Ra khỏi rừng thông dày đặc sương mù, Thanh đi theo ông Bổng tiến về phía cổng làng được dựng bằng hai cây gỗ lớn, bên trên có thêm một thanh gỗ ngang khắc dòng chữ rất lạ mà cậu không đọc được.
“Thưa bác, chữ trên cổng làng là chữ gì đấy ạ?” Cậu tò mò hỏi.
“Đó là chữ ‘làng Phù’, tên của làng này.” Ông Bổng đáp rồi đi thẳng vào trong làng.
Khác với rừng thông, sương mù chỉ phủ lên ngôi làng một lớp nhàn nhạt và mỏng như khói. Nhờ vậy, tuy trời đã xâm xẩm tối, Thanh vẫn có thể thấy rõ những ngôi nhà thấp nằm dọc hai bên con đường khá lớn dẫn vào làng. Cậu đi chậm lại, tò mò nhìn những bức tường nâu cũ kỹ, lớp đất trát bên ngoài bong tróc từng mảng, cửa nẻo xô lệch, mái ngói rơi rụng, trông tiêu điều như một ngôi làng cổ bị bỏ hoang. Nhưng đó không phải thứ khiến cảm giác bất an đột nhiên dấy lên trong lòng cậu. Điều kỳ quái ở đây là, không một ngôi nhà nào trong làng sáng đèn.
“Làng ta sao không ai bật điện ạ?” Thanh đuổi theo ông Bổng, đánh bạo hỏi.
Ông ta không dừng bước, đầu cũng không quay lại. “Mọi người ở đây có thói quen ngủ sớm, trời tối là đi ngủ rồi.”
Hai người tiến sâu hơn vào ngôi làng âm u không hề có một ánh đèn. Càng đi, Thanh càng cảm nhận rõ sự kỳ quái ở đây. Ngôi làng này không nhỏ, những nếp nhà nằm san sát nhau trải dài theo con đường chính. Vậy mà suốt dọc đường, cậu không hề nghe thấy dù chỉ một tiếng ngáy nhỏ, tiếng trẻ con khóc, tiếng chó sủa khi có người lạ đi ngang, hay tiếng gà lục cục trong chuồng giống như những ngôi làng bình thường khác ở nông thôn. Thứ âm thanh tồn tại lúc này là tiếng bước chân của hai người, tiếng gió hun hút thổi qua các khe hở khiến những cánh cửa lỏng lẻo xô lệch rung lên cọt cà cọt kẹt.
Thanh lo lắng bám sát ông Bổng. Cậu thấy sợ. Ngôi làng u ám, lạnh lẽo và tràn ngập âm khí này không khác gì một ngôi làng chết.
“Chúng ta… đi đâu… vậy ạ?” Cơn ớn lạnh chạy xuống tận gan bàn chân làm cậu run cả người, cậu không biết mình có nên hối hận khi đã nhận lời vào làng ngủ qua đêm hay không?
“Sắp đến rồi!” Ông Bổng vẫn thân thiện và ân cần như trước. “Cậu yên tâm, tôi sẽ đưa cậu đến một nơi tốt nhất làng để ngủ tạm.”
Thanh nén xuống cảm giác bất an, tiếp tục đi theo ông Bổng thêm một hồi lâu. Đến giữa làng, ông ta dừng lại trước một ngôi nhà rất lớn có khoảng sân rộng lát gạch đỏ đã xỉn màu, bao bọc xung quanh là dãy tường gạch đôi chỗ bị đập phá nham nhở.
Ông ta đẩy cánh cổng, bước vào sân ngôi nhà năm gian đồ sộ dựng hoàn toàn bằng gỗ, từ mái ngói âm dương đến bậc tam cấp đều phủ một màu bạc phếch cũ kỹ. Nhưng nếu chú tâm một chút vẫn có thể nhận ra nét chạm khắc cầu kỳ trên những cánh cửa gỗ và các khối đá kê dưới chân hàng cột dọc hiên nhà.
Thanh đứng ngẩn người dưới bậc tam cấp, say sưa ngắm nhìn ngôi nhà cổ kính bằng ánh mắt thán phục. Nhưng rồi niềm khao khát muốn khám phá vừa nhen nhóm trong đầu cậu lập tức bị không khí u ám đánh tan. Giống như những ngôi nhà nằm dọc đường làng, ở đây mặc dù rộng rãi và bề thế hơn rất nhiều, vậy mà thứ âm thanh cậu có thể nghe thấy vẫn chỉ là tiếng gió thổi lồng lộng, tiếng cửa kêu kẽo kẹt và tiếng trái tim cậu đập thùm thụp như trống dồn trong lồng ngực.
Ông Bổng bình thản bước lên bậc tam cấp, đi đến gian ngoài cùng bên phải của ngôi nhà gỗ rồi vẫy tay ra hiệu cho Thanh tới gần. Ông ta đẩy mạnh cánh cửa chạm khắc hình hoa mai hơi gồ lên trên mặt gỗ khiến một lớp bụi bay xuống.
“Đêm nay cậu ngủ ở gian này.”
Thanh ngó vào gian phòng tối đen, mùi ẩm mốc xộc vào mũi làm cậu hắt hơi mấy cái.
