Đọc to (tiếng Việt) Nhấn phát để bắt đầu
Ngọc Ẩn Bóng Tùng

Chương 10: Người chết trở về

Sáng hôm sau, khi sương còn giăng trắng xóm làng, Lê Yển Nguyệt vừa thức giấc đã đón liền một tin lành, một tin dữ.

Người mang tin tới là Phạm Văn Nghê. Chân y đã bớt sưng, tuy vẫn bó nẹp nhưng đã có thể chống nạng gỗ mà đi lại. Không chịu ngồi trong lán, y xin theo người của dinh An phủ mang thóc gạo đến phát cho từng nhà.

Vừa trông thấy nàng, Phạm Văn Nghê đã hồ hởi gọi, y bám lấy cổng nhà nàng, báo rẳng quan phủ đã tìm được thóc và thuyền bị mất. Nghe nói thu về tận hơn trăm bao, dân Trường Yên không cần phải lo chết đói nữa.

Lê Yển Nguyệt đứng trong hiên nhà nhìn ra cổng, gần như tỉnh hẳn:

“Thật sao?”

“Thật chứ! Ta nói cô nghe, thóc được chở về từ đêm qua, mấy bếp phát chẩn đã đỏ lửa từ tinh mơ rồi. Lần này quan phủ cho người trong dinh tự tay trông nom, từ đong thóc cho đến nấu gạo, không giao xuống huyện nữa, tránh có người nhân lúc hỗn tạp mà ngựa quen đường cũ, mười phần chẳng còn được năm.”

Lê Yển Nguyệt nhìn Phạm Văn Nghê. Nàng nhớ chỉ mới cách đây một hôm, khi ngồi cùng mọi người ngoài lán, chính miệng y đã bảo các nàng đừng quá tin tưởng vị quan mới này. 

Bây giờ thì sao, nhìn hai mắt sáng rực đó, nàng tin chắc mười mươi rằng y đã ngưỡng mộ Trần Kiến lên tận chín tầng trời rồi.

Nhưng vẻ hồ hởi trên mặt Phạm Văn Nghê cũng chẳng giữ được lâu. Y ngập ngừng rồi hạ giọng:

“Còn một chuyện nữa.”

Y thuật lại chuyện thuyền chở thóc vô tình vớt được một thi thể đàn ông chết trôi, hơn nữa, người ấy bị nghi ngờ chính là Tam, nhà ở ngoài bãi..

Lê Yển Nguyệt sững người:

“Chú Tam? Sao có thể thế được?”

Đúng vậy, thật kỳ quái! Ai mà không biết Tam đã chết khi đang trên đường bị giải về kinh, ấy mà nay lại nổi lên giữa biển lũ Trường Yên. Chuyện liêu trai cũng không quái dị như thế.

Đúng lúc đó, thầy Khương từ trong nhà bước ra hiên. Nghe nhắc đến chuyện của Tam, chân ông thoáng khựng lại, nhưng vẻ kinh ngạc lướt qua rất nhanh. Lê Yển Nguyệt thấy ông ngồi xuống bàn trà, giơ tay mở tráp trầu ra, nói:

“Ta đã bảo rồi, xác chết cũng biết nói đấy. Oan khuất dẫu cho bị vùi dưới ba thước đất, rồi cũng có ngày tự tìm đường nổi lên.”

Lê Yển Nguyệt nghe và hiểu lời này. Xác chết tất nhiên không thể mở miệng nói chuyện, nhưng từng dấu vết trên thi thể đều là lời kêu oan ai trời động đất. Chỉ tiếc, suốt những năm làm ngỗ tác, ông có thể nhận ra những lời kêu đó, nhưng bị buộc phải làm câm, làm điếc.

Nàng ngẫm một lúc, sau đó liền thay áo, lấy thuyền đi đến dinh An phủ.

