Nguồn Kế Cận
Cuối tháng Ba âm lịch. Mùa xuân đã gói ghém những hạt mưa phùn cuối cùng cất vào trong đất, nhường chỗ cho cái nắng hanh hao đầu hạ. Những vòm lá xà cừ cổ thụ dọc đường quốc lộ bắt đầu chuyển màu, rụng lả tả xuống mặt đường nhựa nóng hầm hập.
Thôn Đoàn Kết sau cơn “địa chấn” ở hội trường thôn dường như bình yên trở lại. Ông Mẫn đã xuất viện. Ông về nằm ở gian nhà sàn quen thuộc, nhưng cái dáng vẻ uy nghi ngày nào giờ quắt lại như tàu lá héo. Bác sĩ bảo vết thương đầu đã lành, nhưng cái “tâm bệnh” thì còn nặng lắm.
Nhà ông Bền. Cánh cổng sắt đúc hoa văn rồng phượng khép hờ, im lìm một cách đáng sợ.
Trong phòng khách, ông Bền ngồi chễm chệ trên bộ sô pha da thật. Mặt ông hầm hầm, tay xoay xoay cái bật lửa Zippo đắt tiền. Ngồi đối diện là Tân và những kẻ thân tín.
Ông Bền đã mất uy tín. Đi ra đường, người ta không còn chào ông đon đả nữa, mà lảng tránh, hoặc thì thầm to nhỏ sau lưng. Nhưng ông Bền là cáo già. Mà cáo già thì không bao giờ chết vì một cái bẫy chuột.
“Các chú uống nước đi”, ông Bền hất hàm, giọng lạnh tanh. “Sao? Mặt mũi đứa nào đứa nấy như đưa đám thế? Tao đã chết đâu mà lo”.
“Bác ạ... tình hình căng quá. Dân họ đang đồn ầm lên chuyện bác định hại bác Mẫn. Giờ mình làm gì cũng khó”. Tân rụt rè.
Ông Bền cười khẩy. “Khó cái đéo gì. Dân ấy mà, trí nhớ ngắn lắm. Hôm nay nó chửi mày, mai cho nó nắm xôi nó lại khen mày nức nở ngay. Cái quan trọng bây giờ là lão Mẫn”.
Ông Bền đứng dậy, đi lại quanh phòng. “Lão Mẫn ốm thập tử nhất sinh rồi. Giờ lão ấy có muốn làm cũng lực bất tòng tâm. Cái làng này, ngoài tao ra, ai đủ trình độ, ai đủ tiền, ai đủ quan hệ để lo việc?”
Tay đội trưởng thủy lợi gãi đầu. “Nhưng bác Mẫn vẫn còn cái uy...”
“Uy cái cứt!” Ông Bền quát. “Uy có mài ra mà ăn được không? Uy có khơi thông được cống rãnh, có xin được tiền về làm đường không? Tao sẽ cho chúng nó thấy, cái làng này mà thiếu bàn tay thằng Bền này thì chỉ có nát như tương”.
Ông Bền ghé sát mặt vào đám tay chân, hạ giọng thì thầm, đôi mắt híp lại lóe lên tia nhìn thâm độc. “Nghe tao dặn đây. Từ mai, chúng mày giở bài ‘vườn không nhà trống’ cho tao”.
“Là sao hả bác?”
“Là buông! Mày”, ông chỉ vào một tay đàn em đang ngơ ngác, “đang mùa dẫn nước vào ruộng, mày cứ bảo máy bơm hỏng, mương tắc, chưa có kinh phí sửa. Kệ mẹ cho ruộng khô nứt ra. Mày”, ông chỉ sang một thằng đệ khác, phụ trách an ninh xóm làng, “mấy hôm nay đám thanh niên làng bên hay sang trêu ghẹo mấy cháu gái, mày cứ lờ đi. Để cho trộm cắp, đánh nhau loạn lên”.
Ông Bền quay sang Tân. “Còn vợ chồng mày, phao tin lên. Bảo là bác Mẫn ốm sắp chết rồi, thôn giờ như rắn mất đầu. Mọi việc đình trệ hết”.
Tân nuốt nước bọt. “Làm thế... dân họ chửi chết bác ạ”.
