Chương 10. Mối tình bi thương hay Câu chuyện về nàng công chúa “trái tim lầm lỡ để trên đầu” (2)
Một thời gian ngắn sau khi Trọng Thuỷ trở về Nam Việt, đúng như lịch sử ghi nhận, Triệu Vũ Vương Triệu Đà cho quân sang đánh Âu Lạc. An Dương Vương ung dung ỷ y có nỏ thần chẳng thèm phòng bị, chỉ hời hợt giao binh quyền lại cho hai người con rể Võ Quốc và Cao Tứ chống giặc. Đáng tiếc, quân đội của Âu Lạc rệu rã do lâu ngày không luyện tập, hai đại tướng quân dốt nát, các Lạc hầu, Lạc tướng khác đã bị Trọng Thuỷ lôi kéo từ sớm, và cuối cùng, cọng rơm đè chết con lạc đà là toàn bộ nỏ Liên Châu đã gãy lẫy nhưng bị phát hiện quá muộn không kịp sửa chữa khiến cho trận chiến lần này chỉ kéo dài vài ngày. Tất cả các khu vực trên đất Âu Lạc nhanh chóng thất thủ, dù sao thì người dân chẳng hề mặn mà với triều đình hiện tại. Trong mắt họ, An Dương Vương đã soán ngôi vua Hùng thì giờ bị Triệu Đà chiếm ngôi cũng là lẽ thường.
Vào thời khắc phòng tuyến cuối cùng của Loa thành sụp xuống, Thục Phán lao vào phòng của Mỵ Châu, kéo nàng lên ngựa nhằm hướng nam phi tới. Tôi đồ rằng, không phải vì ông yêu thương gì nàng mà chẳng qua, về danh nghĩa nàng vẫn là con dâu Triệu Đà, là hoàng tử phi của Nam Việt, mang theo nàng khả năng sống sót sẽ cao hơn. Mỵ Châu không chống cự, như thể đã đoán trước được. Nàng chỉ cầm theo một tay nải gọn gàng, choàng chiếc áo khoác lông ngỗng Trọng Thuỷ tặng rồi lặng lẽ lên ngựa theo cha. Trong lúc chiến sự lộn xộn, tôi đã nhanh chóng lẩn đi, cùng Hạc hóa thành chim bay lên cao tránh tai bay vạ gió. Từ đây tôi nhìn thấy rõ con ngựa chở An Dương Vương và Mỵ Châu lao ra cổng sau thành, nhằm hướng nam phi tới. Chúng tôi lặng lẽ bay theo.
Thực tế thì Mỵ Châu không hề có ý rải lông ngỗng cho Trọng Thuỷ đi tìm. Chẳng qua lúc này đang là mùa đông và chiếc áo khoác kia là thứ tốt nhất nàng có nên mới cầm theo. Có điều, ngựa phi nhanh không tránh khỏi va quệt vào những cành cây mọc tua tủa khắp nơi khiến lông ngỗng vô tình vương lại suốt chặng đường. Kết quả là chính chỗ lông ngỗng rụng đã chỉ hướng cho quân Nam Việt truy đuổi.
An Dương Vương thay ngựa phi ngày đêm nhưng rồi đường càng lúc càng khó đi, cuối cùng bị một ngọn núi chặn lại. Theo lời Hạc, đây là núi Mộ Dạ thuộc địa phận tỉnh Nghệ An. Một bên là biển, một bên là núi, đằng sau quân địch sắp đuổi tới, Thục Phán đã hoàn toàn mất sạch đường lui.
Nhưng kỳ lạ là ông ta vẫn bình tĩnh, rút từ trong người ra một chiếc tù và, thổi liền mấy tiếng, ngắt nghỉ rất có nhịp điệu tựa như ra ám hiệu.
Rất nhanh sau đó, xa xa ngoài biển xuất hiện một bóng thuyền nhỏ từ từ tiến lại. Mỵ Châu kinh ngạc nhìn người đang đứng trên mũi thuyền.
- Cao Lỗ tướng quân? - Nàng cau mày.
Người kia nhảy từ trên thuyền xuống, cúi người:
- Vương thượng, thần tới đón ngài.
