Kẻ Bị Bỏ Rơi
Tháng Giêng là tháng ăn chơi, nhưng với cái thôn Đoàn Kết này, tháng Giêng năm nay là tháng của những cơn ẩm ương và những toan tính nhớp nháp.
Trời không mưa, nhưng nước ở đâu cứ túa ra từ mọi ngóc ngách. Sàn nhà lát gạch men đổ mồ hôi trơn tuột. Quần áo phơi cả tuần không khô, bốc mùi hôi hám, ẩm mốc. Không khí đặc quánh hơi nước, dính dấp, khiến người ta chỉ cần thở thôi cũng thấy mệt, thấy bực bội trong người.
Quán gội đầu của Lệ nằm ngay ngã ba đường trục chính của thôn. Gọi là quán cho sang, thực ra chỉ là một gian nhà cấp bốn cơi nới thêm cái mái tôn xanh đỏ.
Bước vào quán hôm nay, mùi thuốc uốn tóc rẻ tiền sực lên nồng nặc quyện với cái mùi ẩm mốc của mấy chiếc khăn bông chưa kịp khô và mùi hôi hám của nền nhà nhớp nháp.
Lệ đang đứng gãi đầu cho bà Tình, cựu cán bộ Tuyên giáo tỉnh về hưu. Bà Tình nằm dài trên cái ghế da giả đã rách vài chỗ lòi cả mút xốp ra ngoài, mắt nhắm nghiền hưởng thụ. Hai tay bà đan vào nhau đặt trên cái bụng mỡ núng nính, những ngón tay đeo đầy nhẫn vàng tây.
Tiếng nước xả rào rào, tiếng móng tay gãi vào da đầu sột soạt nghe thật vui tai. Nhưng vui tai nhất vẫn là cái miệng của Lệ.
“Gớm, bác Tình ạ”, Lệ vừa xoa bọt dầu gội vừa nói, giọng lanh lảnh. “Dạo này em thấy bác Mẫn nhà ta kín tiếng thế nhỉ? Tết nhất chả thấy đi chúc tụng ai, cứ ru rú ở nhà. Hay là... sợ người ta đến hỏi thăm chuyện thằng con?”
Bà Tình hừ một tiếng trong họng. “Hỏi thăm cái nỗi gì. Xấu chàng hổ ai. Lão ấy giờ chắc đang lo sốt vó lên ấy chứ. Mày không biết à, trên huyện đang có chỉ đạo mới đấy”.
Lệ dừng tay lại một nhịp, giả vờ ngạc nhiên, cúi thấp xuống thì thầm như sợ vách tường nghe thấy. “Chỉ đạo gì thế bác? Em dân đen chả biết gì”.
Bà Tình mở hé một mắt, cái lông mày xăm hỏng trổ xanh trổ đỏ nhướn lên đầy vẻ quan trọng. “Thì cái chuyện nhất thể hóa ấy. Một người không được ngồi hai ghế nữa đâu. Bí thư là Bí thư, Trưởng thôn là Trưởng thôn. Ôm đồm lắm vào rồi lạm quyền, tham nhũng, ai mà kiểm soát được. Nghe đâu đợt này huyện làm căng lắm, muốn tách ra cho dân chủ”.
“Thế ạ?” Lệ xuýt xoa. “Thế thì bác Mẫn mất một ghế à? Tiếc nhỉ, lương lậu đang ngon”.
“Ngon quá đi chứ lị!” Bà Tình bĩu môi dài thượt. “Mày tính xem, lương Bí thư, phụ cấp Trưởng thôn, lại còn phụ cấp thâm niên. Một tháng lão ấy đút túi cả chục triệu, bằng mày gội đầu gãy móng tay cả nửa năm. Mà dân mình thì được cái gì? Đường sá thì ổ gà, cống rãnh thì tắc tị. Tiền ấy lão mang về nuôi thằng con nghiện chứ làm gì”.
Tiếng cười hô hố của mấy mụ đàn bà ngồi chờ làm móng ở ghế bên cạnh vang lên phụ họa. Câu chuyện về “cái ghế” và “túi tiền” của ông Mẫn nhanh chóng trở thành miếng mồi ngon để đám đàn bà xâu xé, thêm mắm dặm muối.
