Đọc to (tiếng Việt) Nhấn phát để bắt đầu
Nợ

CHƯƠNG 7: BI KỊCH (1)

Sau cái cuộc đổi cách xưng hô đầy tình ý ấy, Phương và Khải cũng xin phép ra về khi những tia nắng chiều cuối cùng tắt hẳn. Phương bước đi mà hồn như còn để lại nhà họ Đào, còn Khải trước khi ra cổng còn cố ngoái lại nhìn Nhiên thêm một lần nữa. Khách về rồi, gian phòng khách lại chìm vào cái tĩnh mịch, u buồn vốn có của buổi hoàng hôn. Gió heo may bên ngoài bắt đầu thổi mạnh hơn, lướt qua những tán lá sau vườn, vang lên những tiếng xào xạc không ngừng.

Nhiên bưng khay trà bằng đồng đúc xuống bếp lau rửa, tiếng guốc mộc nện trên gạch vang lên lách cách, phá vỡ cái im lìm của buổi chạng vạng. Trong lòng em bấy giờ vẫn còn chưa hết ngỡ ngàng, miệng cứ tủm tỉm cười hoài khi nghĩ đến hai tiếng “anh - em” ngọt xớt mà Diễm và Phương khờ vừa thốt lên lúc chiều. Nhiên nghĩ bụng, tí nữa dọn dẹp xong xuôi, đợi cha về phòng tụng kinh, em sẽ lẻn vào buồng Diễm để trêu ghẹo một trận cho bõ ghét cái điệu bộ “tình trong như đã, mặt ngoài còn e” ban chiều.

Thế nhưng, lúc Nhiên bưng mâm cơm tối lên, Diễm đã chối từ. Cô không ngồi sập gụ dùng bữa cùng cha và em như mọi khi, mà chỉ đứng nép sau tấm rèm thưa ngăn cách với gian buồng trong, khuôn mặt khuất nửa sau bóng tối. Giọng Diễm nghe khản đặc và mang một nỗi mệt mỏi mà Nhiên chưa từng nghe thấy bao giờ:

- Cha với em dùng cơm đi ạ. Chiều nay nói chuyện sách vở hơi lâu, con bị trúng chút gió độc, trong người cứ thấy tưng tức cái ngực, đầu óc hơi choáng váng. Con xin phép vào buồng nằm nghỉ trước.

Ông Tài buông đôi đũa xuống, ngước đôi mắt già nua đầy vẻ lo lắng nhìn theo bóng tà áo lụa màu trắng ngà của cô con gái đang vội vã khuất sau cánh cửa buồng. Ông khẽ thở dài, lầm bầm bảo Nhiên:

- Khéo lại nhiễm sương muối đầu mùa rồi. Tí nữa ăn xong, con xuống bếp nhóm lửa sắc cho chị bát nước gừng, bảo chị uống nóng rồi đắp chăn bông cho ra mồ hôi, nghe không?

Nhiên gật đầu lia lịa. Đến canh hai, khi gian nhà ngoài đã tắt đèn dầu, ông Tài đã về phòng nghỉ, Nhiên mới lóng ngóng bê bát nước gừng còn bốc khói nghi ngút đi đến trước cửa buồng Diễm. Theo thói quen hằng đêm, em định bụng không gõ cửa mà cứ thế đẩy chốt bước vào, leo tót lên giường rúc vào người chị. Nhưng đêm nay, khi ngón tay Nhiên vừa khẽ chạm vào cánh cửa gỗ, một giọng nói lạnh lùng, dứt khoát từ bên trong đã dội ra:

- Nhiên! Để bát nước ngoài thềm đi. Đêm nay đừng vào đây, chị muốn yên tĩnh một mình. Mau về buồng em ngủ đi!