Thì ra, ngay khi binh biến nổ ra, Thục Phán đã tìm cách liên lạc với Cao Lỗ, dặn hắn mang thuyền nhẹ ra biển chờ sẵn. Tính ra Cao Lỗ cũng là người có tình có nghĩa, dù từng bị Thục Phán phế chức đuổi về quê nhưng khi có chuyện vẫn chạy tới giải cứu.
Đằng sau, những tiếng ồn ào huyên náo vọng lại khiến Cao Lỗ kinh ngạc, không nghĩ quân Nam Việt đã lần được dấu vết của Thục Phán thần tốc đến vậy. Vốn tinh mắt, chỉ bằng một cái liếc ngang, hắn đã kịp nhìn thấy vết lông ngỗng rơi suốt dọc đường sau lưng hai người và chiếc áo có phần tơi tả của Mỵ Châu.
- Mỵ Châu, ngươi cố ý dẫn quân Nam Việt truy kích ư? - Hắn chỉ thẳng vào nàng, gằn giọng.
Lúc này Mỵ Châu mới nhận ra sai lầm của mình, mặt tái mét, lắp bắp:
- Không… ta không biết…
- Còn chối? - Cao Lỗ tức đến mức mặt đỏ rần. - Ta nghe nói khi lâm trận thì phát hiện toàn bộ nỏ Liên Châu đã gãy lẫy, vì lý do đó nên Âu Lạc mới thất thủ nhanh thế. Có phải chính ngươi cũng mách cho Trọng Thuỷ bí mật nỏ Liên Châu không?
Tới đây thì Mỵ Châu cúi đầu không phản bác nửa lời, dáng vẻ cam chịu. Nàng biết số mình đã tận, bãi biển này sẽ là nơi đặt dấu chấm hết cho tất cả.
Thục Phán đứng bên cạnh đột ngột bừng tỉnh, quát lớn:
- Thì ra ta nuôi giặc bấy lâu mà không biết.
- Phụ vương, lòng con có đèn trời soi tỏ. - Mỵ Châu bỗng ngẩng lên nhìn thẳng vào Thục Phán, ánh mắt đầy kiêu hãnh. - Mỵ Châu không phải giặc. Con có lỗi với phụ vương chứ không có lỗi với Âu Lạc hay bách tính muôn dân.
Ý tứ trong lời lẽ nàng quá rõ ràng khiến cơn thịnh nộ của Thục Phán càng điên cuồng hơn. Ông ta không nói thêm câu nào, thẳng tay tuốt gươm, vung lên hướng về phía con gái ruột của mình.
Đến đây tôi không nhịn nổi nữa, liền dồn hết tâm trí tạo một trận cuồng phong, cát bụi bay mịt mù. Trong lúc hỗn loạn, tôi tự biến mình thành Bụt, lao vào ôm lấy Mỵ Châu bay đi xa đúng khoảnh khắc thanh gươm Thục Phán chém xuống. Chuyện gì xảy ra sau đó với Thục Phán, tôi không quan tâm. Dù sao ông ta đã mất hết tất cả, giờ muốn giữ mạng sống chỉ có thể lập tức lên thuyền cùng Cao Lỗ ra khơi, mai danh ẩn tích suốt quãng đời còn lại.
Về phần Mỵ Châu, được tôi cứu lên, nàng vẫn ngơ ngác chưa hiểu chuyện gì xảy ra. Nàng hoảng sợ ôm chặt lấy tôi khi thấy mình đang lơ lửng trên không. Tôi đưa nàng tới một nơi an toàn, ôn tồn tự giới thiệu mình là Bụt.
- Đất trời thấu tỏ lòng con nên ta mới ra tay cứu… - Tôi làm ra vẻ thần bí. - Giờ hãy nói cho ta biết con muốn làm gì, ta đều có thể giúp.
Mỵ Châu rơi nước mắt, mãi sau mới nghẹn ngào nói:
- Con muốn đến một nơi thật xa, nơi không ai biết con là ai, nhưng trước đó, Bụt có thể… có thể… - Nàng ngập ngừng. - cho con quay về nhìn Loa thành một lần cuối không?
