Chương 11: Thế đạo công bình
“Những khóm phù dung này đều do Nguyệt nương trồng sao?”
Lê Yển Nguyệt quay đầu, trông thấy Trần Kiến đang đứng nhìn mấy khóm hoa nép dưới hàng rào tre. Những đóa hoa lớn bằng miệng bát đọng đầy hơi nước, bông mới nở trắng trong, bông đã qua nửa ngày thì nhuốm ánh hồng.
Lê Yển Nguyệt đáp “vâng”, sau đó bước đến gần.
“Ta vốn thích trồng hoa nuôi thảo. Hoa phù dung vừa lớn, vừa biết đổi sắc theo từng khắc trong ngày. Huống hồ cả lá và hoa đều có thể dùng làm thuốc, trồng cũng không uổng công.”
Trần Kiến đưa tay, chạm nhẹ lên một bông hoa, chợt hỏi:
“Có người cho rằng phù dung sớm nở sớm tàn, vẻ đẹp chẳng lâu bền, ý nghĩa không lành, cô không ngại sao?”
Lê Yển Nguyệt mơ hồ cảm thấy lời này của chàng dường như có ẩn ý khác, nhưng nhất thời không đoán ra được. Nàng mỉm cười, đáp rằng:
“Không ngại. Nở lâu hay chóng tàn nào phải điều quan trọng. Quan trọng nhất là nó đã từng nở, vậy là tốt rồi.”
Nàng cũng đưa tay, nâng đỡ một nhánh hoa bị nước mưa làm trĩu xuống.
“Ở Yên Ninh này, có người sống đến bạc đầu vẫn chưa từng bước khỏi lũy tre. Mây Yên Tử chưa được ngắm, sóng Bạch Đằng chưa được xem, phồn hoa Thăng Long càng chỉ nghe qua lời kể. So với một đời dài quanh quẩn như vậy, được một lần rực rỡ rồi héo tàn, một lần thành ngọc rồi tan vỡ, cũng chưa chắc là bạc mệnh.”
Khi ấy, Lê Yển Nguyệt thật chưa nghĩ đến chuyện, ngọc quý dầu vỡ nát thì vẫn mang danh là ngọc, không có gì luyến tiếc. Đau nhất là ngọc đã từng sáng, lại bị vùi xuống bùn, lẫn với đá vụn đất thô.
“Đại nhân lên hiên nhà chờ một lát, thầy ta hẳn sẽ ra mau thôi.”
Trần Kiến gật đầu, cùng nàng bước lên hiên, ngồi xuống chiếc bàn gỗ kê cạnh cửa. Lê Yển Nguyệt rót cho chàng một tách trà, lại mở tráp gỗ nhỏ có đựng lá trầu, cau khô và một lọ vôi trắng.
Nàng lấy ra một miếng trầu đã têm sẵn, đặt lên đĩa nhỏ rồi đưa đến trước mặt chàng.
“Mời đại nhân dùng trầu.”
Trần Kiến đưa tay nhận lấy. Lê Yển Nguyệt nhân lúc ấy mới nói:
“Chuyện của thầy ta, mong đại nhân thông hiểu. Người bị rắn cắn, mười năm vẫn sợ dây thừng. Ông ấy không có ý coi thường lời mời của ngài, thứ làm ông ấy chần chừ là những chuyện không mấy trong sạch trước kia.”
Chàng đã ở đây nhiều ngày, nàng tin, chàng cũng nhìn ra nơi này trước kia là một bãi lầy tăm tối thế nào.
Trần Kiến gật đầu, quả nhiên không hề tỏ ý bất mãn.
Chàng đặt miếng trầu trong lòng bàn tay, lại chăm chú nhìn những nếp gấp cân xứng trên lá. Hai cánh trầu thanh mảnh xòe ra, ôm lấy miếng cau nằm giữa được vót nhọn kỹ càng.
“Lối têm trầu cánh phượng nổi tiếng ở vùng phía nam Bắc Giang [1], không ngờ đã lưu truyền tới tận Trường Yên.”
Lê Yển Nguyệt nghe chàng nói thế thì mỉm cười:
“Ta học được từ một người thím có nghề buôn. Trước kia bà ấy từng mở hàng lụa ở Bắc Giang, sau về Yên Ninh mới chỉ lại cho ta đôi chút. Nếu đại nhân từng thấy trầu cánh phượng tại quê gốc, cũng xin không chê tay nghề ta vụng về.”
