Chương 9. Mối tình bi thương hay Câu chuyện về nàng công chúa “trái tim lầm lỡ để trên đầu” (1)
Chuyện Trọng Thuỷ nói với Mỵ Châu hoá ra là rủ nàng xuất cung ngao du thiên hạ. Tôi thấy mắt Mỵ Châu sáng lên háo hức nhưng rất nhanh cụp xuống.
- Sao phụ vương có thể đồng ý chứ?
- Thao Bồi Lý năm nay mất mùa nặng, cần cứu trợ, ta có thể xin phụ vương để chúng ta đi giám sát. Nàng muốn không? - Hắn mỉm cười.
- Có, thiếp muốn.
Mặc dù chuyện xuất cung đối với một công chúa mà nói là khó hơn lên trời nhưng bằng cách nào đó, Trọng Thuỷ đã thu xếp rất êm đẹp. Mỵ Châu không mang tôi theo, sợ đi đường bị lạc. Tôi cũng chẳng cần, chờ cho nàng khuất bóng, tự mình với Hạc biến thành chim bay đằng sau.
Thao Bồi Lý vốn là quê hương của Đệ nhị nguyên phi, mẹ đẻ Mỵ Châu. Có lẽ Trọng Thuỷ đã vin vào lý do này để đưa nàng về đó cứu trợ. Nơi đây còn khá nhiều họ hàng bên ngoại của nàng nên người dân rất nhiệt tình với công chúa út cùng phò mã. Đổi lại, nàng và Trọng Thuỷ cũng tích cực làm việc khiến công tác cứu trợ rất suôn sẻ. Chỉ có điều, Mỵ Châu nhanh mắt để ý thấy luôn có sự phân chia không đều giữa một vài nhóm người.
- Bẩm, đó là vì… vì… - Bồ chính, vị quan đứng đầu khu vực hơi lắp bắp giải thích. - vì người Lạc Việt không thể ngang hàng với người Âu Việt.
- Nhưng chúng ta đều là con dân Âu Lạc kia mà? - Nàng ngạc nhiên, có phần bất mãn hỏi lại.
Tới đây vị Bồ chính không dám trả lời, chỉ cúi người xá dài một cái rồi từ từ lui ra. Mỵ Châu không ngốc nên chỉ phút chốc liền hiểu ra. Thục Phán vốn là người Âu Việt nên thẳm sâu trong lòng vẫn có ý nghi kỵ người Lạc Việt. Bằng chứng là mọi vị trí trọng yếu trong triều không bao giờ dân Lạc Việt có thể chen chân vào. Hẳn ông ta đã ngầm chỉ dụ, hoặc giả đám người dưới tự hiểu ý mà làm.
Xuất cung lần này, Mỵ Châu không chỉ ở Thao Bồi Lý mà còn tranh thủ đi rất nhiều nơi. Theo chân nàng, tôi đã được quan sát sâu vào đời sống xã hội thời này. Tôi, và hẳn là cả Mỵ Châu đều kinh hoàng nhận ra người dân dưới sự cai trị của An Dương Vương cực khổ không kể xiết. Ông ta có thể là một nhà quân sự, chính trị thiên tài nhưng năng lực quản lý thực sự tệ. Bồ chính các nơi tha hồ vơ vét, tình trạng vô pháp vô thiên, cá lớn nuốt cá bé mặc sức hoành hành. Người dân sống trong cảnh cái chết luôn chực chờ, nếu không vì đói kém, bệnh tật thì cũng do trộm cướp. Những vùng đất màu mỡ thì đám quan lại ngang nhiên chiếm hữu, còn dân thường chẳng còn lựa chọn nào ngoài làm công cực khổ không khác gì nô lệ. Chẳng cứ vùng thiên tai, mọi nơi Mỵ Châu đặt chân tới đều phủ bầu không khí tang thương, xơ xác với bóng đen tử thần phảng phất trên mọi khuôn mặt khắc khổ, bệnh tật, đói ăn.
“So với những năm cuối đời Hùng vương thì sao?” Tôi hỏi Hạc.
