Cái Ao Tù
Cả khu ao sen hoang lạnh lẽo chìm trong màn sương mù ẩm ướt, bốc lên cái mùi xú uế nồng nặc khiến lũ chim sẻ đồng cũng chẳng dám bay qua.
Toàn tỉnh dậy khi một giọt nước lạnh buốt từ mái tôn thủng nhỏ thẳng vào trán. Cậu định ngồi dậy, nhưng cơn đau nhức từ khắp cơ thể kéo cậu trĩu xuống. Xương sống như muốn gãy rời sau một đêm nằm co ro trên nền đất ẩm chỉ trải một lớp áo mưa rách. Một bên má cậu sưng vù, tím bầm, giật giật từng cơn theo nhịp mạch đập. Đó là dư âm của cái tát ngày hôm qua. Cái tát của bố còn đau hơn cả những trận đòn hội đồng trong trại giam.
Toàn chống tay, gượng dậy với lấy gói mì tôm Hảo Hảo ở góc lều rồi bẻ mì tôm, nhai sống. Tiếng mì khô vỡ rôm rốp trong miệng. Vụn mì đâm vào nướu, vào lưỡi, khô khốc và mặn chát vì gói muối cậu đổ thẳng vào mồm.
Ăn xong, Toàn bước ra ngoài. Trước mắt cậu là núi rác thải xây dựng sừng sững, lù lù chắn hết tầm nhìn ra mặt ao. Gạch vỡ, bê tông, những bao tải dứa rách toạc lòi ra bông băng y tế nhuốm màu vàng ố, những mảnh thủy tinh sắc lẹm...
Một người bình thường nhìn thấy cảnh này sẽ bỏ cuộc. Nhưng Toàn là một thằng tù bị gia đình từ mặt, bị xã hội khinh bỉ. Cậu chẳng còn nơi nào để đi. Và quan trọng hơn, một sự cố chấp đang bùng lên trong cậu.
Toàn đi chân đất, tay trần lao vào đống rác. Cậu dùng tay bới từng cục bê tông, ném sang một bên để phân loại. Những cạnh sắc của gạch ngói cứa vào tay cậu. Máu rỉ ra, hòa với bùn đất đen ngòm.
Cộp.
Cậu đá phải một con búp bê nhựa. Nó bị mất một tay, tóc tai bết bát bùn đất, một bên mắt đã rơi mất, để lại hốc mắt đen ngòm sâu hoắm. Chắc là rác từ một gia đình nào đó lẫn vào xe phế thải.
Toàn cầm con búp bê lên. Cậu nhìn nó chằm chằm. Nó cũng rách nát, méo mó, và bị vứt bỏ giống hệt cậu. Toàn lội ra bờ rào, nhặt một cái cọc tre, cắm xuống đất. Cậu móc chiếc áo con búp bê vào đầu cọc, quay mặt nó về phía mình.
“Mày đứng đấy”, Toàn nói, giọng khàn đặc vì lâu không nói chuyện với ai. “Đứng đấy mà xem tao làm. Tao phong mày là giám sát công trình. Thằng nào dám đổ rác nữa, mày nhớ mặt cho tao”.
Toàn lại lội xuống bùn, nước ngập đến ngang hông. Lũ đỉa đói lâu ngày đánh hơi thấy mùi máu tươi liền bơi đến, bám đen sì vào bắp chân cậu. Toàn mặc kệ. Cậu cứ thế xúc, vớt, ném. Vừa làm, nước mắt cậu vừa chảy ra, hòa lẫn với mồ hôi và nước mưa.
“Đ** mẹ cuộc đời!” Toàn gầm lên, ném mạnh một hòn gạch xuống nước. “Đ** mẹ chúng mày! Tao không lấy tiền! Tao không lấy một xu nào cả!”
Tiếng hét của cậu vang vọng vào vách núi rác, rồi chìm nghỉm vào sự im lặng vô cảm của cánh đồng hoang. Chỉ có con búp bê chột mắt vẫn trân trân nhìn cậu, nhân chứng duy nhất cho sự trong sạch thảm hại này.
***
Phòng làm việc của Chủ tịch xã. Ông Bền ngồi trên ghế sô-pha da, tay cầm một tập hồ sơ dày cộp. Hôm nay ông mặc bộ sơ mi trắng sơ vin gọn gàng, đeo huy hiệu Đảng, trông đầy vẻ trách nhiệm và ưu tư.