Nước đã rút khá nhiều, để lại quanh thân cây những ngấn bùn vàng cao quá đầu người. Dẫu vậy, đường làng vẫn còn ngập trong nước, từ nhà nọ sang nhà kia phần lớn đều phải nhờ thuyền.

Càng đến gần dinh quan, Lê Yển Nguyệt càng nghe rõ tiếng bàn tán đang dậy lên từng lớp. Phía trước tường dinh, thuyền lớn thuyền nhỏ neo ken kín. Kẻ đứng trên mũi thuyền, người vịn vào chân tường mà ngóng vào trong. Mấy lính lệ phải luôn miệng nhắc mọi người giãn ra, kẻo thuyền chen nhau rồi lật.

Thi thể được đặt trong một gian nhà trống trên nền cao cạnh dinh. Hai cánh cửa mở rộng, từ ngoài đã trông thấy chiếc cáng đặt giữa gian và tấm vải trắng phủ kín bên trên.

Trước khi lũ cuốn tới, chuyện Tam chết trên đường bị giải về Thăng Long đã truyền đi khắp vùng. Bà Phan lại hay tin con mất, uất nghẹn mà qua đời. Mẹ quá con côi nhà ấy lần lượt chết đi, khiến cho bao người cảm thấy chua xót. Nay trông thấy một thi thể nom có vẻ là Tam nổi lên giữa dòng nước lũ, ai mà chẳng cảm thấy phẫn nộ và bất bình?

Giữa đám đông, có người lớn tiếng hỏi:

“Nếu người nằm đó thật là Tam, vậy kẻ mà dinh quan bảo đã chôn ở Thăng Long là ai chứ?”

Một người khác chen lời:

“Quan phủ mới đến, khó thấu chuyện cũ! Nếu muốn rõ thì phải đi truyền cái tên Cao Mậu kia kìa! Chẳng phải hắn ta thừa lệnh của Đào Quang Nghĩa mà áp giải Tam sao?”

“Phải đó! Khi đi thì người sống sờ sờ, khi về chỉ nghe một câu đã chết. Đến cả chuyện lão Tam chết dọc chết ngang thế nào, xóm làng ta đều không được biết, một cái bia cũng không thể lập!”

Lê Yển Nguyệt neo thuyền vào một gốc cây, bước lên nền đất cao rồi len qua đám người. Từ chỗ này, nàng đã nhìn rõ bên trong.

Thi thể nằm giữa gian được tấm vải trắng phủ từ đầu xuống chân. Thân xác đã trương phình nghiêm trọng.

Trần Kiến đứng cách thi thể không xa, trong tay cầm tờ trình mà Cao Mậu từng nộp về sau chuyến áp giải. Trên giấy ghi rõ thương thế của Tam quá nặng nên sinh bệnh, chết tại một dịch trạm gần Thăng Long. Sợ xác nhiễm dịch bệnh, bọn họ không dám mang vào thành, cũng không thể đưa về Yên Ninh.

Chàng cứ đọc đi đọc lại từng dòng, nét mặt trầm lặng.

Mấy người cùng làng với Tam không đành lòng nhìn cảnh thi thể đồng hương nằm mãi trong gian nhà trống, có người bước lên thưa:

“Bẩm quan, bà Phan đã mất rồi, trong nhà họ cũng chẳng còn ai. Dù án ghi rõ chú ấy mang trọng tội, nhưng người cũng chết rồi, thi thể này bảy phần mười chính là Tam. Xin quan cho chúng tôi đem xác về lo liệu, kiểu người chết không yên.”

Sau đó, rất nhiều người tiếp lời phụ họa.

Trần Kiến gấp tờ trình, giao lại cho Phạm Lâm, sau đó bước về phía cửa lớn. Chàng cất giọng ôn tồn:

“Ta hiểu tấm lòng của bà con. Nhưng nếu người chết này thật sự là Tam, thì quả thật có quá nhiều bất thường. Tờ trình ghi rõ ông ấy chết ở Thăng Long, cũng được chôn cất tại đó, nhưng bây giờ lại nổi lên từ một nhánh nước sông Vân. Tất cả mọi thứ, trước sau đều không khớp.

