Con hầu đến vợ lẽ
Hỡi ơi một kiếp con hầu
Khôn ranh suy tính dưới lầu người ta.
Đờn ông quen thói trăng hoa
Đưa thân nuôi miệng bước qua cửa vàng.
Ai ngờ phận lẽ chẳng sang
Hầu bà ấm ức, chồng chung chẳng màng.
***
Trời về khuya, cơn mưa lớn hồi chiều cuối cùng cũng chịu dứt, mây đen tan bớt để lộ vầng trăng khuyết treo lơ lửng trên hàng chuối. Con đường đất dẫn về phía nhà họ Lữ sau trận mưa trở nên lầy lội hơn thường ngày, bánh xe ngựa lăn qua để lại hai vệt lún sâu trên mặt đất. Ông Phú ngồi trên xe ngựa, ngửi mùi đất sau mưa ngai ngái, nồng ẩm quyện với mùi lúa non đương kỳ trổ đòng đưa tới, khiến ông phải nhăn mặt khịt mũi mấy lần.
Trên đoạn đường, gió lùa ngang cánh đồng làm đám lúa nghiêng rạp, cọ vào nhau nghe rì rào từng lớp như sóng xô. Từ sau những bụi chuối còn đọng nước mưa, tiếng ễnh ương kêu “ồm ộp” từng chập vọng ra. Thỉnh thoảng lại chen thêm tiếng côn trùng râm ran dưới đám cỏ dại, dai dẳng đến nhức óc. Bao nhiêu thứ âm thanh hòa lẫn giữa đêm khuya khiến ông Phú càng nghe càng thêm phiền lòng. Ông gác ngang tay lên thanh gỗ, cau mặt nhìn ra ngoài.
Nay lúa vừa trổ đòng, gặp trận mưa lớn, trông đám tá điền ai nấy cũng nơm nớp bất an. Dạo mắt nhìn, người thì thắp đèn hối hả đi thăm bờ ruộng xem nước có tràn bờ hay không; còn có kẻ tranh thủ chèo xuồng men theo mấy nhánh rạch nhỏ để tháo bớt nước ra ngoài. Hai tai vang tiếng tá điền gọi nhau í ới, chúng nương theo con nước, nghe vọng cả một đoạn đường.
Bọn họ lo giữ ruộng giữ lúa, sợ công sức mấy tháng trời bị một trận mưa làm hư hao. Mà ông Phú lúc này, coi bộ cũng chẳng khá hơn bao nhiêu. Bởi dạo gần đây, chuyện làm ăn của ông không còn thuận buồm xuôi gió như trước.
Nhà họ Lữ nhiều năm nay có mấy hiệu cầm đồ lớn nhất nhì vùng, tiền bạc cho vay trải sang tận mấy xứ lân cận. Từ chủ ghe vựa lúa, chủ lò gạch, cho đến mấy tiệm thuốc Bắc ngoài chợ huyện... Ai cần xoay vốn lúc giáp vụ, hay muốn cầm tạm giấy đất, nữ trang để gỡ khó, phần lớn đều qua tay ông.
Mấy ngày nay, chuyện Ngọc Vân mang số khắc gia can nên bị huỷ hôn chẳng biết từ đâu truyền ra, len lỏi tới tận mấy bàn trà, quán rượu ngoài chợ huyện. Bởi vậy, dù chưa ai rõ thực hư ra sao, không ít người đã bắt đầu sanh lòng e ngại. Kẻ có tiền thì thà cắn răng trả thêm lãi cũng quyết chuộc lại phần tài sản đã cầm. Kẻ chưa đủ sức chuộc thì lén quay sang dèm pha, thêm thắt đủ điều.
Vài chủ ghe từng quen vay bạc bên nhà họ Lữ giờ cũng lân la dò hỏi sang chỗ khác. Đặc biệt là hiệu cầm đồ của gã phú hộ ở bên kia rạch, nhân cơ hội liền thêm mắm dặm muối, bóng gió rằng nhà họ Lữ đang gặp vận hạn, dây vô chỉ tổ hao tài tán lộc. Thành thử, tiệm cầm đồ tuy vẫn còn khách ra vào nhưng tiền bạc xoay vòng không còn thông thuận như trước, tiền lời cũng vì thế mà hụt đi thấy rõ.