Trần Kiến cũng cười:
“Sao ta dám chê. Hơn nữa, với tay nghề của cô, có muốn chê e rằng cũng khó.”
Lê Yển Nguyệt âm thầm khám phá, hiểu rồi, vị đại nhân này không chỉ giỏi thuyết phục người khác, mà còn khéo rót mật vào tai người ta nữa.
Không biết lấy dũng khí từ đâu ra, nàng đánh bạo mà hỏi:
“Đại nhân, ngài hẳn đã đi qua nhiều miền, thấy được non cao và biển rộng. Vậy dám hỏi… những nơi ngoài kia, có tốt đẹp hơn Trường Yên hay không?”
Hay đúng hơn, ở những nơi xa xôi kia, lòng người có khác nơi này hay không?
Trần Kiến ngẩng đầu nhìn nàng, đáy mắt vẫn điềm hòa. Chợt nhớ lời nàng lúc nãy, chàng mới nhận ra nàng có khao khát rộng lớn nhường nào.
Nàng sợ mình biến thành những phận người quanh quẩn trong lũy tre làng mà mình từng chứng kiến.
Nàng rất muốn xem mây Yên Tử, sóng Bạch Đằng, hội Thăng Long, nhưng lại sợ bước đi rồi lại ai oán phát hiện ra, vòm trời nào cũng tăm tối như nhau, ánh sáng rốt cuộc chỉ là hư ảnh.
Chàng khẽ đặt miếng trầu trở lại đĩa, gật đầu:
“Ta quả thực từng có may mắn đi qua vài nơi, chưa thấy chốn nào chỉ có tốt lành, càng chưa thấy vùng nào chỉ toàn vô vọng.
Bùn sâu vẫn nở được sen thơm, chén ngọc vẫn phải khi chứa nước đục. Thế gian này, thiện ác vốn xen nhau, thanh trọc chưa từng phân tuyệt.”
Nhưng mà Nguyệt nương, chúng ta nên hiểu, chỉ cần lòng nhân chưa tuyệt, trung nghĩa chưa mất, khí cốt chưa suy, thế đạo mãi sẽ không đi đến đường cùng.
Lê Yển Nguyệt nhìn vạt nắng mỏng đang nằm yên trên tay áo của Trần Kiến.
Người đã sải bước trong quan lộ, ngày sau phong hoa rạng ngời đến đâu vẫn khó thể nói trước. Những lời chàng vừa nói, vốn chỉ để trấn an một thường dân thấp bé, hay thật sự tin rằng công đạo vẫn hiện hữu giữa đời?
Nàng nhất thời không biết được.
Lời nói vốn nhẹ hơn gió. Muốn cân được lòng người, phải đặt trước danh lợi và quyền thế mà đo đếm. Nhưng dựa vào những việc Trần Kiến đã làm mấy ngày qua, nếu tất thảy đều là giả, vậy thì sự giả ấy quả đã kín đến chẳng lộ một đường may.
Đúng lúc ấy, thầy Khương vén tấm phên tre trở ra. Vẻ do dự trên mặt ông đã được thay bằng nét nghiêm nghị.
“Đại nhân, ta có thể khám nghiệm thi thể đó.”
Trần Kiến lập tức đứng lên, còn chưa kịp nói lời cảm tạ đã bị thầy Khương đưa tay ngăn lại:
“Đại nhân, xin khoan. Ta bằng lòng đi, nhưng có mấy điều phải nói rõ trước với các ngài.”
“Thầy cứ nói.”
“Mọi điều ta khám nghiệm, suy đoán đều phải được chép đúng vào bản nghiệm trạng, không tùy tiện thêm bớt dù là nửa chữ. Các ngài tuyệt đối không được vì muốn buộc tội một người mà ép chữ thành kết luận.
Nếu quan phủ không thể thuận theo, vậy thì xin coi như hôm nay ta chưa hề nhận lời.”
Lê Yển Nguyệt càng nghe, hai mắt càng mở lớn.
Bây giờ, là ai lớn gan hơn ai đây?
Nhưng cũng may, vị đại nhân này là người tin vào sự công bình của thế đạo…
“Những điều thầy vừa nói vốn là phép tra án phải tuân, ta đã nghe, cũng chấp nhận toàn bộ. Hơn nữa, bản nghiệm trạng sau khi hoàn thành sẽ do đích thân thầy kiểm lại, sai một nét thì không điểm chỉ, tất vô giá trị.”
“Vậy thì đi thôi.”