Bản quan đã cho người truyền Cao Mậu, cũng sẽ thẩm vấn anh ta rõ ràng mọi chuyện. Còn về Tam, ta không chỉ muốn biết ông ấy có oan hay không, mà còn muốn biết ông ấy chết ở đâu, chết bởi lẽ gì. Lúc này, thi thể chính là lời chứng duy nhất. 

Mong bà con nấn ná ít hôm, xong chuyện rồi, bất kể là oan hay không, dinh An phủ cũng sẽ đích thân khâm liệm, để người chết được mồ yên mả đẹp.”

Có rất nhiều người sững lại khi nghe mấy lời này của chàng. Dù sao, suốt nhiều năm, đây là lần đầu tiên có một vị quan nói chuyện với họ bằng giọng điệu như thế.

Sau cùng, thuyền bè lần lượt rời đi, người trên bờ cũng dần tản. Bá tánh thuận theo lời Trần Kiến, một là kiêng uy của quan phủ, hai là dần tin tưởng trước những gì mà chàng đã làm mấy ngày qua.

Lê Yển Nguyệt vẫn đứng nguyên, mắt không rời tấm vải trắng trên cáng. Chần chừ một thoáng, nàng bèn bước tới. Lính lệ nhận ra nàng là người theo thuyền cứu nạn, còn cung cấp đầu mối về Hoàng Tấn nên không vội cản lại, chỉ nhìn sang Trần Kiến chờ lệnh.

Chàng khẽ gật đầu. Thật ra, từ lúc nàng len vào giữa đám người đứng ngoài cổng, chàng đã trông thấy nàng rồi.

Lê Yển Nguyệt bước vào bên trong, quay mặt về phía Trần Kiến rồi cúi người:

“Bái kiến đại nhân.”

Chàng cũng đáp lời:

“Chào cô.”

Nàng đưa mắt nhìn xuống chiếc cáng, hỏi:

“Thưa ngài, không biết ta có thể xin xem mặt người chết một chút không. Trước đây ta từng theo thầy chẩn bệnh ở nhà chú ấy, cũng giáp mặt không ít lần.”

Trần Kiến thoáng ngập ngừng, ánh mắt dừng trên những vệt nước sẫm màu đang dần thấm qua lớp vải:

“Nguyệt nương, thi thể đã ngâm nước lâu ngày, hình dung không còn nguyên vẹn nữa. Chỉ e sẽ khiến người ta kinh sợ, đêm về khó được yên giấc.”

Lê Yển Nguyệt cười khẽ:

“Xin ngài yên tâm, từ nhỏ ta đã theo thầy xem người chết không ít lần rồi, sẽ không kinh sợ đâu.”

Thấy nàng không hề miễn cưỡng, Trần Kiến mới bước đến bên cáng, hơi khom lưng, tự tay cầm lấy mép vải rồi chậm rãi kéo xuống. Động tác của chàng hết sức từ tốn, ánh mắt luôn quan sát gương mặt của Lê Yển Nguyệt, như thể chỉ cần nàng lộ chút sợ hãi, tấm vải sẽ ngay lập tức được phủ trở lại.

Nhưng nàng hoàn toàn không tránh né. Lớp vải được kéo xuống quá vai, gương mặt của người chết hiện rõ. Quả thật, da thịt đã trương rữa, ngũ quan biến dạng, bùn đất bết kín tóc tai. Quanh cổ của thi thể còn hằn những mảng tím đen đã nhòe đi vì ngâm nước.