Nhiên đứng khựng lại giữa hành lang mờ tối, hơi ấm từ bát nước gừng phả vào mặt làm mắt em cay cay. Cái mặt tròn xoe bỗng chốc xị xuống đầy vẻ uất ức. Em thầm nghĩ chắc chắn là chị Diễm vẫn còn ghim bụng chuyện chiều nay mình lỡ lời chọc ghẹo anh Phương, cho nên bây giờ chị mới dùng cái giọng nghiêm khắc ấy để phạt mình. Nhiên bặm môi, lầm lũi đặt bát nước xuống thềm gạch, vừa quay lưng đi vừa bĩu môi: “Thôi, người ta có anh Phương rồi nên người ta chán mình chứ gì. Để mai chị hết giận, xem em có thèm sang chải tóc cho chị nữa không.”

Nhiên đi rồi. Ở bên trong, Diễm không hề nằm trên giường. Cô đang quỳ sụp dưới nền gạch hoa lạnh ngắt, hai tay bấu chặt lấy thành ghế gỗ, cố dằn lại một tiếng rên rỉ đang chực nghẹn nơi cổ họng. Diễm không giận Nhiên, mà là cô đang run rẩy trước một sự thật kinh hoàng vừa chớm nở trên thân thể mình.

Mùa đông Bắc Bộ năm ấy đến sớm hơn mọi năm. Nắng ban ngày cứ vàng vọt như màu lá úa, còn đêm xuống thì sương muối buông dày đặc, phủ xuống những mái ngói xám. Giữa cái lạnh thấu xương của Hà Nội, căn buồng của Diễm ngày một khép kín hơn. Mọi sự bắt đầu từ một buổi sáng khi Diễm ngồi trước bàn trang điểm để sửa soạn lại mái tóc. Khi cô vén ống tay áo dài bằng lụa màu hồng nhạt lên để nhúng tay vào chậu nước ấm, Diễm bỗng sững sờ khi nhìn thấy trên mu bàn tay trái của mình xuất hiện một vết tròn nhỏ bằng đồng xu. Vệt ấy không đỏ lựng như nốt muỗi đốt, cũng không ngứa ngáy như chứng dị ứng thời tiết thông thường, mà nó có màu trắng bủng, hơi loang lổ, thô ráp như một vạt vỏ cây khô bám trên thân gỗ.

Ban đầu, Diễm chỉ nhíu mày, nghĩ bụng chắc do dạo này mình thức đêm đọc sách nhiều quá, lại dùng nước giếng lạnh nên da thịt bị nứt nẻ. Cô lấy chút dầu dừa xoa lên, hy vọng vài ngày sau vệt trắng ấy sẽ biến mất. Nhưng trớ trêu thay, vết ấy không những không lặn đi, mà theo từng ngày đông lạnh giá, nó bắt đầu lan rộng ra, lấn dần lên phía cổ tay và cánh tay của cô.

Điều đáng sợ nhất không phải là sự xấu xí của vết loang, mà là sự chết lặng của da thịt. Một chiều nọ, khi Diễm đang cúi xuống khều bấc trong ngọn đèn dầu để viết thư hồi âm cho Phương, chiếc trâm bạc cài tóc vô tình tuột khỏi búi, mũi trâm sắc nhọn đâm thẳng vào chỗ vệt da trắng loang lổ trên cánh tay cô. Diễm trân trân nhìn xuống. Một giọt máu đỏ tươi rỉ ra, chảy dài trên làn da bủng, nhưng thần kinh của cô tuyệt nhiên không hề cảm nhận được một chút cảm giác đau đớn nào. Da thịt cô ở chỗ đó đã hoàn toàn trơ lì, mất đi cái sự nhạy cảm của một cơ thể sống, hệt như một mảng thịt của người chết ráp vào.

Diễm không dám đem chuyện này đi than vãn với ai. Cô giấu biệt cánh tay trái vào trong vạt áo rộng rãi, dẫu có ở trong buồng một mình cũng không bao giờ dám cởi áo ra. Mỗi lần Phương sai người mang thư tình hay những tập thi khúc lãng mạn phương Tây đến, Diễm chỉ dám đứng sau rèm nhận lấy, rồi viện cớ thể còn yếu do thời tiết để từ chối không cho anh bước vào nhà. Phương ngoài kia làm sao thấu được, người con gái mà anh hằng đêm nhớ nhung, người con gái có trí tuệ sắc sảo ngồi chuyện trò bên chén trà chiều, đang phải hằng đêm ngồi đối diện với chiếc gương đồng, nhìn vết loang trắng quái ác kia gặm nhấm dần sự rực rỡ của thanh xuân dưới ánh đèn dầu leo lét.