Sau đó, một quan một thầy khách khí mời nhau bước đi, chỉ có Lê Yển Nguyệt hối hả lấy hộp gỗ đựng dụng cụ ngỗ tác, sau đó lại vội vã chạy theo.
Chiếc hộp cũ đến mức ngả màu, bốn góc mòn nhẵn, then sắt phủ đầy vết rỉ. Thế nhưng ổ khóa vẫn trơn, quai xách không bám một hạt bụi, rõ là vừa được lau chùi cẩn thận.
Lê Yển Nguyệt bĩu môi nhìn bóng lưng của thầy Khương.
Cái gì mà ra sau nhà cân nhắc, ông rõ là đi chuẩn bị đồ nghề, tiện thể để quan phủ chờ thêm một lát, lấy cho bản thân chút thể diện mà thôi.
**
Tại dinh An phủ, Trần Kiến sai người thiết đãi thầy Khương một bữa cơm trưa. Đang giữa nạn lụt, lương thực khan hiếm, bữa ăn không xa hoa, chỉ có thể gọi là chu toàn.
Sau đó, cuộc khám nghiệm kéo dài gần một canh giờ.
Từ ngón út bị khuyết, những vết sẹo cũ, tuổi tác, vóc người, còn có mức độ rữa nát của thi thể, thầy Khương có thể xác nhận người chết đúng là Tam.
Những vết thương hai thầy trò từng thấy khi Tam bị áp giải trên phố, đến nay đã bắt đầu se miệng. Tuy nhiên, chồng bên trên lại có thêm nhiều dấu roi và vết trói mới hơn.
Như vậy có nghĩa sau khi rời Yên Ninh, Tam không những không được đưa thẳng về kinh mà còn tiếp tục bị hung thủ giam cầm, tra khảo.
Dấu vết còn rất rõ ràng, quanh cổ thi thể có một vết siết hình thành khi còn sống, trong phổi cũng không có dấu hiệu bị sặc nước, đồng nghĩa rằng sau khi người đã chết mới bị ném xuống sông.
Trần Kiến tiến lại gần thi thể, hỏi:
“Có thể xác định Tam chết vì bị siết cổ không?”
Thầy Khương vừa lau sạch dụng cụ, vừa thở dài lắc đầu:
“Tiếc là không thể. Ta chỉ dám khẳng định chú Tam đây bị siết cổ khi còn sống, chết rồi mới bị ném xuống nước. Bây giờ thi thể đã hư hại quá nặng, không còn dấu vết để biết người chết bởi lẽ gì.”
Chính ông cũng rất tiếc nuối vì không thể dùng tay nghề của mình khai thác tới cùng chân tướng.
Thầy Khương đọc lại bản nghiệm trạng một lần, xác nhận mọi thứ vẫn trung thực theo ý mình mới gật đầu lăn tay, sau đó liền vội vã cáo từ.
Ngoài các lán cứu thương, người cảm lạnh, sốt nóng và lở loét sau trận lũ vẫn còn nhiều không đếm xuể, nhóm thầy Hương cũng đang bận tối tăm mặt mày.
Trước khi rời đi, thầy Khương dặn dò Lê Yển Nguyệt ở lại chỉnh trang cho thi thể sau khi bị khám nghiệm, nhân tiện hỗ trợ quan phủ.
Lê Yển Nguyệt mỉm cười, còn muốn bày trò hỏi rằng ông không ngại mình thân cận với quan phủ hay sao? Nhưng nàng lại e thầy Khương nổi cáu mà lôi nàng về thật, nên chỉ đành ngậm miệng.
Khi lính lệ dẫn Cao Mậu tới nơi, thời gian đã qua cuối giờ Mùi. Ánh mắt hắn vừa chạm tới chiếc cáng đặt giữa gian liền khựng lại.
Hắn nghiến răng, cúi đầu quỳ xuống:
“Ty chức bái kiến đại nhân.”
Trần Kiến cố tình không đáp mà im lặng nhìn hắn. Gian nhà tĩnh vắng đến mức nghe rõ tiếng gió lay những tờ nghiệm trạng trên mặt bàn.
Đợi khi bàn tay của Cao Mậu đặt trên đầu gối đã âm thần siết chặt, chàng mới lên tiếng:
“Ngẩng đầu lên, ngươi nhìn cho rõ người trên cáng là ai?”
Dứt lời, Phạm Lâm cũng nhận lệnh mà kéo khăn trắng phủ mặt thi thể xuống.
“Bẩm đại nhân, thi thể rữa nát, ty chức mù lòa không nhận được. Nhưng nhìn áo tù và bàn tay khuyết ngón đó, có lẽ chính là phạm nhân tên Tam.”