“Có lẽ tệ hơn rất nhiều. Dù sao thời đó người ta còn có tự do. Tới An Dương Vương, ông ta giỏi dùng binh nhưng quản lý xã hội kém, vừa hà khắc vừa cứng nhắc lại không sát sao đâm mục ruỗng từ trong ra ngoài. Cuối cùng chỉ dân là khổ.” Tiếng Hạc vang lên trong đầu tôi.
- Tướng công, đời sống ở Nam Việt có giống thế này không? - Mỵ Châu bỗng nhỏ nhẹ hỏi, cắt ngang cuộc trò chuyện âm thầm của tôi và Hạc.
- Không. - Trọng Thuỷ từ tốn đáp. - Phụ vương ta học hỏi tinh hoa từ cách tổ chức bộ máy của Tần hoàng đế, trong đó phân cấp lãnh thổ thành những đơn vị hành chính từ lớn tới nhỏ, đơn vị dưới cùng là nhóm năm hộ dân, chịu trách nhiệm lẫn nhau. Có hệ thống giám sát chéo tránh tình trạng lạm quyền, và quan trọng nhất là phụ vương cũng bắt chước ra những quy định công khai, rõ ràng hình phạt với các tội danh cụ thể nên bất cứ ai phạm lỗi đều có tiêu chuẩn để định tội công bằng từ quan tới dân. Nhờ đó xã hội mới ổn định, dân chúng an tâm sinh sống, làm ăn…
- Thật sao?
- Chà, nói thẳng ra thì thế này. Ta không phải không có năng lực nhưng ta chỉ giỏi một số lĩnh vực… - Hắn đột nhiên nhận ra mình hơi lỡ lời nên dừng lại, có điều Mỵ Châu đương nhiên biết, “một số lĩnh vực” ở đây chính là khả năng giao tiếp, thao túng lòng người và đấu đá chính trị. Sau một thoáng im lặng, hắn tiếp tục. - còn so về tầm nhìn và năng lực điều hành xã hội thì ta thua xa phụ vương.
Mỵ Châu không hỏi thêm gì nhưng ánh mắt vẫn nửa tin nửa ngờ.
- Nàng nghĩ phụ vương ta từ một thái thú, tranh thủ lúc nhà Tần sụp đổ tự mình tách ra xưng vương mà không gặp khó khăn gì sao? Nếu không đủ năng lực, ngoài đối phó với nhà Hán mới lên, trong ổn định lòng dân thì cái ngai người ngồi đã mất lâu rồi. Làm vua không phải cứ dùng vũ lực chèn ép là xong. Giữa ta và nàng thôi, với tình trạng này của Âu Lạc, ta dám chắc sớm muộn sẽ có những cuộc khởi nghĩa nổ ra, chiến tranh sẽ lan rộng, từ chính nội tại đất nước này.
Trọng Thuỷ nói không sai. Ngay sau khi chúng tôi hồi cung được vài tháng, tin báo đã dồn dập đổ về. Các cuộc nổi dậy lớn nhỏ đã bùng lên dữ dội, từ tự phát tới có tổ chức ở khắp mọi nơi trên đất Âu Lạc. Những chiếc nỏ Liên Châu thần thánh vốn dùng để bảo vệ quốc gia trước ngoại bang giờ giương thẳng về phía người dân, lạnh lùng nhả tên. Và tiếp theo những cuộc khởi nghĩa thất bại là hành động trả thù tàn nhẫn của đám quan lại khiến máu đổ thành sông, oán khí ngút trời.
Dù có ở hậu cung xa xôi, tách biệt khói lửa nhân gian thì Mỵ Châu vẫn không thể không biết những chuyện này. Nàng ngày càng ít lời, đôi mắt linh động ngày nào giờ ủ rũ không nguôi.
- Cọp, hôm qua ta nghe được Cao Tứ kể riêng với Trọng Thuỷ là đã có hàng ngàn người chết trong mấy cuộc chiến vừa rồi… - Mỵ Châu vuốt ve ta, thì thầm. - Anh ấy bảo đó là cái giá phải trả khi dám chống lại triều đình, nhưng ta đã tận mắt thấy cuộc sống khổ cực của dân chúng, nếu có lựa chọn, việc gì họ phải mạo hiểm mạng sống cầm vũ khí chiến đấu chứ?