Đúng lúc đó, một bóng người gầy guộc, đội cái nón lá cũ sụp xuống tận mặt, đi ngang qua cửa quán. Bà Hà đi chợ về, tay xách cái làn nhựa đỏ đựng mớ rau muống và mấy bìa đậu phụ. Trời nồm, đường trơn, bà phải bấm mười đầu ngón chân xuống đất bùn để khỏi ngã.
Lệ liếc mắt ra ngoài cửa kính mờ hơi nước, thấy bóng bà Hà, cố tình nói to hơn. “Ấy chết, các bác nói bé thôi. Vợ quan đi qua kìa. Gớm, nhà giàu nứt đố đổ vách mà ăn mặc như ăn mày ấy nhỉ. Diễn cái bài thanh bần để che mắt thiên hạ đây mà”.
Tiếng cười lại rộ lên. Những âm thanh chát chúa ấy xuyên qua lớp cửa kính, xuyên qua màn mưa phùn, đâm thẳng vào tai làm bà Hà khựng lại một giây.
Bà Tình oang oang. “Giàu gì, nuôi nghiện thì núi vàng cũng lở. Có khi cái nhà thờ tự cũng cắm ngân hàng rồi ấy chứ!”.
Mặt bà Hà nóng bừng lên, rồi chuyển sang tái mét. Bà cúi gằm mặt xuống thấp hơn nữa, kéo cái quai nón che đi đôi mắt đã đỏ hoe. Bà bước nhanh qua vũng nước bẩn trước cửa quán, nước bắn tung tóe lên gấu quần đen bạc phếch.
***
Nhà ông Chính Trưởng ban công tác Mặt trận nằm sâu trong ngõ, một căn nhà cấp bốn cũ kỹ nhưng lúc nào cũng được ông tự hào gọi là “Tư gia của người yêu nghệ thuật”. Trên bốn bức tường vôi lở lói, ông treo kín những bài thơ viết tay trên giấy A4, dán băng dính nham nhở. Những bài thơ con cóc vần vè ngô nghê ca ngợi trăng gió, mây trời, mà ông coi là tuyệt tác.
Ông Bền mặc cái áo da xịn bóng lộn, chân đi giày Tây bước vào. Trên tay ông xách một túi quà to và một bọc gì đó hình chữ nhật được gói giấy báo cẩn thận.
Ông Chính đang ngồi gật gù bên ấm trà nguội ngắt, thấy ông Bền vào thì lật đật đứng dậy, chỉnh lại cái kính lão trễ xuống tận mũi. “Ôi quý hóa quá, bác Bền sang chơi. Mời bác, mời bác ngồi”.
Ông Bền đặt túi quà gồm một chai rượu Chivas 18 và một hộp bánh ngoại xuống bàn. Nhưng thứ ông trân trọng đặt lên tay ông Chính lại là cái bọc giấy báo kia.
“Bác ạ”, ông Bền nói, giọng trầm ấm, đầy vẻ kính trọng. “Em biết bác là người thanh cao, tiền bạc với bác là phù du. Nhưng cái này, em nghĩ bác sẽ thích”.
Ông Bền từ từ mở lớp giấy báo ra. Bên trong là 50 cuốn sách in bìa cứng, giấy trắng tinh, thơm mùi mực. Trên bìa sách in dòng chữ uốn lượn mạ nhũ vàng: “Tập thơ TÌNH QUÊ - Trần Văn Chính”.
Ông Chính sững sờ. Đôi tay gầy guộc của ông run bắn lên khi chạm vào bìa sách. Ông vuốt ve dòng tên mình mạ vàng lấp lánh. Cả đời làm thơ, ông chỉ dám mơ có ngày thơ mình được in trên báo tường của huyện, chứ chưa bao giờ dám nghĩ đến việc xuất bản thành sách.
“Cái... cái này...” Ông Chính lắp bắp, mắt rơm rớm.