“Ngu!” Ông Bền cốc đầu Tân một cái điếng người. “Nó chửi ai? Nó chửi thằng đương chức! Nó chửi lão Mẫn! Lão Mẫn là Bí thư, là Trưởng thôn, làng xóm lộn xộn là trách nhiệm của lão. Đợi đến lúc dân tình loạn lên, rác rưởi ngập ngụa, ruộng đồng khô hạn, lúc đấy tao mới xuất hiện. Tao sẽ bỏ tiền túi ra sửa máy bơm, tao sẽ dẹp loạn. Lúc đấy chúng nó mới sáng mắt ra là ai mới thực sự làm được việc!”
Ông Bền ngả người ra ghế, châm điếu thuốc ba số. Khói thuốc bay lên, vẽ ra một viễn cảnh hỗn mang mà ông ta đang mong đợi.
“Vắng mợ thì chợ vẫn đông. Nhưng vắng thằng Bền này, cái chợ Đoàn Kết này chỉ có nước giải tán”.
***
Gian nhà của ông Mẫn nồng nặc mùi thuốc bắc và mùi dầu gió. Cánh cửa sổ mở hé cho thoáng khí, nhưng cái nắng oi ả bên ngoài vẫn len lỏi vào, làm những hạt bụi lơ lửng trong không trung càng thêm rõ rệt. Mới có hơn nửa tháng mà ông già đi cả chục tuổi. Tóc bạc trắng, da mồi lốm đốm, gò má hóp lại.
Cường ngồi bên cạnh, tay cầm cái quạt nan phe phẩy cho ông Mẫn. Cường mới chạy xe về, vẫn mặc nguyên bộ quần áo sơ mi cộc tay, nách áo ướt đẫm mồ hôi, người sực mùi xăng dầu và bụi đường.
“Bác đỡ mệt chưa?” Cường hỏi.
Ông Mẫn mở mắt, nhìn Cường. “Đỡ... đỡ nhiều rồi anh ạ. Cảm ơn anh hôm nọ đã dìu tôi ra hội trường. Không có anh, chắc tôi bị người ta đấu tố chết rồi”.
“Bác nói gở. Bác sống ngay thẳng, trời phật phù hộ, ai hại được”. Cường cười xòa, rót chén nước vối đưa cho ông.
Ông Mẫn nhấp ngụm nước, rồi nắm lấy tay Cường.
“Cường này”, ông Mẫn thều thào. “Tôi gọi anh sang đây là có việc hệ trọng”.
Cường đặt cái quạt xuống: “Bác cứ dạy. Việc gì cháu làm được cháu làm ngay”.
“Sắp tới Đại hội chi bộ rồi bầu cử Trưởng thôn... Tôi tính rồi. Sức tôi thế này, không cáng đáng nổi nữa. Tôi định xin nghỉ Trưởng thôn, chỉ giữ cái chân Bí thư mọi người có chỗ mà tìm tới. Tôi muốn... tôi muốn giới thiệu anh ra ứng cử Trưởng thôn”.
Cường giật mình, suýt làm rơi chén nước. Anh trợn tròn mắt nhìn ông Mẫn như nhìn người ngoài hành tinh. “Bác... bác đùa cháu đấy à? Cháu á? Làm Trưởng thôn á?”
“Tôi không đùa”, ông Mẫn nghiêm giọng, cố gượng dậy dựa lưng vào vách gỗ. “Anh là Đảng viên, lại là bộ đội xuất ngũ. Anh có uy tín với đám thanh niên, lại bộc trực, thẳng thắn. Cái làng này bây giờ cần một người trẻ, dám làm dám chịu như anh, chứ không cần mấy ông già lẩm cẩm như tôi hay mấy kẻ mưu mô như lão Bền”.
Cường đứng phắt dậy, xua tay lia lịa. “Thôi thôi, bác tha cho cháu. Cháu lạy bác. Cháu biết cái gì mà làm quan? Cháu chỉ biết cầm vô lăng, biết đạp ga đạp phanh thôi. Chứ làm cái chức ‘vác tù và hàng tổng’ nàyvừa mất thời gian, vừa bị chửi, cháu không làm đâu”.
“Anh Cường...”