- Miao…
- Phụ vương giờ chẳng hề để tâm triều chính nữa, các Lạc tướng, Lạc hầu cũng vậy. Cao Tứ và Võ Quốc đang tranh đấu nhau quyết liệt nhằm đưa vợ mình lên nối ngôi nhưng tất cả những gì họ nghĩ tới chỉ là quyền lợi được hưởng khi làm vua, còn dân chúng ra sao không ai bận tâm… Ta không muốn và cũng chẳng thể tranh đấu. Phụ vương sẽ không bao giờ để ta kế nghiệp khi Trọng Thuỷ còn đó.
Một giọt nước mắt Mỵ Châu khẽ rơi xuống:
- Ta bất lực quá, một công chúa vô dụng như ta có thể làm gì chứ?
Dù tôi có là người, tôi cũng không thể trả lời câu hỏi của nàng. Mỵ Châu có tư duy, có tầm nhìn cần thiết của kẻ cai trị nhưng nàng lại quá nhân hậu, không thể dẫm đạp người khác mà đi lên. Hơn nữa, bản thân nàng không cho rằng Trọng Thuỷ là một ứng viên tốt cho ngôi cửu ngũ chí tôn. Bởi như chính hắn từng tự nhận, năng lực điều hành của hắn kém xa Triệu Vũ Vương.
- Cọp, em nói xem, hàng vạn người dân vô danh ngoài kia đáng giá đến đâu?
Câu cuối này thốt lên, Mỵ Châu đã tự làm mình hoảng sợ. Nhưng đồng thời, một tia quyết tâm ánh lên trong mắt nàng.
………………
Một ngày không lâu sau đó, An Dương Vương tổ chức buổi tiệc thết đãi tất cả hoàng thất lẫn những Lạc tướng, Lạc hầu chủ chốt, để mừng việc cuối cùng đã dẹp yên mọi cuộc nổi dậy.
- Chúc mừng Vương thượng, chúc Vương thượng thọ ngang trời đất, chúc Âu Lạc mãi mãi trường tồn. - Tất cả nâng ly, đồng thanh.
Khác mọi ngày, Mỵ Châu uống rất nhiều, đến mức lúc tiệc tan, nàng đã không còn đứng vững, phải để Trọng Thuỷ dìu về phòng. Gò má nàng ửng hồng, đôi mắt mơ màng không tiêu cự như thể không nhận ra được ai với ai.
- Âu Lạc ta là vững mạnh nhất… - Khi bước qua cửa phòng, nàng bỗng líu ríu nói. - Chúng ta được thần bảo hộ, nào giúp xây thành, nào cho móng để làm nỏ thần bắn một phát cả loạt mũi tên. Trọng Thuỷ, chàng nói xem, như vậy, kẻ nào có thể đụng tới Âu Lạc chứ?
- Nàng nói đúng, Âu Lạc mạnh nhất.
Trọng Thuỷ cẩn thận đặt nàng xuống giường, toan đứng lên thì bị nàng túm chặt cổ áo:
- Chàng không tin thiếp đúng không? Nếu vậy, chàng thử qua đền cấm bên cạnh cung của phụ vương mà xem thiếp nói đúng hay sai.
Vì tò mò, tôi tìm đến đền cấm vốn chỉ có An Dương Vương được vào và rồi kinh ngạc phát hiện đây chính là kho nỏ Liên Châu. Trọng Thuỷ ở trong cung đã lâu nhưng hắn vẫn chưa dò hỏi được chuyện này. Nếu không nhờ Mỵ Châu say rượu buột miệng, hẳn hắn sẽ còn rất lâu nữa mới biết. Tất nhiên, Trọng Thuỷ không hề tin vào thần thánh mà biết đây là một phát minh quân sự đặc biệt hữu dụng, bảo vật trấn quốc của Âu Lạc. Trước giờ hắn vẫn cho rằng nỏ Liên Châu được cất giữ cẩn thận bên ngoài quân doanh chứ không nghĩ cái kho vũ khí mình vắt óc rình mò đó lại luôn nằm ngay sát bên.