Hơn một tháng giam mình trong phòng kín, sắc mặt Diễm ngày một xám ngoét, những cơn sốt âm ỉ về đêm bắt đầu hành hạ làm cô trở nên rũ rượi hơn. Ông Tài đứng ngồi không yên, lòng như lửa đốt khi thấy đứa con gái của mình ngày một héo úa đi mà không rõ nguyên cớ. Không thể cứ để con gái chịu khổ mãi, ông gạt phắt mọi lời cầu xin của Diễm, sai người làm đi mời bằng được cụ lang Chánh - vị thầy thuốc Đông y danh tiếng bậc nhất đất Hà Thành bấy giờ - về dinh thự để xem bệnh.

Buổi sáng hôm thầy lang đến, trời Hà Nội âm u, một màn sương mù dày đặc che phủ khắp các ngả đường phố cổ. Trong căn buồng tối thoang thoảng mùi thuốc bắc và mùi trầm hương dường như đã nhạt, Diễm ngồi khuất sau bức rèm lụa thưa, khẽ chìa cánh tay trái đã được quấn một lớp băng gạc mỏng ra ngoài. Ông Tài đứng bên cạnh, đôi tay bấu chặt vào chuỗi hạt bồ đề. Nhiên cũng đứng nép ở góc cửa, trống ngực đập liên hồi khi nhìn thấy vẻ mặt nghiêm nghị của ông thầy lang già đang đặt ba ngón tay lên mạch của chị.

Thầy lang Chánh bấm mạch rất lâu, đôi mày khẽ nhíu chặt lại. Sau một hồi trầm ngâm, ông ngước mắt lên, ái ngại nói:

- Thưa ông, cái mạch này của cô Diễm rất lạ. Ông cho phép tôi được xem qua vết thương trên da thịt của cô ấy thì mới giám định bệnh rõ ràng được.

Diễm ở trong màn khẽ run lên một cái, nhưng trước cái nhìn nghiêm khắc của cha, cô đành ngậm ngùi nới lỏng dải áo lụa, vén ống tay áo trái lên. Khi lớp băng gạc mỏng được tháo bỏ, lộ ra mảng da thịt sần sùi, loang lổ những vệt trắng loét, có chỗ đã bắt đầu sưng tấy đỏ ngầu một cách dị dạng… Thầy lang Chánh bỗng giật phắt tay lại hệt như vừa chạm phải một thanh sắt nung đỏ. Khuôn mặt già nua của ông bỗng chốc trở nên đầy kinh hoàng, đôi mắt mở to. Ông đứng bật dậy, lùi liên tiếp ba bước về phía cửa buồng, hòm xiểng thuốc men trên tay run lên bần bật, suýt chút nữa là rơi xuống đất.

- Trời… trời ơi… Cái này… cái này không phải cảm sốt thông thường, cũng chẳng phải dị ứng thời tiết đâu ông Tài ơi!

Ông Tài run rẩy bước tới một bước, giọng nói đã lạc hẳn đi vì bất an:

- Thầy Chánh, thầy nói thế là nghĩa làm sao? Con tôi nó bị chứng gì? Thầy cứ việc bốc thuốc quý, bao nhiêu tiền bạc nhà tôi cũng chịu được mà…

Thầy lang Chánh không dám nhìn vào mắt ông Tài, tay chân luống cuống thu dọn đồ đạc, vừa giật lùi ra phía cửa vừa nói bằng giọng run rẩy, thì thào như sợ vách tường có tai:

- Không cứu được, thưa ông! Bệnh này là tội trời, là cái án tử hình của tạo hóa rồi ông ơi! Cô Diễm mắc…mắc bệnh hủi! Ông phải mau chóng đưa cô ấy đi ngay. Để chòm xóm người ta biết được, người ta… người ta đánh cho chết đấy ông ơi. Đừng có dại mà bao che. Nếu ông thương cô Diễm, ông để cô Diễm đi cách ly ngay đi. 