Tuy vậy, những mối làm ăn từ thời bà Diệp lại khác. Có lẽ bọn họ vẫn nhớ tình nghĩa trước đó, lúc khó khăn cũng chưa từng bị bà Diệp xua đuổi hay bạc đãi. Bởi vậy, giữa lúc nhà họ Lữ bị người đời quay lưng, những mối quen ấy vẫn chưa ai nỡ phủi tay bỏ đi.
Nhưng càng nghĩ, lòng ông Phú càng thêm nặng nề. Chuyện làm ăn đâu thể chỉ trông chờ vào chút tình nghĩa cũ, ai biết lòng người trước sau được bao lâu. Bao năm nay, ông ta sống trong sự nể trọng, đi tới đâu cũng có kẻ chào người hỏi. Vậy mà chỉ vì một quẻ số của con gái trong nhà, bao nhiêu uy tín, cơ nghiệp gây dựng bấy lâu, nay đã có nguy cơ bị lung lay.
Thình lình, ông ngồi thẳng dậy, trong bụng cộm lên một chuyện khác. Nếu chỉ là lời thầy bói hôm bữa bị người ngoài nghe được rồi truyền miệng, ông còn cho qua. Đằng này, chuyện con Vân bị huỷ hôn làm sao người ngoài biết được, còn kháo nhau úp mở chuyện nhà họ Đinh bị liên luỵ?
Ông Phú nghiến răng kèn kẹt, quai hàm bạnh ra đầy căng thẳng như đang kìm nén cơn tức giận muốn bùng phát. Gió ngoài đồng thốc qua làm ngọn đuốc của đám tá điền lập loè mấy lượt, hắt ánh lửa nhập nhoè lên gương mặt sa sầm của ông. Xem ra, trong cái nhà này có kẻ không biết giữ mồm giữ miệng rồi.
Nghĩ tới ánh mắt khoái trá, lộ rõ vẻ hả hê của những kẻ ngoài chợ hồi chiều, đôi mắt ông dần lạnh lùng hơn bao giờ hết.
Xe ngựa vừa dừng trước cổng, ông Phú đã chống tay bước xuống. Đế giày vừa chạm đất liền bị dính lên một lớp bùn nhão, tức thì đôi giày trở nên nặng trịch. Ông cúi đầu, nhìn đôi giày Tây luôn bóng lưỡng nay đã lấm lem, vài mảng bùn còn bám dọc theo viền da khiến mặt ông đanh lại.
Từ xa, ông đã thấy bà Xuyến đứng cùng con Sen ở một góc, như đang ngóng ai đó. Ông chau mày, thảng hoặc mới thấy bà đêm hôm còn đứng ngoài cổng chờ đợi như vậy. Ông đinh ninh trong nhà lại có chuyện gì rồi, cơn bí bách trong lòng vì thế mà tăng thêm một bậc.
“Đêm hôm khuya khoắt, bà đi ra đây làm chi?” Hỏi bà, rồi ông lại trách cứ con Sen. “Trời đổ sương gió, mày còn không biết khuyên bà vô nhà. Lỡ bà đổ bệnh là tao xử tội mày trước tiên.”
Nghe ra ông đang gắt gỏng. Bà Xuyến ngầm đoán, chuyện mình sai con Sen rải tin đồn mấy hôm trước, e rằng đã có tác dụng. Lòng dạ bà chợt phấp phỏng tựa lửa âm ỉ cháy dưới lớp tro, bàn tay cầm khăn khẽ siết lại, giọng bà nhỏ nhẹ:
“Nay mưa lớn mà tôi thấy mình chưa về, đường sá lại trơn trượt. Tôi sốt ruột quá mới biểu con Sen đứng ở đây chờ mình cùng tôi, mình trách nó tội nghiệp.”
Đoạn, bà quay sang Sen sai bảo: “Bây vô bếp chuẩn bị nước ấm cho ông ngâm chân, rồi bê chén yến tao nấu vô buồng cho ông tẩm bổ. Dặn đám người ở dưới làm nóng lại đồ ăn rồi đem vô đây.”