Đối diện ông là Chủ tịch xã mới, một cán bộ trẻ được luân chuyển từ Bí thư Đoàn huyện về, còn non kinh nghiệm và rất sợ va chạm.
“Anh Chủ tịch xem”, ông Bền đẩy tờ đơn lên mặt bàn kính. “Tôi cũng đau xót lắm. Anh Mẫn là đồng chí, là bậc cha chú. Nhưng quân pháp bất vị thân. Dân người ta bức xúc quá rồi, người ta kéo đến nhà tôi khóc lóc, bảo tôi là đại biểu Hội đồng nhân dân thì phải có tiếng nói”.
Chủ tịch xã cầm tờ đơn lên. “ĐƠN TỐ CÁO”. Bên dưới là chữ ký của hai mươi hộ dân trong thôn Đoàn Kết. Nét chữ nguệch ngoạc, có người chỉ điểm chỉ. (Thực ra toàn là anh em họ hàng nhà ông Bền và mấy người bị ông mua chuộc bằng vài trăm bạc).
Nội dung đơn tố cáo ông Lê Văn Mẫn lợi dụng chức vụ Bí thư Chi bộ kiêm Trưởng thôn, bao che cho con trai chiếm dụng đất công ở khu ao hợp tác, biến đất nông nghiệp thành bãi tập kết rác thải trái phép, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và mất an ninh trật tự.
“Anh xem”, ông Bền tiếp lời, giọng trầm xuống đầy vẻ trăn trở. “Thằng con lão Mẫn, cái thằng Toàn ấy, nó vừa đi tù về. Cái ngữ nghiện ngập ấy thì nó coi trời bằng vung. Nó kéo bè kéo cánh tụ tập ở cái chòi hoang, tiêm chích, hút hít. Dân đi làm đồng qua đấy cứ nơm nớp lo sợ. Giờ lại thêm cái vụ đổ rác này nữa. Nếu xã mình không làm nghiêm, để báo chí hay huyện họ biết thì...”
Ông Bền bỏ lửng câu nói, liếc nhìn sắc mặt vị Chủ tịch trẻ.
Vị Chủ tịch nhíu mày, gõ gõ ngón tay xuống mặt bàn. “Việc này... tôi cũng có nghe dư luận. Nhưng bác Mẫn là Bí thư chi bộ lâu năm, uy tín cũng lớn. Làm căng quá sợ ảnh hưởng đến đoàn kết nội bộ”.
“Chính vì uy tín nên càng phải làm gương!” Ông Bền vỗ tay xuống ghế, giọng đanh thép. “Bác Hồ đã dạy rồi, thương cho roi cho vọt. Anh Mẫn thương con không đúng cách, để nó làm loạn là hại nó, hại cả cái Đảng bộ xã. Tôi đề nghị, xã phải lập ngay đoàn thanh tra xuống kiểm tra hiện trạng, lập biên bản, cưỡng chế giải tỏa cái chòi trái phép ấy. Thu hồi đất về cho xã quản lý”.
“Anh cứ yên tâm. Việc này tôi làm vì cái chung. Nếu anh ngại, cứ để tôi đứng ra vận động bà con. Nhưng về mặt hành chính, anh phải ký quyết định thì dân mới phục”. Ông Bền chốt hạ.
Vị Chủ tịch trẻ nhìn tờ đơn chi chít chữ ký, lại nhìn vẻ mặt “chí công vô tư” của ông Bền. Anh ta thở dài, cầm cây bút lên. Bút sa gà chết. Một chữ ký roẹt trên tờ quyết định thành lập đoàn kiểm tra.
Ông Bền nhìn chữ ký đó, khóe môi khẽ nhếch lên. Cái gai trong mắt ông sắp được nhổ, và cái ao sen ấy, một miếng đất vàng đã đưa vào quy hoạch tương, sắp trở về tay ông một cách hợp pháp.
***
Buổi tối. Căn nhà sàn của ông Mẫn chìm trong bóng tối dày đặc, chỉ có ánh đèn vàng vọt hắt ra từ gian bếp.