Trần Kiến mở bản trình cũ ra, đặt mạnh xuống bàn.
“Trong tờ trình này, ngươi khai nhận Tam chết ở gần Thăng Long, thi thể đã được chôn cất ven đường. Thế sao nay lại xuất hiện ở Yên Ninh?”
Cao Mậu nuốt nước bọt, nhưng dường như cũng đã liệu tới câu hỏi đó.
“Ty chức thật tình không rõ. Có lẽ là nước lớn làm vỡ mồ, cuốn thi thể xuống sông. Đại Việt ta sông suối chằng chịt, biết đâu một nhánh sông nào đó thông về tận đây chăng?”
Lê Yển Nguyệt đứng một bên, hết nhìn thi thể rồi lại nhìn Cao Mậu, lại nhớ dáng vẻ lớn lối của hắn lúc áp giải người, thật sự muốn cười khẩy một cái.
Trần Kiến tiếp tục hỏi:
“Ngươi kể lại một lượt xem. Đoàn áp giải rời Trường Yên ngày nào, dừng chân ở đâu, Tam phát bệnh từ khi nào, chết chính xác tại đâu?”
Cao Mậu rành rọt thuật lại chuyến đi.
Hắn kể rất trôi chảy, từ lúc khởi hành cho đến từng dịch trạm đã đi qua, thậm chí còn nhớ rõ Tam bắt đầu phát sốt vào đêm thứ mấy . Quả nhiên đã có chuẩn bị kỹ càng.
Hắn còn tả được cả nơi chôn cất, khiến câu chuyện trở nên tròn trịa đến mức không tìm ra kẽ hở.
Nhưng càng suôn sẻ, càng chu toàn, lại càng khiến người ta có cảm giác hắn không phải đang từ từ hồi tưởng, mà là đọc lại một câu chuyện đã soạn sẵn và thuộc lòng từ lâu.
Tất nhiên, Trần Kiến không dễ bị lừa. Đợi Cao Mậu nói hết, chàng mới quay sang viên thư lại, lệnh ông ta chép nguyên văn lời hắn, cho hắn xem lại thật kỹ rồi đích thân điểm chỉ.
Sau đó, chàng lại lệnh cho Phạm Lâm:
“Truyền những lính lệ đã theo đoàn áo giải vào tra hỏi, hỏi riêng từng người. Trước khi lấy xong lời khai thì nhất quyết không cho họ giáp mặt.”
Cuộc tra hỏi này kéo dài hơn Lê Yển Nguyệt dự tính.
Nàng vốn muốn ở lại nghe kết quả rồi mới trở về, nào ngờ đợi đến tận khi mặt trời lặn mất mà người trong các phòng hỏi cung vẫn chưa trở lại.
Ngồi một mình trong gian nhà vắng ngắt, bên cạnh chỉ có thi thể vô giác vô tri, nàng dần sinh ra cảm giác buồn chán. Ban đầu chỉ định nhắm mắt trong chốc lát, không ngờ lại ngủ thiếp đi.
Khi Trần Kiến dẫn người trở lại, người hầu trong dinh đang lần lượt thắp đèn.
Lê Yển Nguyệt ngủ gục trên chiếc bàn kê sát cửa sổ, hai tay khoanh lại làm gối, tóc dài xõa lưa thưa xuống đôi má ngọc.
Cách đó không xa, thi thể của Tam vẫn được phủ vải trắng, Mấy ngọn đèn dầu đặt gần cáng cháy leo lét, ánh lửa theo gió chập chờn.
Phạm Lâm bước vào sau, thoáng khựng bước.
Ồ, thiếu nữ ngủ cạnh thi thể… Cảnh tượng này cũng hiếm thấy quá đi.
Những tờ ghi lời khai trong tay y vừa sột soạt, Lê Yển Nguyệt liền tỉnh giấc. Nàng vẫn còn hơi mơ màng, nhưng vừa nhận ra người trước mặt mình là ai thì lập tức ngồi thẳng dậy.
“Đại… đại nhân, ngài hỏi xong rồi sao?”
“Xong rồi.”
Trần Kiến gật đầu, ánh mắt chạm phải vết hằn mờ in trên gò má nàng, rồi lại nhanh chóng dời đi.
“Ta tưởng Nguyệt nương đã về trước rồi.”
Lê Yển Nguyệt chỉnh lại đầu tóc, đưa mắt nhìn ra ngoài, lúc ấy mới hay trời đã muộn.