Thấy Sen rời đi, ông Phú mới trả lời bà vợ. Vừa nói, ông vừa bước qua cổng: “Cửa tiệm hôm nay xảy ra chút chuyện.”
Thấy sắc mặt ông hoà hoãn, bà như đoán được đôi phần. Đi theo ông một quãng đến bậc thềm, bà mới dè chừng hỏi:
“Ngoài tiệm có chuyện chi hả mình? Sao tôi thấy mình mệt mỏi quá.”
Ông Phú cởi phắt đôi giày Tây dính bùn, đoạn xỏ đôi guốc mộc bước vô nhà trong, rồi mới cất tiếng:
“Ừ... Ngoài chợ bây giờ đầy tiếng dèm pha con Vân là đứa khắc gia can. Không biết đứa nào ác miệng đồn nhà mình gặp vận hạn. Ai nấy nghe xong tránh còn không kịp.”
Vừa ngồi xuống bộ trường kỷ cẩm lai bóng lộn ở giữa căn buồng, ông đã kéo mạnh cổ áo như nuốt không trôi cơn bực dọc trong lòng. “Hôm nay, mấy mối vay bạc lần lượt kéo tới đòi chuộc trước hạn. Tôi còn thấy lão Tứ lò gạch đi vào hiệu cầm đồ của gã Thêm, coi bộ là muốn đổi mối rồi.”
“Ấy chết… phường nào mà thất đức dữ vậy không biết.” Bà Xuyến đi theo phía sau, ân cần giúp ông cởi chiếc áo vét, giọng nghe như đang lo lắng thiệt tình. “Mình giải quyết chuyện ngoại tiệm tới tối mịt mới về, bảo sao trong người không mệt cho được.”
Ông Phú cười nhạt một tiếng, mặt mày u ám nhìn theo hướng bà Xuyến: “Bà lo mà quản chặt cái đám đầy tớ trong nhà đi. Hồi xưa, bà cũng theo Ngọc Diệp phụ giúp nhiều, bộ bà không học được chuyện quán xuyến nhà cửa hay sao? Tôi giao hết nhà cửa cho bà, mà bà để tụi nó bép xép khiến chuyện làm ăn của tôi đổ bể hết ráo.”
Bàn tay đang chỉnh cổ áo của bà Xuyến khựng lại trong thoáng chốc, chiếc nhẫn hột xoàn ở ngón giữa chạm vào móc treo kêu khẽ một tiếng. Móng tay bà bấu chặt vào chiếc áo vét đến mức nhăn lại một góc. Chỉ cần nghe tới tên Ngọc Diệp, trong lòng bà lại như có cây gai đâm ngang cổ họng. Người chết đã xuống mồ bao nhiêu năm, vậy mà hễ trong nhà xảy ra chuyện gì, ông Phú vẫn quen miệng đem bà ra so sánh với bà ta.
Bà Xuyến cúi đầu thật thấp, giấu đi vẻ ganh ghét nơi đáy mắt, tay nhanh chóng treo xong chiếc áo. Khi quay lại một lần nữa, gương mặt bà đã đầy nỗi tủi thân.
“Mình nói vậy thì tội cho tôi quá. Tôi ở với mình từng ấy năm, cực khổ lo trước lo sau cho cái nhà này, đâu phải mình không thấy.” Nói tới đây, bà Xuyến quay mặt đi, vẻ mặt tấm tức. “Tôi cũng cố gắng học hỏi chị lớn dữ lắm, nhưng sao mà tôi bằng chị ấy được. Vốn dĩ chị lớn đã là tiểu thơ danh giá, từ nhỏ được học cách quán xuyến nhà cửa rồi. Còn tôi…”
Càng nói giọng bà càng nhỏ lại. Thấy bà nghẹn khuất như vậy, ông Phú cũng chẳng muốn nói thêm, chỉ bực dọc cầm tách trà hớp một ngụm, rồi hạ giọng:
“Tôi không có ý nói bà không bằng Ngọc Diệp, tôi cũng đâu để bà thua thiệt chi trong cái nhà này. Nhưng nay xảy ra chuyện, tôi sốt ruột, muốn bà để ý thêm một chút. Coi chừng bị đám đầy tớ qua mặt, riết rồi bị nó leo lên đầu lên cổ.”