“Bác nghe cháu nói này”, Cường cắt ngang, giọng phân bua đầy thực tế. “Cháu còn vợ, còn hai đứa con đang tuổi ăn học. Chạy xe khách tháng kiếm được chục triệu, đủ nuôi con, còn dư chút sửa cái nhà. Giờ làm Trưởng thôn, phụ cấp được bao nhiêu? Hai, ba triệu bạc. Mà suốt ngày họp hành, ma chay hiếu hỉ, trộm cắp đánh nhau đều réo tên. Thời gian đâu cháu chạy xe nuôi vợ con đây bác?”
Lý lẽ của Cường là thực tế cơm áo gạo tiền mà bất cứ người trẻ nào ở cái làng này cũng phải đối mặt. Nhiệt huyết có mài ra mà ăn được không?
Ông Mẫn im lặng. Ông biết Cường nói đúng. Ông nhìn xuống đôi bàn tay gầy guộc của mình. Cả đời ông làm việc làng, nhà ông nghèo vẫn hoàn nghèo, vợ con ông khổ sở, thằng Toàn thì...
“Tôi biết...” Ông Mẫn thở dài, tiếng thở dài não nề. “Tôi biết là thiệt thòi cho anh. Nhưng anh nhìn xem, nếu anh không làm, thì ai làm? Lại để cho lão Bền lên à? Lão ấy mà nắm quyền, thì cái làng này thành cái chợ buôn đất, thành cái bãi rác của lão ấy hết”.
Cường châm điếu thuốc, rít một hơi dài, nhả khói mù mịt để che đi sự bối rối. “Thì... thiếu gì người. Bác tìm người khác đi. Cháu tính nóng như kem, làm lãnh đạo có ngày đấm dân thì khổ…”
“Thôi bác nghỉ đi, cháu phải ra bến nhận hàng. Chuyện này... bác đừng nhắc lại nữa nhé. Cháu không làm được đâu”.
Cường bước nhanh ra khỏi cửa như chạy trốn. Anh sợ nhìn vào đôi mắt đầy kỳ vọng và bất lực của ông Mẫn. Anh sợ cái lương tâm chết tiệt trong ngực mình lại trỗi dậy.
Ông Mẫn nhìn theo bóng lưng to bè của Cường rồi nhắm mắt lại, một giọt nước mắt chảy ra từ khóe mắt, thấm vào cái gối cũ sờn.
“Lực bất tòng tâm...”
***
Ba ngày sau. Tại quán rượu ốc nằm chênh vênh bên vệ đường tỉnh lộ, bụi mù mịt mỗi khi xe cộ chạy qua. Đây là nơi cánh lái xe, cửu vạn và đám thanh niên làng hay tụ tập.
Cường ngồi một mình ở cái bàn nhựa góc quán, trước mặt là đĩa ốc luộc và chai rượu chuối hột. Tâm trạng anh mấy hôm nay cứ bứt rứt, khó chịu.
Trong làng bắt đầu loạn. Cống rãnh tắc tị, nước thải tràn ra đường hôi thối nồng nặc mà không thấy đội thủy lợi đâu. Đêm hôm qua, nhà bà Tứ bị trộm bắt mất hai con gà, gọi dân phòng thì thuê bao không liên lạc được. Ai cũng bảo “Ông Mẫn sắp chết rồi, thôn này nát rồi”.
“Anh Cường”.
Một giọng nói trầm, khàn vang lên. Là Toàn.
Cường hơi ngỡ ngàng. Đã lâu lắm rồi anh không nhìn kỹ thằng em này. Toàn khác quá. Nó đen đi nhiều, gầy nhưng rắn rỏi. Tóc cắt ngắn củn lởm chởm. Nó mặc cái áo phông lấm lem bùn đất, chân đi đôi dép tổ ong mòn vẹt. Nhưng đôi mắt nó không còn lờ đờ, lảng tránh như hồi mới về.
“Ngồi đi”, Cường hất hàm, đẩy cái ghế nhựa ra. “Làm chén không?”
Toàn ngồi xuống, lắc đầu. “Lát em còn phải chạy về. Cho em cốc trà đá”.
Bà chủ quán mang cốc trà đá ra, nhìn Toàn với ánh mắt e dè rồi đi nhanh vào trong.
“Tìm anh có việc gì? Lại thiếu vốn nuôi cá à?” Cường hỏi, giọng tưng tửng nhưng không có ý khinh miệt. Anh hiểu thằng em này đang cố gắng thế nào.
Toàn cầm cốc trà đá, xoay xoay trong tay. “Em không xin tiền. Em xin anh một chuyện”.