Hai tiếng “bệnh hủi” vang lên giữa căn buồng tối như một tiếng sét đánh ngang tai, đánh sập toàn bộ cái danh giá, nề nếp của nhà họ Đào. Vào những năm 1930 ở Việt Nam, bệnh hủi (hay còn gọi là bệnh phong, bệnh cùi) là một nỗi kinh hoàng, một sự sỉ nhục trần trụi nhất đối với danh dự của một con người và một dòng họ. Người đời coi kẻ bị hủi như quái thai dơ bẩn đáng bị ruồng bỏ, một thứ dịch bệnh đen đủi cần phải bị xua đuổi, cách ly tuyệt đối ra khỏi xã hội loài người để tránh làm ô uế xóm làng.

Nghe đến đó, chuỗi hạt trên tay ông Tài rơi bộp xuống nền gạch, vỡ tung, những hạt gỗ lăn lóc khắp các xó xỉnh chật hẹp. Ông ngồi thụp xuống chiếc ghế, hai dòng lệ tuôn ra, chảy dọc theo những nếp nhăn nhúm trên khuôn mặt. Ông nhìn đứa con gái ngọc ngà của mình sau bức rèm, nghẹn ngào không thể thốt nên lời.

Đằng sau tấm rèm lụa thưa, Ngọc Diễm nghe không sót một chữ nào từ lời tuyên án trần trụi của thầy lang. Cô không khóc, mà có vẻ cũng chẳng còn đủ sức để khóc. Cái tâm cô đã chết, kể từ khi nghe lời nói ấy.

Đào Ngọc Diễm. Cái tên nghe sao mà thanh cao, lộng lẫy và đáng tự hào đến thế. Ngày cô chào đời, cha đặt tên cô là Ngọc, là Diễm, là muốn cô lớn lên như một viên ngọc sáng trong, một đóa hoa diễm lệ bậc nhất của đất Hà Thành. Cô có nhan sắc khiến bao gã công tử phải say mê, có trí tuệ sâu sắc để đứng ngang hàng tranh luận với những tri thức khác. Thế nhưng, đúng là hồng nhan thì bạc phận, tạo hóa dường như quá đố kỵ với sự hoàn hảo của Diễm, nên mới nhẫn tâm dìm cuộc đời cô xuống vũng bùn tăm tối, nhục nhã và cô độc nhất của kiếp người. Viên ngọc quý giờ đây đã hoen ố, đóa hoa diễm lệ chưa kịp nở đã phải gánh chịu cái thối rữa từ bên trong da thịt.

Nhiên đứng chết trân nơi góc cửa buồng, chứng kiến toàn bộ cái bi kịch kinh hoàng vừa giáng xuống chị gái. Em mười tám tuổi, đủ để hiểu hết cái sự đáng sợ của luật lệ cách ly thời bấy giờ, em biết rằng người chị gái lúc nào cũng thơm mùi hương trầm thanh khiết, người chị lúc nào cũng nghiêm cẩn răn đe nề nếp gia phong, giờ đây đang phải chịu một nỗi đắng cay tột cùng. Nhiên không sợ căn bệnh ấy, em chỉ thấy tim mình như bị ai lấy dao khứa vào từng khúc, đau đớn không sao chịu nổi.

Nước mắt đầm đìa trên khuôn mặt tròn trịa, Nhiên lao vào giường, bất chấp sự ngăn cản của cha, bất chấp cả tiếng hét lên nghẹn ngào, đau đớn của Diễm:

- Nhiên! Tránh xa chị ra! Đừng chạm vào người chị!