Để tránh phiền phức trong tương lai, trước khi rời đi, tôi giấu Mỵ Châu ở một góc kín đáo rồi biến thành dân chài, đứng bên bờ biển. Khi quân Nam Việt đuổi tới, tôi bịa ra rằng Mỵ Châu vì phản bội đã bị vua cha chém chết, xác trôi ra biển. Còn An Dương Vương thì được thần Kim Quy rẽ nước đưa xuống thuỷ cung. Thời điểm đó tôi đã quá mệt mỏi để nghĩ ra kịch bản nào khác nên cứ nói theo y nguyên truyện.
Vốn Âu Lạc bao năm qua được bao bọc trong quá nhiều truyền thuyết liên quan đến thần Kim Quy nên chẳng ai nghi ngờ gì lời nói dối vá víu vụng về của tôi. Tin này cứ như vậy được lan truyền như một lời công bố chính thức về kết cục của An Dương Vương và Mỵ Châu. Ngay cả những người biết rõ gốc rễ nguồn cơn để không bị câu chuyện thần thoại đánh lừa thì cũng sẽ tin việc Mỵ Châu bị chính cha ruột giết chết.
Xong đâu đấy, tôi ôm Mỵ Châu nhằm hướng Cổ Loa bay đi. Trong lốt ông Bụt, cơ thể người không tối ưu cho việc bay như cơ thể chim, chỉ một lát, mắt tôi đã cay xè, nước mắt ràn rụa, làn da mỏng manh thì rát bỏng do ma sát với không khí. Bên cạnh, Mỵ Châu cũng không khá hơn là bao. Vậy là tôi đành bay chậm lại, vừa đi vừa nghỉ, đâm ra mất tới hai ngày mới về đến Loa thành.
Tôi, Hạc và Mỵ Châu cùng tàng hình, chầm chậm bay quanh bầu trời phía trên thành để nàng tha hồ ngắm mọi thứ bên dưới. Chỉ mới mấy ngày, quân Nam Việt đã kịp chiếm đóng, sắp xếp mọi việc. Đúng như Hạc nói, Triệu Vũ Vương không phải kẻ khát máu nên sau khi công thành, ông ta không cho phép quân đốt phá, cướp bóc như lẽ thường mà ngược lại, nhanh chóng ổn định trong ngoài. Ông ta hạ lệnh kiểm kê nhân khẩu, rồi cho phép người dân trở lại công việc thường ngày. Khi chúng tôi tới, Loa thành đã tương đối yên ổn, dấu vết chiến tranh đang được tích cực xoá bỏ.
Nhưng điều thu hút sự chú ý của tôi hơn cả là đám đông xúm xít ngoài sân chỗ nơi ở của Tam công chúa ngày trước. Vì tò mò, tôi hạ xuống một chút, đủ để quan sát xem chuyện gì đã xảy ra.
- Trọng Thuỷ… - Tiếng Mỵ Châu thảng thốt khe khẽ.
Chúng tôi bàng hoàng nhận ra chính giữa vòng vây đám người kia là Trọng Thuỷ, giờ chỉ còn là một cái xác không hồn, tóc tai rũ rượi, mặt mũi trắng bệch. Phải chăng đúng như truyện viết, vì quá dằn vặt trước suy nghĩ tự mình hại chết Mỵ Châu, hắn đã nghĩ quẩn, lao đầu xuống chiếc giếng trong sân, nơi nàng thường ngồi chải tóc ngày xưa. Do tình hình Loa thành lúc ấy cực kỳ lộn xộn, chẳng ai kịp thời nhận ra sự biến mất của đại hoàng tử. Tới khi tất cả hò nhau đi tìm và vớt được hắn nơi đáy giếng thì thi thể hắn đã bắt đầu phân huỷ.
