Chương 3. Ăn một quả, trả cục vàng
Hạc chỉ đường cho tôi nhằm hướng Tây Nam bay tới. Do thuận chiều gió nên tôi không mấy tốn sức, cứ thế bay liên tục, chỉ dừng lại để tìm quả dại ăn, chưa đầy hai ngày đã về tới đất liền. - Chào mừng cô về quê hương Đại Việt. Tôi hạ xuống mép đất, rũ cánh đứng nghỉ. - Đói quá. - Tôi buột “mỏ”. Đây là sai lầm lớn của tôi. Lẽ ra tôi cần phải chờ quay về hình người mới có thể nói. Hạc tái mặt giải thích rằng khi tôi còn trong hình dạng động vật mà cất tiếng thì sẽ tổn thương pháp lực rất nặng và thời gian chờ để “sạc” lại rất khó đoán, có thể kéo dài tới cả tuần hoặc hơn. Quả đúng như vậy, dù tập trung suy nghĩ cỡ nào để trở lại hình dạng thần tiên tỉ tỉ tôi cũng không trút đi được một chiếc lông vũ trên người chứ đừng nói tới mọc ra tay chân mặt mũi. - Vậy lỡ tôi tỉnh thì biết làm sao? - Tôi gục gặc đầu, rầu rĩ hỏi. - Không sao, ngay khi cô có dấu hiệu tỉnh lại thì dù ở không thời gian nào cô cũng sẽ được hút về ngay. - Còn anh thì bao giờ khôi phục? Hạc khua tay, từ lòng bàn tay cậu ta tỏa ra hào quang nhè nhẹ. - Vậy giờ tốt nhất là anh biến thành con rận bám lên người tôi đi chứ cõng anh vừa nặng, vừa kỳ quặc. Tôi không muốn bị đuổi đánh nữa đâu. Tôi loáng thoáng nghe tiếng Hạc chửi tục nhưng có vẻ như không còn lựa chọn nào tốt hơn, nháy mắt cậu ta liền biến mất. Vừa lúc đó trong đầu tôi truyền tới một giọng nói. “Đây là thần giao cách cảm. Cô muốn nói gì với tôi thì trong đầu cứ hướng về tôi là được, như thế tiện hơn.” “Đồ tiểu tiên cẩu thả, tắc trách làm ta giờ phải lang thang với đủ trò nhảm nhí giết thời gian trong lúc chờ chết.” “Pháp lực của cô là tôi ban cho, tin tôi rút lại cho cô làm kiếp chim luôn không? Bị giết ở đây thì mãi mãi khỏi siêu sinh.” Giao tiếp kiểu này không biểu đạt được cảm xúc như nói chuyện thông thường nhưng sự tức giận lồ lộ kia thì không cần thêm ngữ điệu để thể hiện. Tôi sải cánh lượn sâu về phía đất liền cho tới khi thấy các cột khói bốc lên, dấu hiệu của nơi có người ở. Từng dãy nhà tranh lấp ló như bên Triều Tiên nhưng thiết kế hơi khác với vật liệu chủ yếu là tre nứa nên cảm giác thoáng hơn những ngôi nhà vách đá dày kiên cố kia. Tôi bất giác nhớ tới những tòa cao ốc ngột ngạt ở thành phố, vào mùa hè không thể sống nổi nếu thiếu điều hòa. Mũi chim của tôi hít căng lồng ngực không khí trong lành, mát mẻ, một thứ quá ư xa xỉ ở thời đại tôi sinh ra. Nhờ thị lực siêu phàm của loài chim ưng, tôi có thể đứng từ đằng xa mà quan sát tỉ mỉ được hết ngôi làng. Cảm giác đầu tiên của tôi là… thất vọng. Khác các nam diễn viên đẹp trai phim cổ trang, tầm vóc người Việt cổ rất nhỏ, tôi đồ rằng nếu hóa lại thành người, có lẽ tôi sẽ cao hơn tất cả dân trong làng. Trang phục cả đàn ông lẫn đàn bà đều có màu nâu, đen khá sạch sẽ nhưng buồn tẻ. Phụ nữ mặc yếm, bên ngoài khoác áo cánh dài, váy đụp có dải dây buộc giữ quanh hông. Tôi âm thầm cảm thấy may mắn khi sinh ra trong thời hiện đại với vô vàn các loại áo ngực nâng đỡ giúp tạo hình cho những ai sinh ra không có