Chương 5: Lụt rừng
Đinh Hạ đang ngồi đợi nàng bên chiếc bàn trà kê dưới mái hiên. Gấu áo y hơi lấm bùn, nhưng dáng vẻ vẫn thanh sạch, nho nhã như thường. Y ngồi thẳng lưng, ngay ngắn, hai tay đặt lên gối, mắt rũ xuống nhìn chén trà còn tỏa khói trước mặt.
Nghe tiếng bước chân, y từ tốn ngẩng đầu lên.
“Anh Đinh Hạ.” Lê Yển Nguyệt lên tiếng chào hỏi trước.
Nàng mặc áo màu tím nhạt, tóc vừa gội còn ẩm, chỉ buộc hờ bằng một dải lụa trắng phía sau lưng. Đinh Hạ dừng tầm mắt trên người nàng một thoáng, sau đó mới đứng dậy cất lời chào đáp.
Cả hai ngồi xuống đối diện nhau. Lê Yển Nguyệt mở tráp gỗ đặt trên bàn, nhấc ra một miếng trầu têm hình cánh phượng tinh xảo, đẩy đến bên cạnh chén trà của Đinh Hạ. Dáng điệu của nàng thong dong, lời nói cũng vô cùng bình thản:
“Anh tìm ta có việc gì?”
Ngược lại với nàng, Đinh Hạ gần như có phần lúng túng. Yết hầu y động đậy, như thể trong lòng có rất nhiều lời muốn nói, nhưng lại không biết bắt đầu từ đâu.
“Nguyệt, nàng thật sự… sẽ không nghĩ lại sao?”
Lê Yển Nguyệt lắc đầu, ánh mắt hoàn toàn không xao động:
“Sẽ không.”
Đinh Hạ không động đến miếng trầu, nhưng giọng nói lại thoáng vị chua chát:
“Bao năm hôn ước, nàng nói bỏ liền bỏ như thế. Nguyệt, thứ lỗi cho ta nói thẳng, nàng làm vậy, thật sự khiến ta hoài nghi mười năm tình nghĩa giữa chúng ta, ở trong lòng nàng liệu nặng được bao cân?”
Những ngón tay giấu trong tay áo của Lê Yển Nguyệt khẽ co lại, sau một cái chớp mắt lại từ tốn buông ra. Nàng nhìn người ngồi phía đối diện, trên môi trổ lên nụ cười vừa nhẹ vừa nhạt.
“Mười năm… có thể nặng hơn Thái Sơn, cũng có thể nhẹ hơn lông hồng.”
Đinh Hạ khựng lại:
“Ý nàng là gì?”
“Anh Đinh Hạ, xin lỗi. Đúng vậy, trước hết thì ta vẫn phải nói với anh một tiếng xin lỗi.
Mấy ngày qua ta đã suy nghĩ rất nhiều, cũng đã tự vấn tình cảm mình dành cho anh suốt những năm qua là như thế nào. Anh khiến ta thất vọng, đó là sự thật. Nhưng mà một chữ tình, có thể dùng chỉ se ba, lấy yếm làm cầu, đâu phải cứ muốn dứt là dứt được, có phải không?”
Hơi nước lạnh từ ngoài hiên lùa vào, khiến hương trà cũng nhạt đi.
“Khi biết trong lòng anh đã có người khác, ta chỉ cảm thấy như mình đang bước qua chiếc cầu quen thì gặp một nhịp đã gãy. Có hụt hẫng, có ngỡ ngàng, nhưng mà cũng chẳng sao cả, ta thấy chỉ cần quay đầu thì vẫn có thể tìm được lối khác mà đi.”
Cái gì mà muối ba năm muối đang còn mặn, gừng chín tháng gừng hãy còn cay… nàng thật lòng không thấy nuối tiếc, cay đắng hay oán giận gì cả.
“Có lẽ cả ta và anh đều đã nhầm rồi. Hai người cùng nhau lớn lên, đâu nhất thiết phải thành vợ thành chồng. Láng giềng gần xa nói chúng ta xứng đôi, chúng ta liền mơ hồ cho là xứng. Cha mẹ hai nhà định hôn ước, chúng ta liền mặc nhiên xem đó là lẽ đương nhiên.
Nhưng cả anh lẫn ta đã bao giờ tự hỏi thế nào mới là xứng lứa vừa đôi hay chưa? Ta từng thấy anh ở bên cô gái tên Dương Ngọc Ngư đó, vui vẻ, phóng khoáng và tự do, như đôi vành khuyên hót trên đầu cành hoa gạo. Còn ta và anh, mười năm qua vẫn luôn giữ ý và dè dặt, như khách lạ ngồi chung một chiếu.