“Ta muốn đợi xem mấy lời khai đó của Cao Mậu có trụ vững được hay không.”
Trong mắt Trần Kiến hiện rõ ý cười. Chàng kéo chiếc ghế đối diện ra ngồi, gật đầu, bảo rằng như ý cô mong đợi, lời lẽ của Cao Mậu hoàn toàn không trụ vững.
Những lính lệ theo đoàn áp giải được người của chàng hỏi riêng, ban đầu vẫn còn cố gắng quanh co, nhưng truy thật kỹ thì cùng nhận được một tình tiết.
Rằng khi đoàn áp giải rời Trường Yên chưa được một ngày thì có người đuổi theo, trao cho Cao Mậu một mảnh giấy được niêm kín.
Sau khi đọc thư xong, Cao Mậu chỉ giữ Tam cùng hai kẻ thân tín nhất ở lại, những người khác chỉ được theo tiếp một quãng ngắn rồi quay về, trước khi về còn được căn dặn: hoặc im lặng và yên thân, hoặc từ nay không thể an ổn sống.
Người ở đây đã quen cúi đầu thinh lặng, những lính lệ đó cũng thế.
Cơn buồn ngủ của Lê Yển Nguyệt tan sạch:
“Vậy có nghĩa chú Tam chưa từng đến Thăng Long?”
“Chưa từng. Những vết roi mới trên người của Tam hẳn có từ sau khi tách đoàn. Cao Mậu đã đưa ông ấy đến một nơi khác, tiếp tục tra khảo.”
Lê Yển Nguyệt mím môi:
“Bọn chúng muốn diệt khẩu chú Tam, vậy thì nhất định chú ấy bị vu oan cướp vàng. Hoặc chú ấy đã vô tình nghe được bí mật gì của bọn chúng.”
Trần Kiến đưa mắt nhìn ngọn đèn nhỏ bên cạnh người chết, gật đầu:
“Cao Mậu đã bị giam, hai kẻ đi cùng hắn cũng vậy, nhưng cả ba nhất quyết kêu oan, cả Đào Quang Nghĩa cũng vậy. Muốn có đủ bằng chứng và phúc thẩm án, phải biết sau khi tách đoàn, Cao Mậu đã giam Tam ở nơi nào.”
Nhắc đến nơi giam giữ, Lê Yển Nguyệt chợt nhớ ra một chuyện. Đó là những vết thương trên người Hoàng Tấn.
“Đại nhân, thầy Khương đã từng nói với ngài, dấu trói và vết roi trên người của Hoàng Tấn rất giống với chú Tam. Liệu hai người họ có bị giam chung trong kho muối bỏ hoang đó không?”
Phạm Lâm nghe thấy thì lắc đầu:
“Đáng tiếc là không. Vừa khi nhận ra Cao Mậu khai gian, đại nhân đã sai ta đi hỏi chuyện Hoàng Tấn. Nhưng hắn quả quyết suốt gần một tháng bị nhốt trong kho muối, chưa từng trông thấy ngay nghe tiếng của người nào khác.”
Hơn nữa, kho muối đó cũng đã bị nước lũ đánh sập. Mái vách đều đổ, bên trong ngập đầy bùn đất. Những dấu vết nếu có, e rằng cũng đã bị dòng nước xóa sạch.
Lê Yển Nguyệt nhìn Phạm Lâm rồi lại nhìn Trần Kiến, khẽ thở dài. Xem ra Tam và Hoàng Tấn chỉ cùng chịu đòn dưới tay đám người Cao Mậu, chứ không phải bị giam cùng một nơi.
Nhưng nếu Tam chưa từng rời Trường Yên, vậy thì có thể bị giấu ở đâu chứ?
Làng xóm nơi đây trải dọc khắp các bờ sông, cồn bãi. Những nơi hẻo lánh cũng ngày ngày có người kiếm củi, đánh cá, cắt lau lui tới.
Muốn nhốt một người suốt nhiều ngày, lại liên tục đánh đập mà không lọt ra một tiếng kêu hay chút dấu vết nào, nơi ấy ắt phải vừa kín đáo, vừa nằm ngoài tầm mắt dân chúng.
Nếu không phải kho muối bỏ hoang do dinh An phủ coi quản, vậy thì là nơi nào?
**
Chú thích:
[1] Phía nam Bắc Giang: tức Bắc Ninh ngày nay. Thời Trần, vùng Bắc Ninh nằm ở phía nam của lộ Bắc Giang.