Nhật Ký Làm Bụt

Chương 7. Yêu quái đất Phong Khê



Vào những năm cuối thời Hùng Duệ Vương, Văn Lang đã suy yếu lắm. Vua nhu nhược không quản được các Lạc hầu, Lạc tướng, không đưa được quyết sách phù hợp với dân khiến tình trạng bất công, lạm quyền, tự ý bành trướng thế lực diễn ra công khai trong bộ máy nhà nước. Thượng bất chính, hạ tắc loạn, các sắc dân cũng mâu thuẫn, tranh đoạt liên miên. Nguyên khí đất nước suy tổn nghiêm trọng, cùng lúc đó, Tần Thuỷ Hoàng sai Đồ Thư tướng quân dẫn quân chinh phạt phương nam, hiện thực hóa một phần tham vọng thống nhất toàn bộ thiên hạ dưới gầm trời này. 

Giữa lúc đất nước rối ren như vậy, Thục Phán, vị tộc trưởng Tây Âu, một nhánh thuộc cộng đồng Âu Việt đã đứng lên kêu gọi người dân chống Tần. Chiến lược chiến tranh du kích ông phát động tỏ ra rất hiệu quả, vậy là Thục Phán được tôn lên làm thủ lĩnh liên quân Âu Việt và Lạc Việt. Rất nhanh sau đó, cuộc chiến cuối cùng cũng đi tới hồi kết với chiến thắng thuộc về Văn Lang. Đồ Thư phải bỏ chạy về nước. 

Vì sự kính phục đối với Thục Phán, Hùng Duệ Vương đã chủ động thoái vị, nhường ngôi cho ông. Thục Phán lên làm vua, lấy hiệu là An Dương Vương, hợp nhất hai bộ tộc Âu Việt và Lạc Việt, đặt tên mới cho đất nước là Âu Lạc. 

- Gì? Chủ động thoái vị nhường ngôi vì kính phục? - Tôi gào lên. - Anh kể chuyện cho trẻ con nghe đấy à? 

Chẳng là, sau khi chia tay Lang Liêu, tôi chợt nhớ tới giai thoại Mỵ Châu và chiếc nỏ thần, liền đòi Hạc đưa đến thời này. Có điều, tôi vốn dốt đặc cán mai lịch sử nên để có thể hiểu tường tận câu chuyện, tôi bắt Hạc tóm tắt sơ qua từ lai lịch của An Dương Vương trở đi. Nhưng càng nghe tôi càng cảm thấy không đúng lắm. Chứng kiến câu chuyện của Lang Liêu cho tôi biết chính trị không thể đơn giản như vậy được. Chẳng vị vua nào trên đời lại tự nguyện dùng hai tay dâng ngôi báu cho kẻ khác chỉ vì chút cảm tình cá nhân cả. 

- Sử sách viết sao thì tôi kể lại vậy thôi. - Hạc nhún vai. - Lúc ấy chiến tranh, người chết nhiều nên thần tiên bọn tôi bận lắm, ai mà rảnh để ý mấy ông chóp bu đấu đá chứ. Mà kể cả rảnh thì tôi cũng làm việc khác, không đi hóng hớt mấy drama phàm thế đâu. 

Mặt tôi xị xuống. Vốn tôi về đây để chứng kiến câu chuyện tình đẫm lệ chứ không nghĩ sớm đến vụ soán ngôi đoạt vị này, giờ thì đã quá muộn để quay lại. 

- Anh sống đến hàng ngàn năm, trải qua không biết bao nhiêu triều đại rồi, theo anh thì thế nào?

Hạc nhìn tôi cười:

- Tất nhiên làm gì có chuyện Hùng Duệ Vương tự nguyện truyền ngôi chứ. Chẳng qua ông ta đâu có lựa chọn nào khác, Thục Phán lúc ấy có uy tín, có thực quyền, nếu không chủ động thì cũng sẽ bị ép cho phải lui về thôi. 

- Đấy, nói vậy có phải hay hơn không. - Tôi lườm cậu ta.

- Nếu cô đừng quá dốt nát đến nỗi chẳng biết cả những cột mốc lịch sử cơ bản này thì chúng ta đã có thể cùng nhau thảo luận… - Hạc không nao núng đáp, giọng đầy giễu cợt. - Nhưng vì cô đầu đất nên tôi mới phải phổ biến kiến thức sách giáo khoa cho cô.