Ngạc nhiên thay, Mỵ Châu không tỏ ra quá buồn phiền về chuyện này. Khi tôi ướm hỏi, nàng bình tĩnh đáp:
- Trọng Thuỷ và con không phải quan hệ phu thê bình thường, chàng tìm cách thao túng con nhằm moi tin mật của Âu Lạc, con mượn tay chàng phế truất phụ vương… Chúng con lợi dụng lẫn nhau vì mục đích riêng, vừa là kẻ thù, vừa là đồng minh. Đúng là chúng con có cảm tình với đối phương nhưng để gọi là yêu đến mức tìm chết thì không đâu… - Nàng lắc đầu, giọng khẳng định chắc nịch. - Không thể có chuyện Trọng Thuỷ tự tử vì con được.
- Vậy vì sao? - Tôi hoang mang hỏi lại, quên phắt luôn mình đang làm Bụt, lẽ ra phải biết mọi chuyện.
- Trọng Thuỷ có mấy em trai bên dưới… Có lẽ lần này công lao của chàng quá lớn, họ sợ chàng được Triệu Vũ Vương ưu ái. Khả năng cao là có kẻ tranh thủ cơ hội đang lộn xộn xuống tay trừ hậu hoạ… - Nàng thở dài. - Thật tội nghiệp.
Tôi cảm giác Mỵ Châu không chỉ xót xa cho Trọng Thuỷ mà còn cho chính mình. Nếu không vì tôi động lòng cứu thì giờ nàng cũng đã đi đầu thai từ lâu.
“Theo anh Mỵ Châu nói đúng không?” Tôi truyền âm tới Hạc đang tàng hình bay ngay bên cạnh.
“Giờ không ai xác định được nhưng có lý hơn rất nhiều chuyện anh ta tự tử vì muốn bồi tội với Mỵ Châu.”
Nói xong lời từ biệt với quá khứ, Mỵ Châu xin tôi đưa đến một vùng núi hẻo lánh, dựng căn nhà nhỏ, sống lặng lẽ xa lánh nhân gian. Vậy là cuối cùng, Trọng Thuỷ chết không rõ ràng, Mỵ Châu thì chật vật cô quạnh nơi thâm sơn cùng cốc. Một cái kết cay đắng cho hai con người vốn sinh ra với vận mệnh nằm trong tay kẻ khác, có quẫy đạp tới đâu đều không thể thoát ra.
Tôi buồn phiền về chuyện này đến mức ủ dột mấy ngày, chẳng thiết làm gì. Thậm chí có lúc tôi còn tự trách vì đã về muộn, không kịp ra tay cứu Trọng Thuỷ. Nhưng Trọng Thuỷ cũng chỉ là một trong vô vàn người đã ngã xuống vì cuộc chiến này. Ngoài Mỵ Châu, tôi không cứu được thêm bất cứ ai khác. Chiến tranh giành lãnh thổ, tài nguyên là điều tất yếu trong lịch sử loài người, mọi quân cờ trên bàn đều phải nhận lấy vai trò của mình. Dù tôi có trong tay vô vàn phép thuật cùng sự nhiệt tình cũng không có khả năng can thiệp, thay đổi luật chơi.
- Rốt cuộc tôi vẫn chẳng làm được cái gì ra hồn. - Tôi ủ rũ than thở với Hạc.
- Tôi bảo cô rồi mà, hãy để mọi chuyện tự nhiên thì hơn. - Cậu ta nhún vai. - Nếu cô không can thiệp thì Mỵ Châu đã đi đầu thai, sống cuộc đời tươi vui hơn mấy chục năm cô đơn nơi rừng núi như bây giờ.
- Đừng có ăn nói hàm hồ. Sao có thể thấy chết mà không cứu? - Tôi gắt khẽ.
- Tôi không có ý đó. - Hạc ôn tồn giải thích. - Ý tôi chỉ là bất kỳ vấn đề gì xảy ra luôn có nhiều giải pháp, mỗi giải pháp đều có ưu điểm và cái giá phải trả khác nhau. Vậy nên, cô đừng nghĩ gì nhiều nữa. Cô đã cố hết sức rồi, chứ cô đâu thể thay đổi lựa chọn của người khác, đúng không nào?
Thấy tôi im lặng không đáp, cậu ta liền mỉm cười chìa tay về phía tôi.
- Giờ đi được chưa?