được C cup. Nếu các cô gái thời hiện đại không có phẫu thuật thẩm mỹ hay áo ngực mà mặc yếm như thế này thì khéo quá nửa sẽ lộ nguyên hình kiếp “màn hình phẳng”. Và điều làm tôi thấy rõ nhất sự khác biệt thẩm mỹ giữa người hiện đại và người Việt cổ là khi người ta cười. Lúc đầu tôi còn tưởng dân ở đây bị… móm. Hóa ra không phải, mà do tất cả đều nhuộm răng một màu đen huyền, khiến tôi nhớ lại câu thơ “Những cô hàng xén răng đen, cười như mùa thu tỏa nắng”. Nhưng răng đen thì có chứ tỏa nắng thì không, màu đen sao bắt sáng được như trắng? Thời nay, đặc biệt là ở thành phố chẳng còn kiếm đâu ra một ai nhuộm răng đen, sách vở thông tin hạn chế còn những bộ phim cổ trang thì tạo hình nhảm nhí rập khuôn phim Trung Quốc khiến cho hình ảnh răng đen đã trở nên vô cùng xa lạ với đám thanh thiếu niên, điển hình là tôi. “Sao không vào làng đi, thấy cô kêu đói mà, đứng đây mãi làm gì?” Tiếng Hạc vang lên trong đầu, cắt ngang dòng suy nghĩ lan man của tôi. “Thôi, sợ người ta nghĩ tôi là yêu quái hoặc không lại bắn hạ để thết tiệc cả làng thì khổ. Chờ đêm xuống rồi vào.” Vừa lúc đó phía xa xa xuất hiện một người đi ngược về phía chúng tôi, tôi vội lùi vào một lùm cây núp kỹ. Hạc hiện hình, đứng ra giữa đường đề phòng người kia nhìn thấy tôi. Thế nhưng khi anh ta tới gần, chúng tôi mới biết mình đã lo thừa bởi anh ta vừa đi vừa hờ khóc, không để ý gì tới xung quanh. Người đàn ông này vóc dáng nhỏ thó, gầy gò, quần áo sờn rách hết cả. “Anh thử bắt chuyện xem vì sao người kia lại khóc?” “Cô thích thì tự đi mà làm, sao bắt tôi?” Thanh âm trong đầu tôi cấm cẳn. Nhưng sau đó Hạc vẫn chặn đường người kia, hỏi han tử tế. - Tôi… tôi… - Anh ta nấc lên. - gia đình tôi nghèo quá, hôm nay nhà hết sạch gạo, vợ con tôi đang đói nên tôi đi tìm vay nhưng không ai cho cả. - Thế anh không có cha mẹ, anh chị em, họ hàng gì sao? - Thầy u tôi mất hết rồi, giờ tôi đang trên đường sang nhà anh cả nhưng sợ anh sẽ đuổi đi. Hạc đợi anh ta đi khuất rồi biến lại thành rận núp vào người tôi. Tôi bay lên cao theo dõi người kia, giờ đã tới cửa nhà anh trai. Tuy không nghe thấy gì nhưng tôi có thể nhìn rõ từng cử chỉ hành động lẫn nét mặt của họ. Thoạt tiên người anh nhíu mày nghe người em trình bày rồi nhăn mặt ra chiều giận dữ lắm. Anh ta vừa đánh, vừa đuổi người em ra khỏi nhà mặc cho em van khóc, nài kéo. Nỗi bất bình bùng lên trong tôi. Chỉ cần nhìn thoáng qua có thể thấy gia cảnh người anh khấm khá hơn rất nhiều, vậy mà tàn nhẫn không giúp em mình được một bữa ăn. Tôi chỉ muốn lao tới, sải cánh đập anh ta một trận nhưng lo ngại lớn chuyện nên bấm bụng kiềm chế. Tôi bực bội cả một buổi chiều, đến mức không buồn nói câu nào với Hạc. Tôi chỉ tạm quên đi nỗi khó chịu này khi đêm xuống, và dạ dày tôi kêu réo. “Tôi đói quá, mờ cả mắt rồi.” “Bay vào làng kiếm xem có gì ăn không.” Hạc lên tiếng. Chắc cậu ta đã hút no máu từ người tôi, giờ mới khoan khoái tỏ chút quan tâm tới vật chủ. Tôi sải cánh, nhằm hướng làng bay tới. Bay vòng vòng tới cuối làng, tôi sung