Quả nhiên, thấy ông Phú dịu giọng, bà Xuyến cũng thôi làm mình làm mẩy. Bà lặng lẽ đi lại rót cho ông một tách trà gừng. Nước trà nóng vừa nghiêng khỏi miệng ấm, làn khói trắng đã lững lờ tỏa lên mang theo mùi gừng cay nhè nhẹ.
Đẩy tách trà tới trước mặt ông Phú xong, bà lại vòng ra sau lưng, chậm rãi xoa bóp hai bên vai cho chồng. Một lúc sau bà mới khẽ thở ra.
“Nghe mình nói, lòng tôi cũng rối như tơ vò chớ có sung sướng chi đâu.” Ngừng một lát, bà tiếp lời. “Mấy cửa hiệu cầm đồ đều bị ảnh hưởng hết hả mình, còn tiệm vàng thì sao hả mình? Vả lại, mình nghi ngờ có đứa bép xép, vậy có cho người dò thử coi ai đứng sau phao tin chưa?”
Nghe tới đó, ông Phú tức giận đặt mạnh tách trà xuống bàn: “Tôi mà biết được đứa nào làm, tôi báo hương quản gô cổ nó ngay. Đừng nói làm ăn, tới đất cắm dùi ở cái xứ này tôi cũng không chừa cho nó.”
“Cạch.”
Tiếng chén sành chạm mạnh vô mé cửa gỗ làm ông Phú cùng bà Xuyến đồng thời quay đầu lại. Con Sen đứng chết trân ngoài cửa buồng, đôi tay run rẩy bưng cái khay cẩn xà cừ, tới mức chén yến chưng nghiêng qua một bên, nước sóng sánh đổ xuống đĩa dầm. Mặt nó trắng bệch như người mất hồn. Thấy ông bà chủ nhìn qua, nó hốt hoảng quỳ sụp xuống:
“Dạ… dạ… hành lang trơn quá, con đi không vững. Ông bà chủ tha lỗi cho con.”
Bà Xuyến liếc nhanh qua gương mặt tái mét của con Sen, đoán chừng nó đã nghe lọt ít nhiều câu chuyện hồi nãy nên trong bụng bà cũng ngầm đề phòng. Không đợi ông Phú nổi nóng, bà đã cau mày quát trước:
“Đi đứng kiểu gì không biết, có cái chén cũng bưng không xong. Đi xuống dọn dẹp đi, rồi đứng ngoài chờ tao gọi hãy vô.”
“Dạ… dạ….” Con Sen cuống quít bò dậy, cầm cái khay lật đật lui ra sau bếp.
“Đứa này coi bộ càng ngày càng hấp tấp. Bà coi dạy được thì dạy, không thì đổi đứa khác đi. Đem theo bên mình chỉ tổ mất mặt.”
“Mình nói phải, để tôi dạy dỗ lại nó.”
Cưới ông Phú đã lâu, bà hiểu rõ lúc nào nên nhún nhường, lúc nào nên vuốt ve. Ông càng bực chuyện ngoài đời bao nhiêu, về nhà lại càng thích có người thấu hiểu mình bấy nhiêu. Bàn tay bà vừa day nhẹ lên vai chồng, vừa thủng thẳng mở lời:
“Mình à… tôi có chuyện muốn nói với mình.”
“Hừ… tôi biết ngay mà. Không dễ gì trời mưa gió vầy bà còn đứng đợi tôi ngoài cửa. Nói đi, chuyện gì nữa?”
Bà Xuyến hờn dỗi, đưa tay đẩy vai ông một cái: “Bậy nào. Tôi lo lắng cho mình thiệt. Còn chưa nghe tôi nói, mình đã nghi tôi kiếm chuyện về cho mình rồi.”
Đoạn bà nghiêng đầu nhìn ông Phú, giọng đầy bí mật: “Mà lần này… là chuyện vui.”
Ông Phú nhướn mày nhìn sang, nhìn cái vẻ lấp lửng, nửa úp nửa mở của bà rõ ràng là đang chực chờ bung ra một chuyện lớn, nhưng ông lại không vội trả lời như đợi bà nói tiếp.