Bề ngoài, đền cấm này là nơi thờ thần Kim Quy nhưng đằng sau bức tượng lại có một cánh cửa bí mật mở vào kho nỏ Liên Châu. Nhằm tránh gây nghi ngờ, Thục Phán không cắt cử nhiều người canh gác mà chỉ có hai, ba tâm phúc túc trực quanh đền dưới danh nghĩa quét dọn, hương khói. Đối với Trọng Thuỷ, chẳng qua hắn không biết nỏ Liên Châu giấu ở đây chứ để đột nhập là chuyện dễ như trở bàn tay. Trọng Thuỷ làm gì trong đó tôi không kịp chứng kiến nhưng có thể dễ dàng đoán ra.
Một tháng sau, Trọng Thuỷ xin An Dương Vương cho về nước, lấy lý do Triệu Vũ Vương bệnh nặng. Hắn ngầm ám chỉ mình là con cả, cần túc trực bên cha để đảm bảo ông thấy được khi cân nhắc truyền ngôi. Thục Phán nghe vậy, không nói hai lời liền đồng ý.
Đến ngày lên đường, Trọng Thuỷ ôm lấy vợ, dịu dàng nói:
- Mỵ Châu, hãy chờ ta, được không? Dù có chuyện gì xảy ra, lòng ta sẽ mãi chỉ có mình nàng.
Mỵ Châu đứng nhìn bóng hắn xa dần, tay nàng ôm chặt tôi, khe khẽ thì thầm:
- Em có nghĩ là ta đã làm đúng không? Thực ra, Trọng Thuỷ rất hiểu ta, có thể tính là tri âm, tri kỷ. Chàng biết ta không tin lời chàng nên cố tình tìm cách đưa ta ra ngoài, tận mắt chứng kiến nỗi khổ của dân chúng, rồi lại giả vờ như vô tình đưa tin về tình hình ngoài kia đến cho ta… Ta không ngu ngốc, chuyện chàng tính kế ta, sao ta không biết? Có điều, chàng không lừa dối ta, chàng chỉ là cho ta biết sự thật. Kết cục này là ta lựa chọn nhưng không nằm ngoài tính toán của chàng… Giá như sinh ra trong hoàn cảnh khác, chúng ta có lẽ sẽ là một đôi phu phụ tâm đầu ý hợp…
Giọng nàng buồn phiền nhưng lại là chấp nhận thay vì tiếc nuối. Tới lúc này tôi mới bàng hoàng nhận ra rằng, Mỵ Châu không bị lừa. Nàng đã chủ động dâng Âu Lạc vào tay Triệu Vũ Vương.
- Hùng Duệ Vương kém cỏi bị An Dương Vương thay thế, giờ An Dương Vương bỏ rơi xã tắc thì cũng không còn xứng đáng làm vua nữa. Miễn dân chúng có đời sống tốt, ai cầm quyền chẳng vậy? Với tình hình lòng dân ly tán, binh lực rệu rã hiện tại, Triệu Vũ Vương chắc chắn sẽ chiếm được Âu Lạc thôi. Nếu còn nỏ Liên Châu, Âu Lạc có thể kéo dài sức kháng cự nhưng để làm gì chứ? Để thêm nhiều người ngã xuống trong khi chẳng thay đổi được kết cục ư? Thất thủ sớm sẽ bớt đi người chết, dân chúng sớm ổn định lại cuộc sống.
Lời Mỵ Châu bỗng làm tôi thoáng nhớ tới ca khúc Imagine của John Lennon, “Imagine there’s no countries… nothing to kill or die for…” Một cô gái ngoài hai mươi thời cổ đại đã có tầm nhìn vượt thời gian như vậy ư? Lòng tôi chợt chùng xuống khi nhớ lại tương lai của Mỵ Châu. Một tấm lòng trải khắp thiên hạ đến thế để rồi ngàn đời sau còn bị chửi mắng, nguyền rủa.
“Không phải mọi anh hùng đều mặc áo choàng.” Tiếng Hạc vang lên trong đầu tôi. “Mỵ Châu hẳn biết điều gì sẽ chờ đợi mình nhưng chấp nhận hi sinh bản thân, không chỉ tính mạng mà cả danh tiếng.”
“Thật bất công!”
“Không quan trọng, hết đời này thì sống đời khác, có ô danh ngàn năm cũng chẳng ảnh hưởng gì cả. Có lẽ ở những kiếp sau, Mỵ Châu sẽ quay lại chửi mắng chính mình ấy chứ.”