“Em nhờ thằng cháu làm ở nhà xuất bản dưới tỉnh in riêng cho bác đấy”, thực ra là in ở tiệm photocopy loại xịn, nhưng ông Bền nói dối không chớp mắt. “Thơ hay thế này, chan chứa tình yêu quê hương đất nước thế này mà để mốc meo trên tường thì phí quá, là có lỗi với văn hóa bác ạ”.
Ông Bền rót chén rượu, đẩy về phía ông Chính. “Bác xem, xã hội bây giờ người ta trọng vật chất quá, quên hết cả văn hóa tinh thần. Như bác Mẫn nhà mình ấy, tốt thì có tốt, nhưng... khô khan quá. Cứ suốt ngày nghị quyết với chỉ tiêu, chả bao giờ thấy quan tâm đến đời sống tinh thần của anh em, của các cụ”.
Ông Chính gật gù, mắt vẫn không rời tập thơ. “Phải, phải. Ông Mẫn... ừ thì liêm khiết, nhưng mà cứng nhắc. Hôm nọ tôi xin đọc bài thơ mừng Đảng mừng Xuân trong cuộc họp chi bộ mà ông ấy gạt phắt đi, bảo tốn thời gian. Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội cơ mà!”
“Đấy!” Ông Bền vỗ đùi đánh đét một cái. “Chính vì thế em mới trăn trở. Em nghĩ, thôn mình cần một luồng gió mới. Cần tách bạch ra. Người làm kinh tế, người làm chính trị, người lo văn hóa. Chứ tập trung quyền lực vào một người… già nua, chậm chạp, lại bảo thủ thì làm sao thôn mình khá lên được? Làm sao những tài năng văn nghệ như bác được tỏa sáng?”
Ông Bền hạ giọng, cúi sát vào tai ông Chính. “Sắp tới Đại hội, em định đề xuất thành lập cái Quỹ bảo tồn văn hóa thôn, mỗi năm trích ngân sách hoặc em tự bỏ tiền túi ra vài chục triệu để tổ chức thơ ca cho các cụ. Nhưng mà... ngặt nỗi bác Mẫn đang nắm hết quyền, chắc gì bác ấy đã duyệt”.
Ông Chính ngẩng lên, ánh mắt sau cặp kính lão lóe lên một tia nhìn khác lạ.
“Ông nói chí phải”, ông Chính run run rót rượu mời lại. “Quyền lực không thể để một người thao túng mãi được. Phải có đối trọng, phải có dân chủ. Thơ ca cũng cần có đất sống chứ!”
Ông Bền nhếch mép cười, nâng chén rượu lên uống cạn, vị cay nồng của rượu hòa với vị ngọt ngào của chiến thắng.
***
Trời nồm làm cái sân gạch cũ nhà ông Mẫn trơn như đổ mỡ. Những mảng rêu xanh lâu ngày gặp nước ẩm ướt trồi lên, nhớp nháp và trơn trượt.
Toàn ngồi xổm bên giếng nước. Cậu muốn làm một cái gì đó. Từ hôm về đến giờ, cậu cứ lẩn quẩn ra vào như một bóng ma trong nhà, ăn bám bố mẹ. Cảm giác vô dụng gặm nhấm cậu từng giờ. Bố đi vắng, mẹ đi chợ chưa về. Toàn nhìn thấy bộ ấm tích men lam Bát Tràng vẽ tích “Trúc Lâm Thất Hiền” mà bố quý như vàng đang để chỏng chơ trên bàn đá ngoài sân, bám đầy bụi và vết ố chè.
“Bố về thấy ấm chén sạch sẽ chắc sẽ vui lắm đây!” Toàn nghĩ.
Nhưng ngặt nỗi, đôi tay cậu không còn là đôi tay của ngày xưa nữa.
Cậu nhúng cái ấm vào chậu nước. Nước lạnh buốt. Bàn tay cậu bắt đầu run. Di chứng của những ngày cai nghiện trong trại, cộng với sự căng thẳng tâm lý khi ở nhà, khiến các đầu ngón tay cậu tê dại.
Cái ấm trơn tuột vì xà phòng. Toàn cố gắng giữ chặt lấy cái quai ấm. Nhưng càng cố nắm chặt, tay cậu càng run mạnh hơn.
Choang!