sướng nhìn thấy một cây khế trĩu quả. Vị giác của chim không phức tạp như người nên chỉ cần là thứ ăn được là đủ tốt rồi. Hình ảnh cây khế gợi cho tôi một ấn tượng nào đó, chỉ có điều tôi đã quá đói để suy nghĩ, vội sà xuống mổ lấy mổ để. Đất ở đây hẳn rất tốt nên khế vừa to vừa ngọt. Thế nhưng, danh xưng Hậu “đậu” của tôi không phải bỗng dưng mà có. Tôi quên mất việc cành khế vốn rất giòn, giờ khối lượng cơ thể tôi lại lớn nên chỉ mổ được vài quả thì cành cây dưới chân gãy tan khiến tôi mất đà ngã xuống đất, tạo ra một tiếng động kinh hồn. Tôi còn chưa kịp phủi cánh bay lên thì một mũi tên bay sượt qua làm tôi giật thót. Từ góc tối đằng sau cánh cửa, một đôi vợ chồng đang trừng mắt nhìn tôi vẻ sợ hãi. Người chồng tay cầm ná lăm lăm nhắm vào tôi. Định thần quan sát tôi nhận ra anh ta chính là người đàn ông lúc chiều tới nhà anh trai xin ăn và bị đuổi về. Trong lúc cấp bách tôi chợt nhớ ra cái ấn tượng lờ mờ khi thấy cây khế lúc nãy là gì. Và trước khi anh ta kịp bắn tiếp phát thứ hai, tôi gầm lên, tiếng vang rền: - Ăn một quả, trả cục vàng, may túi ba gang mang đi mà đựng. “Cô lấy đâu ra vàng mà trả? Đến tôi còn không hóa được ra vàng kia mà?” Thanh âm trong đầu tôi dường như đượm vẻ giễu cợt. “Nhớ ra câu này thì nói đại thôi, chứ không lẽ để bị bắn chết?” Trong lúc hai vợ chồng kia quỳ sụp xuống run rẩy vái lạy, tôi ăn vội thêm vài quả khế rồi bay đi. Cả đêm hôm đó tôi vắt óc nghĩ xoay đâu ra vàng trả cho họ. Mặc dù tôi biết là chỉ cần bay khỏi đây, chờ vài ngày để pháp lực hồi phục thì sẽ chẳng còn ai nhận ra tôi nên tôi có giữ lời hứa hay không chẳng mấy quan trọng, nhưng tôi vẫn muốn giúp đỡ họ. Tuy gia cảnh nhà tôi trước giờ không quá thiếu thốn, tôi có thể mường tượng ra nỗi khổ của việc chạy ăn từng bữa. Hơn nữa, tôi được Hạc ban cho phép màu để cứu nhân độ thế, tôi không thể làm lơ trước cảnh khốn khó ngay trước mắt mình. Ngày trước tôi đã sống một cuộc đời mờ nhạt, giờ tôi không muốn tiếp tục làm một thần tiên vô dụng. - Này, nếu tôi nhớ không nhầm thì kim cương là một dạng carbon, vậy có thể dùng phép màu tạo ra đúng không? Hạc gật đầu, đưa tay ra, chớp mắt một cái, trên tay cậu ta đã là viên kim cương cỡ lớn trong vắt sáng lấp lánh. Nhưng cậu ta nhếch mép: - Thời này kim cương hoàn toàn vô giá trị… - Hạc phẩy tay, viên kim cương biến mất trong sự tiếc nuối vô thức của tôi. - Vậy còn hồng ngọc, ngọc lục bảo thì sao? - Tôi háo hức kêu to. - Xem nào… - Hạc nhíu mày. - công thức hoá học của ngọc lục bảo là Be3Al2(SiO3)6 cùng tạp chất crom, vanadi còn hồng ngọc là Al2O3 lẫn crom. Ở đây tôi kiếm đâu ra crom, vanadi, nhôm, silic hay beryllium mà hoá phép? Mặt tôi xịu xuống, chẳng thiết nói thêm gì. Bụng tôi bỗng kêu rột một cái làm tôi lại nhớ đến những quả khế ngọt ngon lành kia. Khế… - Eureka! - Tôi đập cánh reo lên. - Có cách kiếm tiền rồi. - Cách gì? - Hạc đang ngồi thiền, nghe tiếng tôi thì hé mắt nhìn. - Định xông vào phủ quan ăn cướp à? Coi chừng bị bắn chết. - Vớ vẩn. - Tôi phẩy cánh. - Tôi bảo có cách là