Tôi bặm môi không thèm nói thêm gì, quay người đi vào. Khi An Dương Vương mới lên ngôi thì mọi thứ chẳng khác thời Hùng Vương là bao, từ kiến trúc, trang phục tới lề lối xã hội. Và dĩ nhiên, tôi vẫn phải tiếp tục dính chặt lấy Hạc để hắn phiên dịch giúp. 

Thời điểm tôi đến, An Dương Vương vừa quyết định rời đô từ Phong Châu xuống Phong Khê, tức Cổ Loa, Đông Anh ngày nay. Hiện tại, Mỵ Châu mới khoảng chín, mười tuổi. Tôi ngạc nhiên phát hiện hoá ra nàng không phải công chúa duy nhất mà trên nàng còn có hai chị gái tên Quỳnh Anh và Phượng Minh. Không biết có phải vì quá xúc động khi được tận mắt ngắm nghía nhân vật lịch sử lừng danh không mà tôi ấn tượng với Mỵ Châu hơn hẳn hai công chúa kia. Cô bé bé xíu, đen nhẻm nhưng đôi mắt nhỏ lấp lánh vẻ thông minh, nhanh nhẹn. Mỵ Châu hoạt bát, lanh lợi và vô cùng tò mò về mọi thứ xung quanh. Tiếc thay, có lẽ cô bé là nỗi thất vọng cuối cùng của An Dương Vương về một hoàng tử nối ngôi nên bị ông đối xử tương đối lạnh nhạt. Mỵ Châu cũng chẳng lấy vậy làm buồn phiền, hàng ngày vẫn như một chú chim nhỏ chạy khắp nơi líu lo ríu rít.

Mặc dù mười tám đời Hùng Vương kéo dài hàng trăm năm đã đóng đô ở Phong Châu, tức Phú Thọ ngày nay nhưng Thục Phán vừa lên ngôi chưa được bao lâu đã tính đến chuyện dời đô. Phải thẳng thắn thừa nhận ông là người có tầm nhìn, dám nghĩ, dám làm, cộng thêm tính tình quyết liệt. Đất Phong Châu quá nhiều đồi núi, ưu điểm dễ phòng thủ khó tấn công thì đổi lại, rất bất tiện cho di chuyển, giao thương. Và với một tài năng quân sự thiên bẩm vừa đánh lui được quân Tần như Thục Phán mà nói, ông đủ tự tin đánh đổi lợi thế quân sự lấy lợi thế kinh tế. Và sau một thời gian sai người đi tìm hiểu, ông đã quyết định chọn mảnh đất Phong Khê cách Phong Châu hơn tám chục cây làm kinh đô mới. Nơi đây bằng phẳng, màu mỡ, có sông chảy qua, rất phù hợp làm nơi định cư lâu dài. Tôi và Hạc đã đến Âu Lạc chính vào thời điểm này.

Thục Phán sai một Lạc tướng trẻ tên Cao Lỗ phụ trách xây Loa thành. Cao Lỗ nhập ngũ từ thuở mười lăm, thuộc lứa binh sĩ đầu tiên tham gia kháng chiến chống Tần. Nhờ mưu trí gan dạ và từng có công cứu giá, anh ta được phong Lạc tướng ngay khi Thục Phán lên ngôi. Ngày được giao trọng trách xây thành Cổ Loa, Cao Lỗ còn chưa tới hai mươi. Ai nấy nhìn vào đều cho rằng thanh niên này tiền đồ vô lượng. 

Tuy nhiên, đời người mấy ai được tròn vẹn mọi lẽ không chút sóng gió. Cao Lỗ có thể là một vị tướng tài, nhưng không phải một kỹ sư giỏi. Vốn chẳng có kiến thức gì về xây dựng, anh ta chỉ đơn giản chọn một khu đất rộng rồi cho người xây thành đắp luỹ. Nền đất ven sông yếu, dễ sụt lún, anh ta cùng các quân sư chưa có kinh nghiệm dùng kỹ thuật đất nện xây công trình lớn nên tính toán độ sâu của móng, vật liệu xây dựng đều sai lệch cả. Vì vậy, thành cứ xây lên là sập, vài lần như vậy khiến Cao Lỗ ngày càng lo lắng, biết rằng nếu không tìm cách giải quyết ổn thoả, tính mạng mình không biết có thể giữ được tới bao giờ.

Đúng lúc này An Dương Vương bỗng xuất hiện ở Phong Khê. Cao Lỗ run rẩy đón ông, thành thật báo cáo tiến độ. Không ngờ Thục Phán nghe xong chỉ gật đầu, không hề tỏ ý trách phạt. Ngược lại, ông ta còn chậm rãi nói:

- Ta biết nguyên nhân, vậy nên mới thân chinh xuống đây một chuyến. 