“Chuyện gì?” Cường nhón con ốc, chấm mắm gừng, bỏ vào mồm nhai sồn sột.
Toàn nhìn thẳng vào mắt Cường. “Anh ra tranh cử Trưởng thôn đi”.
Cường suýt sặc ốc. Anh ho sù sụ, mặt đỏ gay. “Lại là chuyện này! Anh đã nói với bác Mẫn rồi, anh không làm! Mày định làm thuyết khách cho bố mày à?”
Toàn vẫn bình tĩnh, giọng nói chắc nịch. “Em không làm thuyết khách cho ai cả. Em nói cho em”.
Toàn vén tay áo lên, chỉ vào vết sẹo lồi ở cổ tay, và những vết sẹo mới chằng chịt do gạch đá cứa vào. “Anh nhìn đi. Đây là cái giá em phải trả để được làm người. Em dọn cái ao sen ấy, em đổ máu xuống đấy, không phải để chơi. Em muốn sống, anh Cường ạ”.
Toàn cúi người về phía trước, giọng gằn xuống, gấp gáp. “Nhưng nếu lão Bền lên làm Trưởng thôn, lão sẽ cho lấp cái ao ấy để biến nó thành dự án phân lô bán nền. Lão đã cho người đổ rác một lần, thì sẽ có lần sau. Lúc đấy, em hết đường sống. Những thằng tù tội như em, không có đất, không có việc, lại bị ép vào đường cùng, thì chỉ có nước cầm dao đi cướp hoặc quay lại hút chích thôi”.
Cường ngừng nhai. Anh nhìn vết sẹo xấu xí, rúm ró trên tay Toàn.
“Bố em già rồi”, Toàn nói tiếp, giọng run run. “Bố em là người tốt, nhưng bố em yếu rồi. Bố em không đỡ được đòn của lão Bền nữa đâu. Cả cái làng này, dân họ nể bố em vì đạo đức, nhưng họ sợ lão Bền vì tiền. Chỉ có anh... Anh là dân anh chị nhưng sống đàng hoàng, anh có tiếng nói, anh không sợ va chạm. Anh em nể anh”.
Toàn nhìn sâu vào mắt Cường. “Anh không làm vì tiền, em biết. Anh làm lái xe kiếm thừa tiền tiêu. Nhưng anh làm ơn... anh làm để giữ cho cái làng này đừng nát. Giữ cho những thằng như em còn có một con đường sống”.
Cường im lặng. Tiếng còi xe container ngoài đường kéo một hồi dài inh ỏi. Anh cầm ly rượu chuối hột lên, nhìn chất lỏng màu nâu sóng sánh. Anh nhớ đến cái cống tắc trước cửa nhà. Anh nhớ đến bà cụ Tứ khóc lóc vì mất con gà. Và anh nhìn thằng Toàn, một thằng từng lầm lỡ, giờ đang cầu xin anh cho nó một môi trường để nó được làm người. Cái “tù và hàng tổng” mà anh sợ vác, giờ đây hiện hữu thành số phận của những con người cụ thể.
Cường ngửa cổ, dốc cạn chén rượu. Vị rượu cay xè, nóng ran chạy dọc xuống ruột gan. Anh châm một điếu thuốc, rít một hơi thật sâu, nhả khói mù mịt vào mặt Toàn. “Đ*t mẹ!” Cường chửi thề, đập cái điếu cày xuống bàn cốp một cái. “Mày làm tao khó nghĩ quá Toàn ạ”.
***
Sáng hôm sau. Khuôn viên nhà văn hóa, bộ mặt của cả thôn, trông như một bãi chiến trường.
Đêm qua, đám thanh niên làng bên sang nhậu nhẹt, vứt vỏ chai bia, túi nilon, vỏ hướng dương bừa bãi khắp sân. Thùng rác bị đá đổ, rác bay tứ tung. Cỏ dại mọc um tùm ở bồn hoa vì lâu không ai cắt tỉa. Cái loa phóng thanh trên cột điện thì im bặt, dây điện lòng thòng đứt đoạn trông như do ai đó “vô tình” cắt.
Ông Chính đi bộ ra kiểm tra công tác chuẩn bị cho Đại hội chi bộ sắp tới. Nhìn cảnh tượng hoang tàn, ông Chính ngán ngẩm lắc đầu.