có cách. Sáng sớm hôm sau, tôi bay tới nhà kia, hai vợ chồng họ đã đứng ngoài sân đợi sẵn. Trên tay anh chồng là chiếc túi dài cỡ ba gang tay, bề ngang khá rộng. - Bỏ đầy khế vào túi rồi leo lên lưng ta. - Tôi đanh thép ra lệnh. Sau đó tôi nhằm hướng Đông Bắc bay tới. Tôi quay trở lại Triều Tiên. Nhờ mấy quả khế, tôi đã nhớ ra khế là thực phẩm đặc sản riêng có của vùng nhiệt đới. Thời này lạc hậu, giao thương chưa phát triển nên xứ hàn đới như Triều Tiên hẳn chưa nhìn thấy khế bao giờ. Còn tại sao tôi không bay hướng khác thì vì nhiều lý do. Tôi dốt địa lý lẫn lịch sử nên không rõ điều gì sẽ chờ mình ở Trung Đông lẫn châu Âu xa xôi. Ngoài ra, miền nam Trung Quốc cũng có khế đâm tôi sợ người phía bắc cũng đã biết loại hoa quả này thì túi khế của tôi sẽ mất giá. Vậy nên tôi chọn quay trở lại Triều Tiên. Thứ nhất tôi đã quen đường bay và thứ hai, quan trọng hơn, người dân ở đó đã biết sự tồn tại của tôi. Khác với thái độ thù địch lần trước, lần này tôi vừa đáp xuống thì dân làng vội vàng chạy ra, thi nhau vái lạy. Như đã bàn bạc từ lúc ở nhà, Hạc dùng thần giao cách cảm “nói” với dân làng rằng tôi là chim thần, còn người đàn ông kia là sứ giả đại diện của nhà trời mang vật phẩm tới ban cho dân làng, yêu cầu họ dâng lễ vật tạ ơn. Những người giàu nhất làng vội mang tới cơ man nào là vàng bạc để đổi lấy mấy quả khế chín. Anh chàng kia theo lệnh tôi liền xuống nhặt nhạnh đầy vàng bạc vào túi rồi leo lên lưng tôi quay về. Tôi vui cả một ngày. Hóa ra đây là cảm giác khi làm việc tốt. Giờ tôi mới phần nào hiểu vì sao nhiều người khi đã có cuộc sống dư dả lại ra sức làm từ thiện. Ánh mắt biết ơn, sùng bái của vợ chồng nhà kia có lẽ tôi sẽ nhớ suốt đời. Sau khi hồi phục pháp lực, tôi rủ Hạc ở lại vài hôm vãn cảnh. Để tránh những rắc rối không đáng có, chúng tôi chọn cách tàng hình. Vốn dĩ dốt lịch sử, lại thêm bản tính không ham học hỏi, tôi không buồn tìm hiểu chúng tôi đang ở thời đại nào. Nhưng về cơ bản, cuộc sống người dân ở đây tương đối quy củ, quan binh khá gần dân chúng nên tình trạng trộm cắp, cướp bóc không đến mức nhan nhản. Cách người ta nói năng rất có trên dưới, trước sau, khách sáo hơn thời hiện đại khá nhiều. - Xin các ông, các ông tha cho con. Một ngày đang lang thang trong làng, chúng tôi nghe thấy tiếng van khóc liền vội đi về hướng đó. Đến nơi tôi mới nhận ra đây chính là ngôi nhà của người anh trai hôm nào. Không còn vẻ hách dịch như trong ấn tượng của tôi, anh ta cùng vợ con ôm nhau run rẩy, van xin một đám người mặt mũi hung tợn đang ra sức xô đẩy cả nhà ra ngoài. Chống chẳng đặng, xin không xong, cuối cùng cả nhà ba người lếch thếch kéo nhau rời đi, vừa lê bước vừa khóc ròng. Thoạt tiên tôi rất hả hê trước cảnh này, cho rằng ác giả ác báo nhưng rồi nhìn đứa trẻ lại chạnh lòng. Dù người lớn có tội lỗi gì thì trẻ con vẫn phải được đối xử tử tế. Tôi và Hạc hiện hình tới đỡ ba người kia dậy, dìu ra gốc đa đầu đình, ân cần hỏi han. Sau đó, tôi cảm thấy thật may mắn vì chúng tôi đã không rời đi từ sớm. |
0 |