“Chuyện của cái Vân. Hồi chiều chị Pha có đi cùng bà mối qua đây. Nhà bên đó... chịu cưới cái Vân lại rồi.”
Ông Phú bất ngờ: “Sao lại thay đổi quyết định vậy?”
“Tấm lòng cha mẹ cả. Chẳng phải thằng Tâm nó có ý với con Vân hay sao. Tôi nghe chị Pha nói từ bữa đòi dứt hôn tới giờ, thằng Tâm nó buồn đến bỏ ăn bỏ ngủ, người ốm thấy rõ. Thành ra bên đó cũng xót ruột.”
Nói tới đây, bà Xuyến thở dài, khó xử nhìn ông Phú: “Nhưng mà…”
“Có phải là còn yêu cầu khác phải không?”
Bà Xuyến gật đầu: “Không biết chị ấy tìm được thầy giỏi ở nơi nào, nói có thể giải hạn cho cái Vân. Chỉ có điều... bên đó muốn để cái Vân đến chùa Tây An ở Châu Đốc giải hạn ít bữa.”
“Hồ đồ.” Ông Phú ngắt lời. “Giải hạn thì quanh đây thiếu gì chùa miễu, mắc giống gì phải đi tuốt lên Châu Đốc? Đường xa trắc trở, Vân nó lại là con gái, để nó đi xa mấy ngày trời sao mà được.”
Ông Phú vốn trọng sĩ diện, nay nhà họ Đinh mở lời chịu cưới con Vân là chuyện tốt, cưới rồi sẽ giữ được mặt mũi cho ông trước thiên hạ, chuyện làm ăn cũng thuận lợi như trước kia. Nhưng để Ngọc Vân đi xa mấy ngày thì ông không khỏi lưỡng lự.
Dạo này, ghe buôn bị cướp dọc đường đâu phải chuyện hiếm. Tuy từ trước tới nay ghe nhà ông chưa từng gặp nạn, nhưng càng làm ăn lâu năm, ông càng hiểu có nhiều chuyện đâu thể nói trước được điều gì. Nhứt là mấy đoạn sông vắng, nước lớn nước ròng thất thường, ghe đi khuya lỡ gặp bọn bất lương thì có muốn trở tay cũng chẳng kịp.
Ông Phú tựa lưng vô ghế, suy tư một hồi lâu. Dầu sao Ngọc Vân cũng là con gái ruột của ông, là đứa con mà bà Diệp khi còn sống từng nâng như nâng trứng. Mấy năm nay cha con xa cách, nhưng trong lòng cũng không phải hoàn toàn không để tâm.
Nếu đổi lại là chuyện của đám gia nhân hay người dưng, ông đã gật đầu cho đi từ sớm. Nhưng vừa nghĩ tới cảnh con Vân lênh đênh trên ghe, ông lại thấy khó mà yên lòng.
Bà Xuyến như đã liệu trước phản ứng của chồng, liền nhỏ nhẹ phân trần:
“Lúc nghe chị Pha nói, tôi cũng lo lắng như mình, nhưng nghe chị nói tôi thấy cũng có lý. Chị Pha nói chùa Tây An trên đó linh thiêng lắm, phải nơi như vậy mới trấn được cái số của cái Vân. Giải xong rồi thì về làm lễ cưới liền cho kịp ngày giờ tốt.”
Bà ngừng một chút rồi mới nói thêm:
“Nghĩ lại, chuyện này suy cho cùng đâu chỉ tốt cho con Vân, mà còn tốt cho thanh danh nhà mình, cho chuyện làm ăn của mình nữa. Mình nghĩ coi... trước đó nhà bên kia đòi hủy hôn dữ thần dữ thánh, giờ lại mở lời cưới con Vân lại, cũng coi như chịu nhường một bước rồi.
Hay mình nghe tôi, thương con Vân mà bằng lòng cho nó. Nếu như mình lo có gì bất trắc… hay mình biểu sớp-phơ nhà mình, ông Lợi đi theo. Tôi thấy ổng rắn rỏi, lại biết chút võ nghệ. Có ổng đi kèm bảo bọc, mình cũng yên tâm hơn.”
“Bà tính hết trước rồi à?”