Ông định quay về gọi điện cho người phụ trách an ninh ra dọn. Nhưng ông nhớ ra, gã đó đang “ốm”. Gọi cho ông Mẫn thì ông Mẫn đang nằm liệt giường. Gọi cho ông Bền... Không! Ông không muốn nhìn mặt kẻ đã sỉ nhục mình bằng tập thơ giấy lộn.
Ông Chính đứng tần ngần giữa sân. Gió thổi một cái túi nilon rách bay vèo qua mặt ông, dính vào chân cột cờ. Lòng tự trọng của một người già, một người yêu cái đẹp trỗi dậy.
Ông Chính xắn tay áo sơ mi lên. Ông đi vào kho, lôi ra một cái chổi tre cùn và một cái hót rác. Ông già 70 tuổi, gầy gò, lưng còng, bắt đầu quét rác.
Soạt... Soạt...
Ông quét từng cái vỏ chai, nhặt từng cái túi bóng. Mồ hôi vã ra ướt đẫm áo.
Đúng lúc đó, bà Tình đi tập thể dục qua. Thấy ông Chính quét sân, bà Tình trố mắt. “Ơ kìa bác Chính? Sao bác lại đi làm cái việc của bọn lao công thế này? Để đấy, gọi bọn thanh niên nó làm”.
Ông Chính không ngẩng đầu lên, vừa quét vừa nói. “Bọn thanh niên nó bận kiếm tiền, bận chơi bời. Bọn cán bộ thì bận ốm, bận ủ mưu. Cái làng này ai cũng bận cả. Chỉ có cái sân này là rảnh rỗi để chứa rác thôi. Tôi không quét thì đợi đến Đại hội để rác nó ngập lên tận cổ à?”
Bà Tình đỏ mặt. Bà cũng là người trong ban chấp hành hội phụ nữ, cái sân bẩn thế này cũng có phần trách nhiệm của bà. Bà Tình đứng ngây ra một lúc. Cái tính “làm màu” của bà trỗi dậy, nhưng lần này là làm màu đúng chỗ. Bà không thể để ông Chính “chiếm sóng” làm người tốt một mình được. “Thôi thôi, bác già rồi, để đấy em”.
Bà Tình chạy về nhà gần đó, xách ra hai cái chổi nữa. Bà còn ới thêm mấy bà trong hội phụ nữ đang đi chợ. “Này, các bà ơi! Vào dọn cái sân đi! Để bác Chính làm một mình thế kia không ngượng mặt à?”
Thế là, từ một người, thành hai người, rồi mười người. Những người dân đi qua, thấy các cụ già đang lúi húi quét dọn, tự nhiên thấy chạnh lòng, thấy xấu hổ.
Một anh thanh niên dựng xe máy xuống, chạy vào. “Cụ để cháu bê cái thùng rác cho”.
Một chị bán rau cũng đặt gánh xuống: “Để em nhổ cỏ bồn hoa cho”.
Chẳng mấy chốc, cái sân nhà văn hóa nhộn nhịp hẳn lên. Không ai bảo ai, không cần loa đài hô hào, mỗi người một tay. Tiếng chổi quét, tiếng cười nói râm ran át đi cái vẻ u ám, hoang tàn ban sáng.
Ông Chính dừng tay, chống cán chổi đứng thở. Ông nhìn đám đông đang lao động hăng say. Hóa ra, lòng dân ở cái làng này chưa chết. Nó chỉ đang ngủ quên, hoặc đang bị che lấp bởi sự thất vọng và nghi kỵ. Họ không cần một ông quan ngồi chỉ tay năm ngón. Họ cần một người cầm chổi đi đầu.
Ông nhìn ra cổng. Ông thấy Cường đang đánh con xe khách 29 chỗ vào sân, nhảy xuống xe, tay cầm theo bộ đồ nghề sửa điện. Cường không nói không rằng, leo phăm phăm lên cột điện để nối lại dây loa phát thanh.
“Phải rồi”, Ông Chính mỉm cười móm mém. “Cần một thằng như thằng Cường. Một thằng dám leo lên cao, dám cầm kìm sửa chữa những thứ đã đứt gãy, chứ không phải một ông già như mình”.
Tiếng loa phát thanh rẹt rẹt vang lên, rồi tiếng nhạc hiệu quen thuộc của bản tin buổi sáng ngân nga khắp thôn xóm.