Mâm cơm dọn ra đã nguội ngắt. Bát đũa vẫn nguyên ba bộ, nhưng chỉ có hai người ngồi. Cái ghế gỗ ở góc mâm, chỗ thằng Toàn hay ngồi, trống hoác. Cái khoảng trống ấy như một cái hố đen hút hết sinh khí của căn nhà.
Bà Hà không ăn, hai mắt sưng húp, đỏ hoe. Thỉnh thoảng bà lại nấc lên một tiếng nghẹn ngào.
Ông Mẫn ngồi đối diện, tay cầm bát cơm, nhưng và mãi không hết một miếng. Cơm trong miệng ông nhạt thếch, khô khốc như nhai rơm rạ.
“Ông ăn đi”, bà Hà nói, giọng lạc đi vì khóc nhiều. “Ông ăn cho khỏe để còn đi họp, còn đi giữ cái ghế của ông”.
Ông Mẫn đặt bát cơm xuống cái cạch. “Bà nói cái gì đấy?”
“Tôi nói sai à?” Bà Hà ngẩng lên, nước mắt trào ra giàn giụa. “Vì cái danh dự hão của ông mà ông đuổi con đi. Nó vừa mới về được vài ngày. Nó sai, nó dại thì ông dạy bảo từ từ. Đằng này ông đánh nó, ông sỉ nhục nó trước mặt cả làng cả tổng. Ông có biết người ta nói gì không? Người ta bảo ông là không biết dạy con! Ông giết con ông rồi ông Mẫn ạ!”
“Bà im đi!” Ông Mẫn quát lên, nhưng giọng ông run rẩy, không còn cái uy lực thường ngày. “Bà chiều nó quá nó mới hư! Không có lửa làm sao có khói? Nếu nó không nhận tiền thì tại sao rác lại đổ đúng vào chỗ nó làm? Tại sao nó không chối? Tại sao nó lại bỏ đi?”
“Nó bỏ đi vì nó uất! Vì bố nó không tin nó!” Bà Hà gào lên, rồi gục mặt xuống mâm cơm khóc nức nở.
Ông Mẫn ngồi chết lặng.
Tại sao nó không chối?
Câu hỏi ấy ám ảnh ông suốt hai ngày nay. Ông nhớ lại ánh mắt thằng Toàn lúc bị ông tát. Nó không giống ánh mắt của một kẻ gian xảo bị bắt quả tang. Nó giống ánh mắt của một kẻ bị dồn vào đường cùng.
Ông Mẫn đứng dậy, bỏ dở bát cơm. Ông đi ra ngoài hiên, châm điếu thuốc lào. Tay ông run rẩy đến mức không bật nổi cái bật lửa.
***
Đêm khuya. Khi bà Hà đã mệt lả và thiếp đi trong tiếng nấc, ông Mẫn rón rén xuống bếp. Ông mở nồi cơm nguội, xới đầy một bát tô. Ông lấy mấy con cá khô kho mặn còn sót lại, vùi vào giữa bát cơm. Ông gói ghém cẩn thận vào một cái túi nilon, buộc chặt lại.
Ông xách cái đèn pin, khoác thêm cái áo bông cũ, lầm lũi đi ra ngõ. Trời mưa phùn lạnh buốt. Đường ra ao sen trơn trượt. Ông Mẫn già nua, bước thấp bước cao trong đêm tối.
Ông đi đến gần khu ao sen thì dừng lại. Từ xa, ông thấy trong cái chòi nát của thằng Toàn có ánh đèn dầu leo lét. Cái ánh sáng yếu ớt, cô độc giữa mênh mông bóng tối và rác rưởi.
Ông muốn gọi: “Toàn ơi, về đi con”. Nhưng đôi chân ông nặng trĩu. Cái sĩ diện của người cán bộ, cái nỗi sợ bị lừa dối lần nữa, và cả sự xấu hổ vì cái tát hôm nọ đã giữ chân ông lại. Ông chưa sẵn sàng để thừa nhận mình có thể đã sai.
Ông nhìn quanh, rồi treo cái túi cơm lên cành cây trứng cá ven đường. Ông đứng lặng một lúc, nhìn về phía cái chòi, thở dài một tiếng sườn sượt rồi quay lưng đi về. Bóng ông già nua hòa vào màn đêm, cô độc không kém gì đứa con trai đang nằm co ro trong chòi nát.