- Xin Vương thượng chỉ bảo… 

- Là do yêu quái phá thành. - Ông nghiêng người nói, mắt nheo lại. 

Đứng gần đó, tôi suýt ngã ra đất vì kinh ngạc. Trong ấn tượng của tôi, Thục Phán là người tinh tường, sắc sảo, thuộc tuýp chỉ tin vào bản thân chứ không có vẻ gì là “theo hệ tâm linh”. Hẳn Cao Lỗ cũng nghĩ như tôi, trên mặt lộ rõ vẻ hoang mang, cúi đầu:

- Thần ngu dốt không hiểu… 

Thục Phán khẽ mỉm cười rồi mới từ tốn giải thích nhưng lời giải thích của ông ta khiến tôi không thể cười nổi nữa. 

Tất nhiên, An Dương Vương thừa thông minh để biết chẳng có bất cứ con yêu quái nào có sở thích phá thành. Qua khảo sát, ông ta đã đoán ra bảy, tám phần nguyên nhân và đã tự manh nha có phương án đối phó. Còn cái mà ông ta gọi là yêu quái kia, chẳng qua là… 

“Diệt trừ phe phái đối lập?” Tôi hoang mang hỏi lại Hạc qua thần giao cách cảm ngay sau khi nghe cậu ta dịch hết.

“Không hẳn, nếu cô quan sát thì An Dương Vương lên ngôi rất thuận lợi, không ai ra mặt chống đối ông ta cả. Người ông ta muốn diệt trừ là hậu duệ của Hùng Duệ Vương cùng gia quyến vài quan lại cũ đang ẩn cư ở gần đây.”

“Tại sao?” Tôi bàng hoàng. “Họ đã ẩn cư tức là không muốn can dự gì tranh đấu chính trị nữa rồi mà.”

“Đó không phải suy nghĩ của đế vương. Chẳng riêng gì An Dương Vương đâu, bất cứ ai lên ngôi vua đều sẽ tìm cách diệt trừ hậu duệ các triều đại trước đề phòng hậu hoạ.”

Theo chỉ dẫn nghe lỏm được từ Thục Phán, tôi lần mò tìm gặp những người kia. Hoá ra nơi họ ở không quá xa khu vực Loa Thành tương lai. Không đến thì thôi, tới nơi tận mắt chứng kiến, tôi bất giác cay cay sống mũi. Đừng nói là tranh đoạt chính trị, đến cự cãi hàng ngày, họ còn rất hạn chế. Như thể biết thân biết phận, những người lẽ ra là hoàng tử, công chúa ngày trước đều sống lặng lẽ, thu mình hết mức có thể. Tôi vào tận trong nhà họ theo dõi mấy ngày liền, bí mật lục tung từng góc nhà thì không tìm thấy bất cứ dấu hiệu gì cho việc họ muốn khởi binh đòi lại ngôi báu. 

Tôi tuyệt đối không cam lòng nếu những con người hiền lành này phải đầu rơi máu chảy chỉ vì lòng nghi kỵ không căn cứ của một cá nhân nào đó. Sinh ra là hậu duệ của triều đại cũ đâu phải lỗi của họ. 

Vấn đề là tôi không biết tiếng Việt cổ nên kể cả có thể hoá ra Bụt, tôi cũng đâu nói gì được với họ. Bụt mà câm thì thuyết phục nổi ai? Vậy là tôi bất chấp mọi lời mỉa mai của Hạc mà vật nài cậu ta thay tôi ra mặt làm Bụt. Để đạt được mục đích, tôi không màng mặt dày nịnh nọt, kêu là mình muốn thấy một hình tượng Bụt thật lung linh chuẩn chỉ để làm mẫu. Đáng tiếc, Hạc thẳng thừng từ chối, nhưng nhờ tôi đeo bám quyết liệt, cuối cùng cậu ta miễn cưỡng đồng ý giúp tôi “lồng tiếng”. Tức là tôi vẫn hoá thành Bụt còn Hạc sẽ tàng hình đứng sát bên phát ngôn thay. 