Tương kính như tân, nghe qua thật đẹp, nhưng nếu như phải sống như thế cả đời, ta hỏi anh, chúng ta có thật sự mãn nguyện hay không?”
Đinh Hạ gần như không thể đáp lời. Lê Yển Nguyệt nói tiếp:
“Cho nên hôm nay anh đến đây, ta cũng xin mạo muội mà hỏi một câu. Anh thật sự luyến tiếc ta, hay là tiếc mười năm hôn ước và những lời ca ngợi chúng ta xứng lứa vừa đôi?”
Lời nàng vừa dứt, tiếng mưa ngoài hiên bỗng trở nên rõ ràng. Từng hạt mưa rơi xuống thềm đá, vỡ tung thành muôn mảnh vụn.
Đinh Hạ càng nghe lại càng hoảng. Bao năm đọc sách thánh hiền, tưởng như đã tường tận đạo lễ thế gian, vậy mà y chưa từng nghĩ đến điều này.
Mười năm qua, y đối với nàng, nàng đối với y, rốt cuộc là cảm xúc gì?
Nàng nói mình không đau lòng. Nghĩ kỹ lại, hình như y cũng không đau lòng. Chỉ là nghĩ tới lời giao hẹn tưởng như đá vàng không đổi, nghĩ tới vô vàn ánh mắt dò xét của thế nhân, trong lòng y dâng lên cảm giác không cam mà thôi.
Mưa ngâu dai dẳng, đôi người nhìn nhau.
Họ đã nhìn nhau như thế suốt mười năm, vậy mà đến hôm nay mới có thể nhận ra trong mắt đối phương chưa từng có một sợi tơ tình.
Họ thân nhau như anh em, gần nhau như bạn hữu, lại hiểu nhau như hai kẻ đồng hương. Nhưng từ đầu đến cuối chưa từng xem nhau là người thương thật dạ.
Không biết qua bao lâu, Đinh Hạ bỗng bật cười:
“Cha ta vẫn hay khen nàng thông tuệ, nhìn người nhìn việc đều rất thấu đáo. Tới hôm nay, ta coi như hiểu được trọn vẹn rồi.”
Lê Yển Nguyệt cũng cười:
“Cho nên, anh Đinh Hạ, thiết nghĩ chúng ta nên vui mừng với phải. Nếu anh không gặp Ngư nương, nhận ra lòng mình, có lẽ cả hai chúng ta sẽ hồ đồ suốt cả đời.”
Nàng đã suy nghĩ rất nhiều, sau cùng bỗng cảm thấy cuộc tan vỡ này biết đâu lại là sự nhân từ của trời cao. Bằng không, nàng và Đinh Hạ cứ vậy mà đưa trầu trao rượu, kết thành vợ chồng, ngày qua tháng lại, buồn vui lẫn lộn. Đến cuối đời ngoảnh đầu nhìn lại, cảm thấy không viên mãn, e rằng cũng chẳng biết đời mình đã đi sai ở bước nào.
Đinh Hạ đứng dậy, chắp tay thi lễ, dáng vẻ thư sinh, tri thức và nho nhã hiện rõ trước mắt nàng:
“Yển Nguyệt, xin thứ lỗi vì đã hồ đồ suốt mười năm, cũng xin thứ lỗi vì đã làm nàng thất vọng.”
Lê Yển Nguyệt đứng lên đáp lễ. Mái tóc dài đã dần khô ráo, lay động trong cơn gió lạnh.
“Ta cũng xin anh thứ lỗi vì mười năm qua, xin thứ lỗi vì chưa từng thật sự trao đi chân tình.”
Bóng áo trắng của Đinh Hạ dần khuất trong màn mưa, sau đó mất hút sau tán cổ thụ. Đến lúc ấy, thầy Khương mới từ trong nhà bước ra, nhìn theo hướng nhìn của nàng, ông thở dài:
“Mười năm vun một mối duyên, hai đứa nói dứt là dứt, thẳng thắn và dứt khoát như vậy sao?”
Lê Yển Nguyệt thu mắt lại, quay sang đối diện với ông:
“May là chỉ mới mười năm chứ không phải cả đời.”
Thầy Khương nhìn dáng người mảnh mai của nàng, giọng nói nhỏ xuống:
“Nguyệt, có lời này ta vẫn phải nói với con. Muốn gặp một người vừa khiến con thật lòng thương quý, lại vừa nguyện ý chỉ cưới riêng một mình con, giữa thế gian này có khác gì mò kim đáy bể.”
Ông từng nhiều lần thủ thỉ, rằng tâm tư này của nàng nếu truyền ra ngoài nhất định sẽ khiến thiên hạ chê cười. Đã phận đàn bà con gái, lại không biết an phận, đi tham cầu vị trí độc tôn, đây chẳng phải là tự làm khó mình hay sao?