Tiếng vỡ xé toạc không gian yên tĩnh của buổi trưa vắng. Chiếc ấm tích rơi xuống nền gạch cứng, vỡ tan tành.
Toàn chết lặng nhìn xuống đống đổ nát dưới chân. Cái ấm quý nhất của bố. Cái ấm mà ngày xưa có người trả mấy chỉ vàng bố không bán. Giờ nó nát vụn, như chính cuộc đời cậu.
Đúng lúc đó, ông Mẫn dắt xe đạp về đến cổng. Ông vừa đi họp chi bộ mở rộng về, đầu óc đang căng thẳng vì những lời bóng gió của phe ông Bền về chuyện nhất thể hóa và chuyện con cái.
Nghe tiếng vỡ, ông Mẫn vứt cái xe đạp đánh uỳnh một cái, chạy xộc vào sân thì thấy thằng Toàn đứng ngây ra như phỗng, dưới chân là bộ ấm chén quý giá đã tan tành.
“Giời ơi là giời!” Ông Mẫn hét lên, giọng lạc đi vì uất ức. “Mày làm cái gì thế hả? Mày về cái nhà này mấy hôm đã lại báo tao rồi!”
Toàn giật bắn mình, mặt cắt không còn giọt máu. “Con... con định rửa... cho sạch...” Cậu lắp bắp.
“Rửa cái gì mà đập vỡ tan tành thế kia?” Ông Mẫn chỉ tay vào mặt con. “Tay chân mày để làm cảnh à? Có mỗi việc rửa cái ấm chén cũng không xong! Mày định phá cái nhà này đến bao giờ nữa? Hết tiền bạc, danh dự, giờ đến cả cái ấm uống nước mày cũng không tha cho tao à?”
Toàn không cãi. Cậu biết mình sai. Cậu là kẻ vô dụng. Cậu cúi xuống, định nhặt những mảnh vỡ lên.
“Đừng có động vào!” Ông Mẫn quát. “Để đấy! Mày động vào cái gì hỏng cái đấy!”
Nhưng Toàn vẫn cúi xuống. Bàn tay run rẩy của cậu quờ quạng nhặt một mảnh gốm sắc nhọn. Phập. Mảnh sành cứa sâu vào ngón tay trỏ của cậu. Một vết cắt ngọt lịm làm máu đỏ tươi nhỏ tỏng tỏng xuống nền gạch rêu mốc.
Toàn nhìn thấy máu. Cơn đau nhói lên, nhưng nó lại làm cậu tỉnh táo. Cậu ngẩng lên nhìn bố. Trong ánh mắt của ông Mẫn lúc đó, cậu chỉ thấy sự chán ghét, sự thất vọng ê chề. Ông Mẫn đang nhìn đống mảnh sành với vẻ mặt đau đớn, nhưng lại không nhìn bàn tay đang chảy máu của con mình.
Sự im lặng bao trùm. Tiếng mưa đầu xuân lại bắt đầu rơi lộp độp.
Toàn từ từ đứng dậy. Cậu nắm chặt bàn tay đang chảy máu, để mặc cho máu rỉ qua kẽ tay.
“Con xin lỗi”, Toàn nói, giọng nhẹ bẫng.
Rồi cậu quay lưng, lầm lũi bước đi về phía bờ ao, nơi duy nhất không ai phán xét cậu, nơi chỉ có bùn lầy và cỏ dại đón nhận cậu.
Ông Mẫn đứng nhìn theo bóng lưng con. Cơn giận nguôi đi, nhường chỗ cho một nỗi hối hận muộn màng dâng lên nghẹn đắng cổ họng. Ông nhìn xuống vũng máu loang lổ trên nền gạch.
Ông muốn nói “Quay lại băng tay đi con”. Nhưng cái miệng ông cứng lại. Cái sĩ diện, cái sự nghiêm khắc chết tiệt của một người cha gia trưởng đã khóa chặt lời yêu thương ấy lại. Ông đứng chôn chân giữa sân, mặc cho mưa tạt ướt đẫm vai áo, bất lực nhìn đứa con trai mà mình vừa đẩy ra xa hơn vạn dặm.