Trần Kiến cũng được cho là kẻ đã thấy qua muôn sự lạ kỳ của thế gian, nhưng đây là lần đầu tiên chàng nhìn thấy một cô gái bình tĩnh như vậy khi đối diện với xác chết không còn nguyên vẹn. Trong đôi mắt phượng ấy không phải kinh sợ, cũng chẳng phải lạnh lùng, mà là sự thấu cảm và thương xót từ tận tâm can.

Quan sát một hồi, Lê Yển Nguyệt ngẩng lên nhìn Trần Kiến, khẽ nói:

“Bẩm quan, người này đã chết khá lâu rồi, có vài chỗ dường như đã bắt đầu rữa trước khi rơi xuống nước. Đúng là chỉ nhìn dung mạo thì không thể nào nhận diện. Chỉ là…”

Nàng đưa mắt nhìn bàn tay trương nước khuyết mất ngón út đang thò ra khỏi tấm vải:

“Chỉ là căn cứ vào dấu khuyết trên tay và mức độ phân rữa của thi thể, thật sự rất trùng khớp với chú Tam.”

Trần Kiến gật đầu:

“Vậy cô có cách nào xác định nguyên nhân dẫn đến cái chết không?”

Lê Yển Nguyệt tự tay kéo lại tấm khăn che mặt cho thi thể, sau đó mới gật đầu. Nàng nói đương nhiên là có. Muốn biết có phải Tam hay không, chết vào lúc nào, bởi cớ gì mà chết, thì phải khám nghiệm.

Phải để người chết nói nốt những lời còn lại.

Phạm Lâm nghe thấy, nét mặt lộ vẻ khó xử:

“Đại nhân vừa mới tới, các chức việc trong dinh còn chưa kịp thu xếp. Mấy ngày nay nước lũ chia cắt đường sá, ngỗ tác được điều đến Trường Yên vẫn còn bị ngáng đường.”

Trần Kiến trầm ngâm giây lát rồi nhìn sang Lê Yển Nguyệt:

“Vậy, Nguyệt nương có thể giúp ta khám nghiệm thi thể này không?”

Thấy nàng hơi sững người, chàng e nàng khó xử nên lại nói thêm:

“Ta biết đem chuyện tiền bạc ra cậy nhờ thì hơi thiếu lễ. Nhưng nếu Nguyệt nương không chấp, mong cô giúp ta xem qua một lượt, xong việc, dinh An phủ nhất định sẽ hậu tạ xứng đáng.”

Lê Yển Nguyệt thấy chàng đã hiểu sai ý mình thì vội lắc đầu, xua tay:

“Không phải, ta không có ý đó. Chỉ là đại nhân thật quá coi trọng ta rồi. Ta tuy theo thầy từ nhỏ, nhưng tới nay vẫn chưa thật sự thạo nghề thuốc, nói chi đến cầm dao mổ khám thi thể. Tới chừng đó chỉ e chẳng những không giúp được người chết, mà còn làm lỡ việc của ngài.”

Đã nhắc tới thầy, tất nhiên khó tránh khỏi câu hỏi:

“Thế còn thầy Khương?”

Lê Yển Nguyệt càng ngần ngại hơn. Trần Kiến chỉ cần tra cứu sổ hộ tịch một chút thì đã biết rằng trước khi về quê làm thuốc, thầy Khương chính là một ngỗ tác có danh.

Nàng rất muốn mở miệng khước từ, nói thầy mình không thích dự vào việc quan. Nhưng lựa lời một hồi, nàng vẫn không sao thốt ra được mấy chữ đó. Cuối cùng, nàng nhìn Trần Kiến một thoáng rồi đáp:

“Ta sẽ về thưa với thầy xem sao. Dù ông ấy có bằng lòng hay không, trước lúc trời tối ta nhất định sẽ trở lại báo với đại nhân, nếu không được thì để ngài tìm phương cách khác.”

“Vậy ta cảm ơn cô trước.” 