Tim bà Xuyến đánh thót một cái. Bất ngờ dưới câu hỏi đầy sự đa nghi của ông, nhưng bà vẫn kịp giữ giọng điềm nhiên mà đáp ngay:
“Thì từ lúc nghe chị Pha giãi bày, tôi cũng suy đi tính lại dữ lắm mới ra được cách vẹn cả đôi đường. Nhưng chuyện này… tôi còn chưa dám nhận lời với chỉ đâu. Phải mình cho phép, tôi mới dám làm. Giờ chỉ còn chờ ý mình thôi, mình bằng lòng thì cọc hôn nhân này mới thành được.”
Nghe vậy, sắc mặt ông mới dịu đi đôi phần. Từ trước tới nay ông luôn thích mọi việc quan trọng đều phải qua tay ông quyết định. Nay nghe bà vợ nói như thể nhà họ Đinh đang đợi ông mở lời đồng ý, lòng tự ái trong ông được thoả mãn không ít.
Thấy ông có vẻ đã hơi mềm lòng, bà mới dịu giọng như người mang trong lòng một nỗi day dứt:
“Còn chuyện cưới hỏi, khánh tiết... nếu mình đã nói chuyện trong nhà do tôi quán xuyến, thì để tôi tự tay lo liệu cho con Vân lần này đi, coi như cho tôi bớt áy náy. Chớ thiên hạ ngoài kia nói tới nói lui, nhiều khi tôi nghe cũng chạnh lòng lắm. Phận làm kế khó trăm bề, sơ sẩy chút là trách tôi không biết chăm sóc con chồng cho chu toàn.”
Ông Phú khẽ gõ đầu ngón tay lên đầu gối mấy cái, hồi lâu mới trầm giọng trả lời bà:
“Để từ từ rồi tôi tính.”
Bà Xuyến không vội đốc thúc ông thêm, chỉ nhẹ giọng “dạ” một tiếng. Khoé môi bà nhếch lên, thấp thoáng nét đắc ý rồi nhanh chóng tan đi dưới ánh đèn dầu chập chờn. Chỉ tiếc ông Phú ngồi quay lưng, còn đang mải cân nhắc chuyện trong lòng nên không nhìn thấy.
Tối mịt, hầu ông chồng cơm nước xong, bà Xuyến mới được nằm lên giường nghỉ ngơi. Bà gác tay lên trán, nhìn đăm đăm lên khoảng tối trên trần nhà, lăn tăn về chuyện nói với ông Phú khi nãy. Ngoài sân, tiếng dế kêu ri ri, rả rích vọng vào từng hồi. Bên cạnh, ông Phú đã ngủ từ khi nào, tiếng ngáy o o kéo dài như tiếng cưa gỗ, từ đợt này đến đợt khác không ngắt chút nào.
Càng về khuya, những âm thanh ấy càng nghe rõ mồn một, tâm trí nghe mãi cũng bị quấy nhiễu. Bà Xuyến cố dẹp những suy tính trong đầu để chợp mắt một lát, chẳng hiểu sao mà trằn trọc mãi bà không thể vô giấc được. Một hồi lâu, bà chống tay ngồi dậy, vén mùng bước xuống giường, xỏ đôi guốc gỗ rồi lặng lẽ đi ra nhà lớn.
Giữa gian nhà lớn bị nuốt chửng bởi bóng tối, sợi chỉ bạc mỏng manh từ ánh trăng lách qua khe cửa sổ gỗ, nằm im lìm trên nền gạch tàu. Bà lần tay trên bàn thờ rút ra một que diêm, tiếng “xoẹt” dứt khoát vang lên. Ánh đèn dầu nhen nhóm, nhưng ngay khi bà đặt xuống mặt bàn của trường kỷ, nó liền đánh thức những lớp xà cừ tinh xảo đang ngủ quên trên lớp gỗ gụ đen bóng. Chúng đua nhau ngậm lấy chút ánh sáng tù mù từ tim đèn, cùng với vệt trăng lạnh lẽo, run rẩy ẩn hiện rồi rực lên những vệt ngũ sắc. Nương theo ánh lửa, bóng bà đổ dài trên nền đất, vặn vẹo và cô độc. Khoảnh khắc ấy, bà ngỡ mình bị bao trùm trong không gian hư thực, u uẩn trong lòng cứ thế lan ra rồi bủa vây cả gian nhà.