“Nhà bác không có ai ở hay sao ạ?” Cậu ngạc nhiên quay đầu nhìn ông Bổng.
“Mọi người ngủ cả rồi, cậu cũng nên ngủ sớm đi.” Ông ta cất giọng trầm ấm, hiền hòa. “Cậu đừng sợ, người làng sinh hoạt không giống người thành phố các cậu. Sáng mai tôi sẽ đưa cậu về thị trấn.”
Bầu trời xám xịt, gió rít từng hồi trên hiên và không khí lạnh lẽo như hơi thở của âm hồn khiến Thanh rùng mình nổi da gà. Cậu cố gắng trấn tĩnh, lên tiếng hỏi:
“Ở đây có điện không ạ?”
Ông Bổng lắc đầu. “Không có điện!”
“Vậy bác có thể cho cháu mượn đèn dầu được không?” Thanh hỏi thêm, cậu rất thèm được nhìn thấy một ánh đèn.
“Sao phải thắp đèn? Tôi ngủ ngay trong gian kia.” Ông ta chỉ tay về phía gian ngoài cùng bên trái của căn nhà. “Thanh niên trai tráng khỏe mạnh, làm sao mà sợ bóng tối như trẻ con thế nhỉ? Cậu cần gì cứ gọi, tôi sẽ sang ngay.”
Nói xong, ông Bổng chắp tay sau lưng, quay người đi nhanh đến gian phòng bên trái. Thanh không thể nói thêm được câu nào, cậu đành đứng yên nhìn hút theo cho đến khi bóng lưng ông ta khuất hẳn sau cánh cửa gỗ.
Tuy đã có lời trấn an của ông Bổng nhưng cậu vẫn thấy rợn người khi một mình đứng trước căn phòng tối tăm, xung quanh chỉ có những cơn gió thốc vào cổ áo lạnh buốt và làm rối tung mái tóc của cậu.
Thanh hít một hơi thật sâu lấy lại bình tĩnh, quyết tâm bước qua bậu cửa bằng gỗ cao tới gần đầu gối để vào phòng. Khi chân nhấc lên cao, bàn tay cậu bỗng chạm phải một vật cứng trong túi quần. Cậu lập tức đứng khựng lại ngay giữa bậu cửa, thò tay rút ra chiếc điện thoại quen thuộc của mình.
Nhìn điện thoại còn ấm hơi người trên tay, Thanh cảm thấy đầu óc mình như trống rỗng. Đây là vật bất ly thân của cậu, không hiểu lý do gì đã khiến cậu hoàn toàn quên mất trong túi mình còn có điện thoại để liên lạc?
Vội vã lướt nhanh ngón tay trên màn hình, Thanh nhấn gọi vào số máy của Hưng, người bạn duy nhất có thể đến đây đón cậu lúc này. Thế nhưng đầu dây bên kia không hề có tín hiệu phản hồi, những cuộc gọi của cậu giống như hòn đá nhỏ rơi tõm xuống hồ nước rồi mất hút.
Thanh chán nản thở dài, ngước mắt nhìn lên bầu trời u ám. Tuy rất muốn rời khỏi đây, nhưng cậu không dám quay lại rừng thông mù sương. Cậu chợt rùng mình, nếu phải lần mò trong đêm, đi qua khu nghĩa trang thỉnh thoảng lập lòe ánh ma trơi, có lẽ cậu sẽ chết ngất trước khi tìm được đường về thị trấn. Cậu bật đèn flash, bước hẳn vào trong phòng. Mùi ẩm mốc nồng nặc lần nữa xộc thẳng vào mũi khiến cậu hắt hơi liên tục, chân luống cuống bước lùi ra cửa. Nhờ những cơn gió thổi lồng lộng dọc theo hiên nhà, hai buồng phổi của Thanh mới không bị lấp đầy bởi mùi mốc cực kỳ khó chịu. Cậu ngồi phịch xuống bậu cửa, lia đèn quan sát căn phòng mà mình sẽ phải ngủ đêm nay.
Ngôi nhà nhìn bên ngoài có vẻ đồ sộ, vậy mà gian phòng này lại bày biện vô cùng đơn giản. Cạnh cửa sổ kê một chiếc bàn gỗ nhỏ và hai chiếc ghế, trên bàn bày một bình hoa bằng gốm màu nâu đất, hình thù kỳ dị, méo mó vẹo vọ như được tạo ra bởi một thợ gốm tay nghề kém cỏi, hoặc là một nghệ nhân tài năng có sự sáng tạo quá mức đột phá. Sát tường là một tấm phản gỗ, bên trên có một chiếc gối và một chiếc chăn gấp gọn. Điểm chung của căn phòng này là tất cả mọi thứ đều phủ một lớp bụi dày, chứng tỏ đã quá lâu không có người ở.
Ngồi trên bậu cửa đợi mùi ẩm mốc trong phòng bay bớt, Thanh mới đứng dậy, bước vào phòng, dùng đôi tất ẩm ướt của mình làm khăn lau bụi trên tấm phản rồi mệt mỏi ngả lưng nằm xuống.
Bình luận
K.P
Chắc sẽ là 1 đêm khó khăn với Thanh. \•□•/