Trần Kiến cúi đầu nhìn thi thể, trong một thoáng đã quyết định rõ ràng:

“Nhưng người cần thầy Khương giúp đỡ là ta. Theo lẽ, ta phải tự mình đến nơi mời mới phải.”

Dứt lời, chàng liền quay sang Phạm Lâm, sai y chuẩn bị thuyền. Nhìn theo bóng Phạm Lâm vội vã rời đi trước, cuối cùng Lê Yển Nguyệt cũng sực tỉnh, ý thức được việc quan phủ muốn đến tận nhà mình, nàng vội ngăn cản:

“Đại nhân, không cần thế đâu, để ta về thưa với thầy là được rồi. Chỉ vì chút việc mà khiến ngài đích thân đến nhà, lễ đó thầy trò ta nhận không nổi.”

Trần Kiến chỉ khẽ cười, hoàn toàn không định đổi ý. Chàng nói:

“Người xưa dạy, xuất môn như kiến đại tân, sử dân như thừa đại tế [1]. Nay ta cần cầu người giúp việc, lễ này tất không thể thiếu. Phiền Nguyệt nương dẫn đường.”

…

Mới mấy ngày trôi qua, Lê Yển Nguyệt đã cùng Trần Kiến đi thuyền không biết bao lượt giữa vùng nước lũ. Nghĩ lại, chính nàng cũng cảm thấy lạ. Một cuộc gặp gỡ tưởng đâu vô thưởng vô phạt ở giữa rừng, ấy vậy mà lại mở lối cho muôn chuyện về sau.

Thuyền rời dinh An phủ, men theo dòng nước đã hạ quá nửa mà đi. Được một quãng, Trần Kiến mới mở lời:

“Nguyệt nương, cô có quen biết nhiều với Tam không?”

Lê Yển Nguyệt đáp:

“Không thể xem là thân thiết, nhưng khắp huyện Yên Ninh, mọi người ít nhiều đều nghe qua về chú ấy. Tiếng lành đồn xa, chú Tam vốn hiền lành, gặp ai khó khăn cũng sẵn sàng giúp đỡ.

Ta nghe thầy Khương kể, những năm binh lửa, chú Tam từng theo toán dân phu làm việc trên đường sông, kéo chão, khuân lương, chèo thuyền hộ quân. Ngón út bên bàn tay phải mất đi vì bị một dây chão đang căng siết đứt.”

Sau khi chiến sự chấm dứt, nước non thái bình, Tam mới về lại Yên Ninh. Nhà vốn đơn chiếc, không có ruộng nương, ông ta ngày ngày lên rừng kiếm củi, đến bến làm khuân vác thuê.

Lúc này, Lê Yển Nguyệt không để ý, khi nghe đến chuyện Tam từng làm dân phu phục vụ thủy binh, bàn tay đang vuốt phẳng nếp gấp trên tay áo của Trần Kiến thoáng dừng lại.

Một lát sau, chàng mới lấy lại vẻ điềm nhiên mà hỏi:

“Đây chính là mây mù phủ phủ trên Trường Yên mà cô từng nhắc tới sao?”

Nhớ lại mấy lời ngổn ngang mà mình từng nói với Trần Kiến trong tháp Linh Tế, Lê Yển Nguyệt chẳng biết nên cư xử như thế nào. 

Dù nàng chẳng mắng chàng, nhưng nàng mắng kẻ làm quan, mà chàng thì lại đang khoác quan phục…

Ngoài mạn thuyền, nước lũ đục ngầu, cuốn theo rơm rạ, cành gãy và những mảnh mái nhà trôi lập lờ, hỗn tạp. Nhưng ở phía đường chân trời, một vệt nắng nhạt đang xuyên qua tầng mây tối, rơi xuống mặt nước đang hạ dần.

Lê Yển Nguyệt nhìn tia sáng đó, rồi gật đầu:

“Đúng vậy. Có điều, qua trận nước này, ta lại cảm thấy mây dẫu dày đến đâu không chẳng thể nào che trời được mãi.”