- Ừ. - Tôi nắm lấy tay cậu ta, nhắm mắt, sẵn sàng cho chuyến phiêu lưu tiếp theo.
……………
Sau một thời gian dài, tôi đã quen dùng phép thuật hơn và dù còn rất hậu đậu, không phải tôi không làm được việc gì ra hồn.
Hành trình tiếp theo, chúng tôi vô tình rơi xuống một không thời gian đang chịu cảnh thiên tai nặng nề. Động đất liên hoàn kèm bão lớn hàng trăm năm có một gầm rít như con quái vật khổng lồ nhe nanh múa vuốt chực chờ nuốt chửng mọi thứ trên đường di chuyển. Từ bé đến lớn tôi chưa từng chứng kiến thảm hoạ tự nhiên nào khủng khiếp đến vậy. Tôi kinh hãi phát hiện bên dưới thung lũng là ngôi làng nhỏ đang run rẩy chống đỡ, có thể bị thổi bay bất cứ lúc nào. Chắc chắn mấy chục hộ dân ở đây sẽ không thể sống sót trước cơn cuồng nộ của thiên nhiên.
Tôi lập tức biến hoá, lần này không phải chim ưng, cũng chẳng phải Bụt. Những tạo hình đó không phù hợp khi có quá nhiều người cần giải cứu. Trong đầu tôi lướt rất nhanh qua nhiều lựa chọn và dừng ngay ở rồng. Rồng có cơ thể dài, tha hồ vận chuyển người, đã thế tôi còn không mất sức đập cánh, để tiết kiệm pháp lực, tôi nhờ Hạc giúp tạo chuyển động không khí nâng tôi bay lên. Hơn nữa, tôi còn chu đáo cải thiện nhược điểm của rồng bằng việc biến thân thể thành trơn nhẵn thay vì những chiếc gai tua tủa như tạo hình gốc. Nhờ vậy người ta có thể ngồi trên lưng tôi dễ dàng hơn.
Tôi biến thành một con rồng khổng lồ dài cả trăm mét nên chỉ cần một đợt vận chuyển, tôi đã kịp đưa toàn bộ dân làng lên vị trí cao ráo, cứu tất cả một mạng, ngoài của cải thì không có chút thiệt hại nào về người.
Tôi tưởng lần này mình đã làm việc rất hoàn mỹ, tin rằng người dân hẳn sẽ phải lập đền thờ cho tôi tạ ơn cứu mạng.
Tiếc thay, thứ tôi nhận được không phải hương khói hoa quả mà là một giai thoại về quái vật! Nhờ cái thân hình dài, trơn tuột tôi hoá thành, dù cố giữ nguyên đầu rồng nhưng tất thảy bọn họ lại thống nhất gọi tôi là giao long, thứ lai tạp giữa rắn và rồng. Quá đáng hơn, họ đổ mọi tội lỗi lên đầu tôi. Trận động đất liên hoàn đã gây sụt lún một vùng rộng, còn làm đổi hướng dòng chảy, kéo mọi nguồn nước gần đó đổ vào lòng chảo mới hình thành, lại thêm mưa lớn, lũ quét nhiều ngày liên tiếp, kết quả là cái hồ khổng lồ ra đời. Toàn bộ ngôi làng dưới thung lũng ngày nào giờ chỉ còn là đống đổ nát hoang tàn nằm nơi đáy hồ. Và người ta khăng khăng rằng, cái hồ chính là vết nứt do tôi gây ra lúc trồi lên mặt đất.
Về sau, người ta đặt tên hồ này là Ba Bể, còn gán cho nó một câu chuyện đạo đức hết sức nhảm nhí về bà già ăn mày do giao long hoá thành để thử lòng người. Nghe xong tôi tức muốn xịt máu mũi. Tôi có thể hoá thành Lưu Diệc Phi, thành ông Bụt, thành chim ưng, thành rồng hoặc tối thiểu là con mèo nhỏ đáng yêu chứ hà cớ gì lại hoá thành bà lão bẩn thỉu lở loét?
Hạc thấy tôi tức tối thì cười một trận đã đời rồi không nói không rằng, nắm lấy tay tôi, kéo vào dòng thời gian.