Lê Yển Nguyệt lại nghĩ, dẫu sao nàng cũng không phải con gái nhà thế tộc, không có môn hộ cao sang phải giữ, nên cũng chẳng cần đem đời mình buộc vào mấy lời khen chê vô thưởng vô phạt của thế nhân.
Dù nàng không có bản lĩnh và chí lớn như Triệu nữ ở núi Nưa, dám cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ngoài biển Đông [1]. Nhưng ít nhất, nàng cũng sẽ học theo bà, không chịu khom lưng làm tì thiếp cho người.
**
Mưa ngâu kéo dài thêm năm ngày. Sau đó, nước rừng thật sự đổ xuống Trường Yên, nước từ các nhánh sông cũng dâng cao lên trông thấy. Nghiêm trọng nhất là ở hai huyện Uy Viễn và Yên Ninh.
Sáng hôm ấy, trời chưa rõ mặt người, gà cũng chưa kịp gáy canh cuối, Lê Yển Nguyệt còn chưa thật sự tỉnh táo sau giấc ngủ thì bên ngoài đã nổi lên một cuộc huyên náo.
Ban đầu là tiếng người gọi nhau thất thanh, tiếp đó là tiếng chân chạy dồn dập, tiếng cửa gỗ bị đập rung, còn có tiếng chó sủa, gà kêu loạn xạ. Lẫn trong những âm thanh hỗn tạp ấy là tiếng nước vọng tới từ xa, mỗi lúc một gần, mỗi lúc một nặng, nghe như có một đàn trâu mộng đang lồng lên trên sườn núi.
Lê Yển Nguyệt và thầy Khương đồng loạt xách đèn chạy ra sân.
Khi cửa mở, trước mắt hai người chỉ còn màn mưa trắng đục. Nước rừng từ mạn núi cuồn cuộn đổ xuống, kéo theo đất đá, cành cây và những bụi tre non bật gốc. Dòng nước hung hãn tràn qua những thửa ruộng, ngoạm lấy bờ đất rồi ào ạt xô về phía xóm làng.
May thay, dòng nước lớn chảy chếch về phía tây, còn căn nhà nhỏ của hai thầy trò nằm bên mé đông, lại dựng trên một gò đất cao. Xem chừng đợt lũ đầu tiên sẽ không cuốn tới nơi này.
Nhưng có rất nhiều người không may mắn như vậy.
Chưa đầy một canh giờ, từ mỏm đất cao, Lê Yển Nguyệt trông thấy từng mái nhà bị dòng nước đục cuốn mất. Có mái tranh bị bóc khỏi xà, xoay tròn giữa dòng lũ. Có hàng rào tre bị bẻ gãy, nằm ngổn ngang trên mặt nước. Lại có những chiếc chum sành nổi lềnh bềnh, va mạnh vào thân cây, cột nhà rồi vỡ tan thành nhiều mảnh.
Xa hơn nữa, tiếng kêu cứu vang dậy tứ bề.
Ban đầu, dân chúng vẫn còn tin vào lính lệ của huyện nha và người của dinh An phủ sứ. Ai cũng rõ trong dinh có hơn chục chiếc thuyền lớn, thường ngày mang danh là để phòng khi lũ lụt. Vậy mà đến khi thiên nhiên thật sự thịnh nộ, một chiếc cũng không còn bóng dáng, tưởng như đã xuôi theo con nước mà trôi mất ra biển đông.
Cảnh tượng trước dinh đặt tại huyện Yên Ninh chính là thế này: tấm biển sơn son vẫn nguyên vẹn treo trong công đường, bến thuyền trơ trọi những cọc neo xiêu vẹo, đám lính lệ tay không đứng nhìn, mặt mày tái mét.
Dân chúng ngoi ngóp trong biển nước, sau cùng chỉ có thể tự cứu lấy nhau.
Họ dắt díu nhau lên những gò đất cao. Trai tráng dùng sức chặt tre, xoắn dây, kết bè, lần theo dòng nước xiết tìm người mắc nạn. Người già, đàn bà và trẻ nhỏ co cụm lại một chỗ, run rẩy dưới màn mưa.
**
Chú thích:
[1] Chỉ tích bà Triệu, tức Triệu Thị Trinh (226 - 248). Năm 248, bà phất cờ khởi nghĩa chống giặc Đông Ngô, đặt căn cứ tại núi Nưa (Thanh Hóa ngày nay). Bà có một câu nói nổi tiếng: “Ta muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ không chịu khom lưng làm tì thiếp cho người.”