Thuyền ghé vào mỏm đất khô ráo, nàng chỉ về hướng con đường nhỏ men theo triền dốc:

“Đại nhân, từ đây đi thêm một chút nữa là sẽ đến nhà ta. Lúc này có lẽ thầy Khương đang phơi thuốc.”

Trần Kiến bước lên bờ trước. Chàng đứng sang một bên, đợi Lê Yển Nguyệt vịn mạn thuyền, đặt chân vững vàng rồi mới cùng nàng bước tiếp.

Đi chuyến này, chàng chỉ mang theo hai người trong đoàn hộ vệ. Ngay cả Phạm Lâm cũng ở lại dinh, tiếp tục tra xét Cao Mậu và những giấy tờ liên quan đến án của Tam.

Khi hai người đi đến ngoài cổng, vừa đúng lúc thầy Khương cũng đang ôm mấy nia thuốc từ sau nhà đi ra. Trông thấy người bên cạnh Lê Yển Nguyệt là Trần Kiến, ông lập tức đứng sững giữa sân.

Chỉ nhìn bấy nhiêu, Lê Yển Nguyệt đã biết rõ trong bụng ông đang mắng nàng chẳng tiếc lời. Ánh mắt đó mà hóa được thành guốc, trán nàng sẽ lĩnh một chiếc ngay.

Nàng nửa cười nửa mếu mà bước lên, mắt phượng đẹp đẽ biến thành mắt nai to tròn, ngây thơ vô số tội:

“Thầy, quan phủ có việc muốn tìm thầy.” Đoạn rồi, nàng lại hạ giọng xuống thật thấp, ghé sát vào tai thầy Khương: “Ngài ấy muốn đến, con chẳng dám ngăn đâu…”

Dám ngăn cản quan phủ thì cũng là tội lớn đó!

Thầy Khương cố kìm nén để không cốc đầu nàng, sau đó mới đặt mấy nia thuốc xuống, nhìn Trần Kiến rồi chắp tay:

“Bái kiến đại nhân, không biết ngài tới nhà, ta không kịp ra đón, thật thất lễ.”

Trần Kiến cũng tiến lên hai bước, đứng đối diện với thầy Khương, lời lẽ nhã nhặn nhưng không vòng vo:

“Chào thầy, ta mạn phép đường đột đến nhà, là vì muốn mời thầy khám nghiệm một thi thể vừa được tìm thấy trong dòng lũ. Người chết có nhiều điểm trùng khớp với Tam, người huyện Yên Ninh. Nhưng dung mạo đã rữa nát, không thể nhận diện được. Nếu thật là Tam, vậy thì án này có quá nhiều uẩn khúc.

Dám mong thầy giúp xác định thân phận và nguyên do cái chết, từ đó giúp ta có thể lật lại án cũ, tra rõ ngọn ngành.”

Đúng như dự đoán, thầy Khương lắc đầu ngay lập tức:

“Quan phủ quá coi trọng lão già như ta rồi. Ta bỏ nghề ngỗ tác đã nhiều năm, tay nghề sớm đã mai một. Người sống qua nạn lũ ta còn cứu chẳng xuể, không dám dự thêm việc của người chết.”

Nét mặt của Trần Kiến chẳng hề dao động. Chàng gật đầu, rồi lại nghiêm chỉnh chắp tay.

“Ta không rành y lý, nhưng cũng từng đọc qua ít chữ trong Thiên kim phương [2], rằng Kiến bỉ khổ não, nhược kỷ hữu chi, nhất tâm phó cứu [3]. Tổ tiên nước Việt ta cũng dạy, nghĩa tử tức nghĩa tận.