Ngồi xuống chưa được bao lâu, bà Xuyến chợt rùng mình khi đón luồng gió lạnh từ mái xà ngang dội xuống, bà vội đưa tay xoa nhẹ bên ngoài lớp áo lụa trắng như muốn tìm chút hơi ấm. Dưới quầng đèn vàng vọt, nếp lụa hiện lên vẻ bóng bẩy và nuột nà. Tầm mắt dời xuống dải khảm xà cừ trên bộ trường kỷ, thứ vỏ trai vỏ ốc đắt giá bỗng lấp lánh đến độ nhức nhối, chói loà cả mắt.
Cái phú quý, cái giàu sang trước mắt bà tựa bức tranh sơn son thếp vàng lộng lẫy. Ngày còn trẻ, bà còn chẳng dám mơ có ngày mình được mặc vải tốt, nhà cao cửa rộng thế này.
Mười tám năm trước khi còn ở Cai Lậy, cuộc sống của bà khác bây giờ một trời một vực. Ngày ấy, bà sống trong căn chòi lá xiêu vẹo sát mé sông cùng bà mẹ quanh năm đau bệnh. Cha mất sớm, ruộng đất chẳng có lấy một công. Mùa nắng còn đỡ, tới mùa mưa nước ngập lênh láng đến tận chân giường, bà phải hì hục tát nước hòng không để cho nước ngấm vào mấy cái nồi đất mẻ ở góc nhà, cùng chiếc phản gỗ cũ kỹ đã mục nát từ lâu.
Thuở ấy, để đổi lấy đấu gạo hay thuốc thang cho mẹ già, bà phải ra chợ bán cá từ lúc trời còn mờ sương, rồi lại theo người ta đi cắt cỏ, làm cỏ mướn đến tận trời tối. Người trong làng nhắc đến Trương Thị Xuyến ai mà không biết, nhưng chẳng phải vì tánh nết siêng năng, cần mẫn mà là vì sắc vóc khác người thường của bà.
Không hiểu vì lẽ gì, dù cho ở nơi nghèo khổ, làm việc quần quật cả ngày nhưng nước da bà lại không hề rám nắng hay cháy đỏ. Ngược lại, nó vẫn luôn trắng trẻo; nếu không chạm vào bàn tay thô ráp đầy những vết nứt và vết chai sần do quanh năm ngâm nước và cầm dao mổ cá, ai cũng nghĩ bà ta là tiểu thơ của một gia đình giàu có nào đó.
Mỗi buổi chợ đông, sạp cá của bà lúc nào cũng có vài anh lái ghe hay mấy gã trai làng ghé lại. Người thì mua dăm ba con cá rồi đứng nán thêm đôi câu, kẻ cố tình kiếm cớ hỏi giá dù bên hông chẳng có lấy một cái giỏ. Mấy bà bán hàng bên cạnh nhìn riết thành quen, lâu lâu lại buông vài câu nửa đùa nửa thật rằng khách đến mua cá hay đến ngắm người thì chỉ có trời biết.
Kẻ theo đuổi không ít nhưng bà không vừa mắt một ai. Bởi lẽ nghèo lấy nghèo đến khi nào mới lấp đầy được hũ gạo, bởi lẽ nhà nghèo mái dột thì cũng chỉ dám lấy tàu lá vá víu đắp vào mà thôi. Càng vào cảnh túng quẫn, bà càng căm ghét cái nghèo bám riết lấy mình.
Không may mẹ già trở bệnh nặng, thuốc thang xong thì tiền trong nhà cũng cạn, một lần nữa bà bỏ qua cái lòng tự trọng một bên mà cúi đầu xin bà chủ khất tiền gạo vài bữa. Không những không khất được nợ, còn bị mụ đàn bà vốn quen thói khúm núm trước kẻ bề trên, nay lại dùng đôi mắt khinh khỉnh mà miệt thị, buông ra những lời sặc mùi nhục mạ:
“Gớm! Mọi khi bán đắt hàng, kênh kiệu lắm cơ mà, sao giờ lọ mọ qua đây mà xin thiếu tiền gạo? Có túng thiếu quá thì mày có cái vốn tự có đó, đặng kiếm một nhà thổ, bán trôn nuôi miệng cho rảnh rang. Khéo lại có tiền rủng rỉnh, thuốc thang cho mẹ già, chớ ở đó giữ kẽ làm chi cho chết đói.”