Nhiên quỳ sụp xuống bên giường, hai tay nắm chặt lấy vạt áo lụa của Diễm, mà khóc rấm rứt:

- Chị Diễm ơi… Khổ thân chị! Sao ông trời lại ác độc, bất công với chị thế này? Chị có tội tình gì đâu cơ chứ… Chị ơi, em không sợ đâu, em không bỏ chị đâu mà… Chị đừng đuổi em đi mà chị Diễm ơi…

Diễm ngồi trên giường, hai dòng nước mắt nóng hổi lúc này mới chịu tuôn rơi, làm nhòe đi lớp phấn son tàn tạ trên gương mặt tái nhợt. Cô muốn đưa đôi bàn tay ra ôm lấy đứa em gái nhỏ vào lòng, muốn vuốt ve mái tóc của Nhiên như những đêm đông cũ khi hai chị em ngủ chung giường, nhưng khi nhìn xuống đôi ngón tay mình đã bắt đầu sưng tấy, cứng đờ một cách dị dạng, Diễm liền kinh hoàng rụt phắt tay về, giấu chặt vào sau lưng. Cô cắn chặt bờ môi chừng mực đến mức bật cả máu tươi, dùng chút lý trí tỉnh táo cuối cùng để đẩy Nhiên ra xa:

- Em đi ra đi… Nhiên… Chị xin em… Đừng làm dơ bản thân em… Chị van em… đi ra đi…

Gian buồng tối tăm của dinh thự nhà họ Đào chiều hôm ấy chỉ còn vang lên tiếng khóc xót xa, ai oán của ông Tài và hai chị em, hòa cùng tiếng gió heo may rền rĩ ngoài hiên vắng. Đêm hôm ấy, dinh thự họ Đào không một ánh đèn nào được thắp sáng ra đến ngoài hiên. Ông Tài ngồi bất động bên chiếc sập ngoài phòng khách, giờ đây chỉ biết đưa bàn tay lên ôm mặt, nấc lên những tiếng bất lực. Ông thương đứa con gái ngọc ngà, nhưng ông cũng hiểu cái luật đời trần trụi ngoài kia: Bệnh này cố tốn bao tiền ông cũng chữa, ông chỉ sợ miệng thế gian còn đáng sợ hơn cả quỷ dữ, bệnh chưa chữa khỏi mà con gái ông có khi đã bị dị nghị cho bằng chết rồi. 

Nhiên ngồi bệt dưới thềm gạch, lưng tựa vào cánh cửa buồng đóng chặt của Diễm. Đêm mùa đông Hà Nội sương muối buông dày đặc, cái lạnh từ gạch đá xộc thẳng vào da thịt, nhưng có thấm thía gì đâu so với nỗi đau mà cả gia đình đang gánh chịu. Nhiên bỗng cảm thấy một nỗi bất an dâng lên trong lòng. Cái cảm giác này sao mà quen thuộc quá, nó giống hệt như cái ngày định mệnh năm xưa, khi đứa trẻ mười sáu tuổi chết lặng nghe tin cha mẹ gặp nạn qua đời. Ký ức đau thương ấy như một bóng ma trỗi dậy, kéo theo một niềm tự trách cay đắng. Nhiên gục đầu trên hai gối, nghẹn ngào tự hỏi, có phải số kiếp em vốn sinh ra đã mang theo vận rủi, đi đến đâu là cướp đi hạnh phúc và sự sống của người khác đến đó hay không? Cha mẹ chết là do tại em không đem lại may mắn cho họ, giờ đây đến lượt chị Diễm bị chứng bệnh quái ác hành hạ, chẳng phải cũng tại em đem cái vía xui xẻo ấy vào nhà này hay sao? 

- Chị Diễm ơi... em ở ngoài này với chị... em thức canh giấc ngủ cho chị... Chị đừng sợ gì hết, có em với cha ở đây rồi mà chị ơi... Chị ơi… lỗi tại em… tại cái số em xui xẻo làm lụy đến chị… tại em chị ơi! 

Nhưng đáp lại lời van nài thắt lòng của Nhiên chỉ có tiếng gió rít qua khe cửa sổ, lạnh lùng và tàn nhẫn. Ở gian ngoài, tiếng ho khan đầy mệt mỏi, đứt quãng của ông Tài vọng lại, nghe thật bất lực, cái nhà này sắp tiễn đưa ai đó đi rồi, phải không?

Bình luận đoạn văn

Bình luận

Chỉnh sửa bình luận

Thiết lập văn bản

Xem trước

Nội dung sẽ hiển thị như thế này

Chọn font chữ

Cỡ chữ

12px 30px