Mọi chuyện diễn ra khá suôn sẻ. Đầu tiên, tôi tới thông báo cho những gia đình kia rồi vạch kế hoạch để họ sớm chuẩn bị và phối hợp. Tôi cùng Hạc dùng phép thuật đào một hệ thống đường hầm ở mỗi nhà, quy về một mối kéo dài hơn cây số dẫn vào rừng. Bề ngoài tất cả vẫn sinh hoạt như mọi ngày tránh để mật thám của Thục Phán phát hiện ra điều bất thường. Mặt khác, tôi tiếp tục dùng tạo hình ông Bụt ra gặp Thục Phán tự xưng là Thần Kim quy, sứ giả Thanh Giang. Tôi và Hạc nương theo tình tiết truyện, chủ động đề nghị giúp. Là người sáng tác ra chuyện yêu quái nhảm nhí, dĩ nhiên An Dương Vương không tin nhưng không dám phản bác bởi đâu thể tự lột mặt nạ chính mình. Hơn nữa, việc tôi biểu diễn vài phép thuật vặt vãnh đã khiến ông ta hoàn toàn câm nín. 

Đến ngày đã định, tôi hoá phép ra sương mù dày đặc bao phủ toàn bộ xóm nhỏ. Đã được dặn trước, những người kia thấy sương mù là lập tức mang theo tư trang chui xuống hầm chạy thẳng vào rừng rồi từ đó bí mật xuống thuyền, di chuyển bằng đường sông sang vùng khác. Cùng lúc, tôi nhanh tay lấp hết hệ thống đường hầm đảm bảo bí mật. Trong đám sương dày, tôi làm ít hào quang toả rực rỡ để đứng từ xa cũng có thể nhìn thấy. Sau khi tính toán rằng họ đã rời đi an toàn, tôi cho sương tan đi rồi quẳng xuống trước mặt Thục Phán con gà trống trắng chuẩn bị từ trước.

- Vương thượng, đây chính là yêu quái. - Hạc tàng hình đứng sát bên tôi nói. 

Mặt Thục Phán đầy tức tối nhưng chỉ đành im lặng gật đầu, nói vài câu cảm ơn xã giao. Chuyện yêu quái là ông ta bịa ra, tôi đã thể hiện phép thuật chứng minh tư cách làm thần của mình khiến ông ta không cách nào phản bác. Quan trọng hơn, việc tôi - Thần Kim quy đã ra mặt bảo vệ những gia đình kia khiến Thục Phán dù không cam lòng cỡ nào cũng đành ngậm bồ hòn làm ngọt, biết rằng chống đối với thần chẳng có lợi ích gì. 

Chuyện yêu quái phá thành Cổ Loa cứ thế kết thúc. 

Phải nói là tuy tàn nhẫn, mưu mô nhưng không thể phủ nhận Thục Phán là người cực kỳ có năng lực. Mới xuống Phong Khê có vài ngày, ông ta đã lập tức nhận ra nguyên nhân thành bị sập là do đâu. Ông ta cùng vài thợ xây giàu kinh nghiệm ngồi lại bàn bạc, cùng ra thực địa khảo sát nền móng, nghiên cứu chất liệu xây dựng và quan trọng hơn, vẽ lại bản thiết kế. Cuối cùng Thục Phán chốt phương án xây thành Cổ Loa hình xoắn trôn ốc, một quyết định rất phù hợp với hoàn cảnh thực tế. Việc xây thành theo hình vòng cung sẽ giúp chịu lực tốt hơn rất nhiều so với xây thẳng. Quả nhiên sau đó mọi chuyện hết sức thuận lợi. Thục Phán còn lợi dụng con sông gần đó, cho dẫn nước về làm hào bảo vệ quanh thành. 

Thành Cổ Loa ra đời là một bước tiến lớn trong công tác quản lý xã hội so với các đời Hùng Vương. Thời vua Hùng, người ta sống rải rác, tiện đâu cất nhà ở đó nhưng sau khi chuyển từ Phong Châu về Phong Khê, kinh đô đã thay da đổi thịt, ra dáng hơn hẳn. Thành Cổ Loa rộng hơn tám kilomet vuông, bằng khoảng một quận lớn thời nay, xây thành ba vòng rõ ràng. Vòng trong cùng, nhỏ nhất là nơi ở của An Dương Vương cùng hoàng thất, vòng tiếp theo là các quan lại và vòng ngoài cùng là nơi dân cư sinh sống. Nhờ tầm nhìn của Thục Phán, kinh đô đã được tổ chức, sắp xếp rõ ràng, sáng sủa, đâu vào đó hơn rất nhiều so với xã hội thuở sơ khai trước kia.

Những ngày tháng tiếp theo Âu Lạc khá yên bình. Tôi ở lại bên Mỵ Châu, kiên nhẫn chờ nam chính lên sàn. 


Bình luận đoạn văn

Bình luận

Thiết lập văn bản

Xem trước

Nội dung sẽ hiển thị như thế này

Chọn font chữ

Cỡ chữ

12px 30px