Câu nói cứ thế dội về như một vết nhơ gột rửa mãi không sạch. Dù bao năm trôi qua, bà ta vẫn nhớ như in cái giọng điệu chua ngoa trong khuôn mặt đầy giả tạo ấy. Cũng từ đó, bà hiểu rằng người ta có thể trầm trồ trước nhan sắc của bà, nhưng sẽ chẳng ai thật lòng coi trọng một đứa con gái nghèo. Muốn ngẩng đầu nhìn đời, thứ cần có phải là tiền bạc. Ở đời chỉ kính kẻ có tiền, còn phận hèn mọn dù tốt đẹp đến đâu, cũng phải cúi đầu trước kẻ khác.
Ngay lúc nghĩ rằng cả đời bà ta chỉ quanh quẩn ở nơi nhà rách vách nát, cho đến khi bà gặp ông Lữ Gia Phú cùng bà Huỳnh Chi Ngọc Diệp. Quãng thời gian ấy, hai người thường xuyên xuống Cai Lậy để lo chuyện mở thêm cửa tiệm vàng và tiệm cầm đồ. Mỗi lần xuất hiện, ông Phú là dáng vẻ ăn vận lịch lãm, còn bà Diệp lại mang đậm phong thái của bậc khuê các. Chỉ cần nhìn qua cử chỉ ung dung vuốt nếp tóc và cách bà Diệp đối đãi với người dưới, đủ khiến Thị Xuyến nhận ra sự cao sang, nhã nhặn đã thấm sâu vào máu thịt của người đàn bà này.
Lần đầu nhìn thấy bà Diệp, Thị Xuyến bỗng thấy mình nhỏ bé đến lạ. Cũng là đàn bà, cũng có khuôn mặt, mái tóc và đôi bàn tay ấy. Nhưng một người thì phú quý, giàu sang được chồng chiều chuộng; còn một người quanh thân chỉ toàn mùi cá tanh tưởi và bùn đất dính đầy kẽ tay rửa mãi không sạch. Khi trong lòng có sự so sánh, bà Xuyến tức thì vừa tự ti, vừa ghen tị đến nghẹn lòng.
Nhưng dần dà, khi bà Diệp không còn theo ông Phú đi Cai Lậy nữa, bà phát hiện ông Phú dần đối xử với mình khác đi mỗi lần ghé sạp hàng của bà mua cá trước khi đến cửa tiệm. Ánh mắt ông thường xuyên dừng lại trên người mình nhiều hơn mức cần thiết, và bà biết loại ánh mắt đó là gì. Lần đầu tiên, bà nhìn thấy tấm vé duy nhất có thể đưa mình thoát khỏi cảnh nghèo.
Tiếng gà gáy canh tư vọng lên từ sau vườn, kéo bà Xuyến khỏi cơn mê man của ký ức. Bà đứng dậy, đưa mắt nhìn quanh gian nhà rộng lớn cứ chập chờn dưới ngọn đèn dầu leo lét. Từ khi làm dâu nhà họ Lữ bà được ăn sung mặc sướng, kẻ đưa người đón không thiếu thứ gì. Bởi vậy, mùi vị của cái nghèo hèn bà không muốn quay lại một lần nào nữa, sẽ không để bất cứ ai lấy đi những gì mà má con bà đáng được hưởng.
Nghĩ vậy, đôi mắt bà khép lại giây lát, đến khi mở ra lần nữa trong mắt chỉ còn lại sự lạnh lùng đến rợn người. Bà không nói không rằng, đưa ngón tay vặn nhỏ tim đèn dầu cho bớt sáng rồi lẳng lặng cầm cây đèn trở về buồng ngủ. Bên ngoài, tiếng gà gáy thêm một hồi nữa, báo hiệu canh cuối của đêm dài.