng mắt, cong người bật dậy.
Ở giữa nhà, Bình quỳ một chân dưới sàn, mồ hôi tuôn như tắm, sắc mặt trắng bệch nhưng đôi mắt sáng rực. Xung quanh là pháp đàn, hương nến nghi ngút khói và những lá bùa cháy dở.
Ba người vừa hoàn tất thuật pháp, Bình, già làng Liêng và Y-Kha, còn chưa kịp thở phào hỏi han, thì Minh và Nhung đã ôm lấy ngực, ho sặc sụa, dốc cạn chút sức lực vừa hồi phục để hét lên những gì họ mang về từ thế giới bên kia. Linh trí đã đóng khi hồn phách họ trở lại với cơ thể, song ký ức vẫn cần thời gian để phai đi. Hai người đang tranh thủ tối đa chút giây phút ít ỏi ấy.
"Cái lồng... năm cột sáng!" Minh thở dốc, hai tay bám chặt lấy mép nệm, giọng khản đặc. "Một cột bị lệch rồi! Cấu trúc của nó hỏng rồi, tôi không biết của ai nhưng nó sắp sập! Phải chỉnh lại nó!"
Nhung gạt phăng mồ hôi hột trên trán, không để ý đến những người lạ trong phòng, nhìn thẳng vào Bình và Trân, giọng run rẩy nhưng quả quyết: "Đừng đánh bà ấy! Ký ức của bà ấy... có một tiếng ru con! Tư thế bà ấy như đang ôm con mình vậy! Sợi dây màu đỏ... nó nối thẳng Trân! Nếu đáp lại tiếng ru con đó, bà ấy sẽ tự dừng lại!"
Lời nói của Minh và Nhung tuy lộn xộn, chắp vá từ những đoạn ký ức sắp mất họ gom góp được, nhưng đối với Bình, già làng và Y-Kha, từng chữ ấy lại rõ ràng rành mạch như một bản đồ dẫn đường.
Cả ba người nghe xong đều sững sờ chôn chân tại chỗ.
Rồi gần như cùng lúc, ba ánh mắt giao nhau. Không hề có sự hoang mang, mà thay vào đó là một tia sáng bừng lên rực rỡ, mừng rỡ tột độ. Bởi vì, vào khoảnh khắc tuyệt vọng nhất, hai mảnh ghép then chốt để kết thúc ván cờ sinh tử này,điểm yếu của kết giới và kẽ hở cảm hóa của ma lai, cuối cùng đã được mang về từ cõi chết.