Mặc dù không muốn thừa nhận nhưng tôi biết Hạc nói đúng. Từ ngày gặp cậu ta, tôi cảm thấy cuộc sống thực ngắn ngủi, mọi hỉ nộ ái ố, mọi suy nghĩ hành động dù tốt hay xấu khi đứng trước dòng chảy thời gian vô tận đều trở nên nhỏ bé, vô nghĩa.
“Thực ra bản thân cô đang đứng dưới góc nhìn của Mỵ Châu, bị cảm xúc chi phối nên đánh giá thiếu khách quan,” Tiếng Hạc tiếp tục. “Ý định của Mỵ Châu là tốt nhưng đừng quên không phải tất cả đều có cùng tư duy với cô ấy. An Dương Vương người Âu Việt nên đã đối xử bất công với người Lạc Việt, vậy sao cả cô lẫn Mỵ Châu đều không nghĩ tới chuyện Triệu Vũ Vương còn là người Tàu thì dựa vào đâu sẽ đối xử tốt với người Việt nói chung?”
“Nhưng…”
“Cô phải hiểu là khái niệm phi quốc gia phi biên giới chỉ có một nhóm rất nhỏ đồng tình, kể cả thời hiện đại ở các nước phương Tây, huống hồ trong tư duy Á Đông, ý thức về đất nước, dân tộc cao vô cùng. Nên bất kể Mỵ Châu có ý định tốt đẹp ra sao, nhìn từ góc độ nào đó, cô ấy vẫn đã phản bội tổ quốc của chính mình.”
“Mỵ Châu có hiểu chuyện đó không?”
“Cô ấy hiểu rõ hơn cô. Nhưng cô ấy đã hoàn toàn thất vọng về chính quyền An Dương Vương nên quyết định đánh cược. Có lẽ cô ấy cho rằng, Âu Lạc rơi vào tay Triệu Vũ Vương có thế nào cũng không thể tệ hơn tình hình hiện tại được.”
Tôi im lặng, ngầm thừa nhận Hạc nói đúng. Mãi một lúc sau tôi mới rụt rè hỏi tiếp:
“Vậy kết quả ra sao? Triệu Đà có thật sự là một vị vua tốt không?”
“Có!” Tiếng Hạc bình thản đáp. “May mắn là ông ta không hề phụ lòng uỷ thác âm thầm của Mỵ Châu. Sau này Triệu Đà chấn hưng nông nghiệp, phát triển kinh tế, đặt ra luật lệ cai trị mới, rõ ràng và công bằng hơn. Đặc biệt, ông ta không hề có ý định đồng hoá, hay thậm chí can thiệp vào văn hoá người Việt, ví dụ như tục cắt tóc, xăm hình, nhuộm răng đều được giữ nguyên. Nhìn chung, đời sống dân Bách Việt suốt nhiều năm dưới thời Triệu Vũ Vương khá tốt… Khá mỉa mai, điều Mỵ Châu cần biết ơn không chỉ là năng lực trị quốc của Triệu Vũ Vương mà lại chính là tham vọng của ông ta. Ông ta muốn hợp nhất Âu Lạc vào Nam Việt để trở thành một quốc gia lớn, tách khỏi sự quản lý của nhà Hán nên ông ta coi Âu Lạc là quốc gia của mình thay vì thuộc địa, đồng thời cũng không coi người Âu Lạc là ngoại tộc.”
“Vậy là Mỵ Châu đã quyết định đúng?”
“Như tôi nói, may mắn thôi. Đặt ngược lại vấn đề, lỡ Triệu Đà là một hôn quân hà khắc hay mang tư thù với An Dương Vương mà trút xuống bách tính muôn dân của Âu Lạc thì sao?”
Tôi một lần nữa im lặng, câu hỏi này không thể trả lời. Cuộc đời luôn có muôn vàn giả thiết, thật khó để tìm ra câu trả lời tất cả. Nhưng dù thế nào, mệnh đề “nếu như” chẳng bao giờ xảy ra. Và ở đây, may mắn là kết quả thực tế đã không khiến những người trong cuộc phải thất vọng.