Một lời dạy cứu người sống, một lời dạy trọng người chết. Lời phải vốn không phân xưa nay, cũng chẳng phân Nam triều hay Bắc quốc. Thầy Khương đã xem mạch, bốc thuốc cứu người bao năm, ắt còn hiểu và xem trọng đạo này hơn ta, thấy người sống phải cứu cho tận sức, gặp người chết phải đối cho tận lễ.”

Lê Yển Nguyệt đứng một bên nghe mà không khỏi kinh ngạc. Cái gì mà mấy chữ chứ. Đến cả đoạn y huấn của danh y nhà Đường đã lưu truyền mấy trăm năm, chàng cũng mang ra đọc làu rồi…

Rõ ràng, Trần Kiến đã chuẩn bị lời lẽ thuyết phục thật chu toàn rồi mới cùng nàng đến đây.

Ánh mắt thầy Khương nhìn Trần Kiến càng trở nên phức tạp.

Lời Lê Yển Nguyệt từng nói bất chợt hiện lên trong đầu ông, rằng không thể lấy cái xấu của đám quan cũ mà đo lòng người mới đến.

Ông vuốt hàng râu thưa dưới cằm, im lặng hồi lâu rồi đáp:

“Việc này, xin đại nhân cho ta suy nghĩ một lát.”

Nói xong, ông quay sang Lê Yển Nguyệt:

“Con tiếp đãi quan phủ cho chu đáo.”

“Ơ… thầy?”

Nàng chỉ kịp gọi một tiếng, cũng không đợi Trần Kiến gật đầu, thầy Khương đã xoay người đi thẳng ra sau nhà, khuất hẳn sau tấm phên tre.

Lê Yển Nguyệt ngây người.

Ngày thường thì luôn miệng mắng nàng vượt lễ, không biết giữ phép trước người làm quan. Bây giờ thì hay rồi, chính ông dám để quan phủ đứng ngoài sân, chờ mình thong thả suy nghĩ việc… có nên giúp đỡ quan phủ hay không.

**

Chú thích:

[1] “Xuất môn như kiến đại tân, sử dân như thừa đại tế” (nguyên gốc: 出門如見大賓,使民如承大祭): Trích trong Nhan Uyên của Luận Ngữ. Khổng Tử nói về đạo “nhân” - khi ra ngoài phải kính cẩn như đang tiếp khách quý; khi sai khiến, cai quản dân chúng phải thận trọng và thành kính như đang đảm đương đại lễ.

[2] Thiên kim phương: tên gọi tắt của Bị cấp Thiên kim yếu phương, một quyển y thư do danh y Tôn Tư Mạc đời Đường biên soạn, hoàn thành khoảng năm 652, gồm 30 quyển. Sách tổng hợp nhiều kinh nghiệm chẩn trị, phương dược, châm cứu, dưỡng sinh cùng những quan niệm về y đức của y học trước và đầu thời Đường. 

(Theo tìm hiểu của tác giả, quyển y thư cổ nhất của Việt Nam còn truyền lại là “Hồng Nghĩa giác tư y thư” của danh y Tuệ Tĩnh. Tuy nhiên mốc thời gian truyện đặt trước khi quyển sách này ra đời (thế kỷ XIV), nên đành để nhân vật dùng y lý trong Thiên Kim Phương, quyển sách rất nổi tiếng trong giới danh y thời xưa.)

[3] Kiến bỉ khổ não, nhược kỷ hữu chi, nhất tâm phó cứu (nguyên gốc: 見彼苦惱,若己有之,一心赴救): trích trong thiên “Đại y tinh thành”, quyển đầu của Thiêm kim phương. Nghĩa là thấy người bệnh đau khổ phải coi như chính mình đang chịu nỗi khổ ấy, một lòng dốc sức cứu chữa.

Bình luận đoạn văn

Bình luận

Trả lời bình luận

Chỉnh sửa bình luận

Thiết lập văn bản

Xem trước

Nội dung sẽ hiển thị như thế này

Chọn font chữ

Cỡ chữ

12px 30px