Chương 4: Tạm biệt
Đứng lên vững rồi, Lê Yển Nguyệt liền buông tay khỏi vỏ kiếm. Nàng lùi lại nửa bước, hơi khom người:
“Đa tạ công tử.”
Người nọ cũng thu lại kiếm về, nghiêng người nhường lối:
“Cô vào trong ngồi đi. Thú dữ vốn kỵ lửa, ngồi sau đống lửa sẽ yên ổn hơn.”
“Vậy còn công tử?”
“Ta đổi chỗ với cô.”
Dứt lời, chàng liền bước đến chỗ nàng ngồi ban nãy, thong thả vén vạt áo rồi ngồi xuống, thanh kiếm đặt nằm ngang bên gối.
Lê Yển Nguyệt lại đưa mắt nhìn ra ngoài lần nữa, những tiếng gầm gừ kia đã bị mưa gió xé vụn, tan mất tự lúc nào. Nàng đi đến ngồi xuống bên đống lửa, tháo mảnh vải sạch giắt trong gùi, sau đó cẩn thận lau đi những vết đất cát bám trên miệng vết thương trong lòng bàn tay mình.
Nàng không để ý, ánh mắt người nọ thỉnh thoảng có đưa về phía mình. Chỉ là ánh nhìn ngay thẳng, chàng quan sát đôi tay trắng mảnh đang hơ trước lửa, rồi lại lướt qua cành mận khô đang cố định suối tóc đen đẫm nước của nàng.
Đây là lần đầu tiên chàng thấy có người dùng cành mận thay trâm cài.
“Cô biết nghề thuốc à?”Chàng lên tiếng hỏi.
Lê Yển Nguyệt thấy chàng đang nhìn những nhánh kim ngân trong gùi, bèn lắc đầu:
“Không dám nhận, thầy ta mới là thầy thuốc, còn ta vẫn đang học việc mà thôi.”
“Sao cô lại phải lên núi hái thuốc giữa lúc mưa gió thế này?”
“Đợt mưa mùa năm nay kéo dài quá. Thầy ta đoán nước rừng có thể đổ xuống trong mấy ngày tới, nếu chẳng may đúng khi nước sông cũng dâng cao, như vậy ắt sẽ thành nạn lụt. Khi ấy các cây thuốc tốt trên núi sẽ bị cuốn sạch, gặp lúc cần dùng, không có thì không cứu người được.”
Chàng gật đầu, lại hỏi:
“Cô là người Trường Yên?”
Bây giờ, Lê Yển Nguyệt mới chính thức đưa mắt nhìn thẳng về phía chàng, nàng đáp mà có hơi nghi hoặc:
“Phải, lộ Trường Yên, huyện Yên Ninh.” Nàng nhìn chàng một lượt, nói tiếp: “Còn công tử, ta nhìn anh hẳn không phải người ở vùng này.”
“Sao cô nói vậy?”
“Cách ăn mặc, giọng nói của anh đều khác, còn có… khí độ, ý là phong thái toát ra từ người anh, không giống với người ở đây.”
Người nọ nghe nàng nói thì dường như nảy thêm vài phần hứng thú, lưng dần thẳng lại.
“Trường Yên tựa lưng vào đất cố đô, xưa nay vẫn là nơi trọng yếu bảo vệ cho Thăng Long. Sao nghe giọng của cô, ta lại chẳng cảm nhận được mấy phần lưu luyến vậy?”
Chàng nhìn thấy đôi mắt sáng của nàng chợt hiện lên vài nét u uất và giễu cợt.
“Hư danh cả thôi. Mưa dầm đến đâu rồi cũng sẽ tạnh, cơ mà mây mù phủ trên vùng đất này, có lẽ vĩnh viễn cũng chẳng tan.”
Phải, quan gia cùng muôn kẻ bề tôi xứ Thăng Long vẫn anh minh, chính trực, soi tỏ mọi oan khuất của nhân gian. Nhưng riêng nơi này, danh xưng cố đô tiền triều họ Đinh quá lớn, vẻ sung túc hưng thịnh bao bọc bên ngoài sáng chói như một lớp vàng mã, đứng từ bên ngoài nhìn vào, vốn dĩ là không thấu nổi.
Người ngoài nhìn vào, tưởng là thái bình thịnh trị, kẻ sống dưới vòm trời, mới biết là bãi bùn đầy rắn rết yêu ma.
Người nọ lại lên tiếng:
“Ta chưa hiểu ý cô.”
Lê Yển Nguyệt cúi đầu, chăm chú lau vết thương trong lòng bàn tay, ngữ điệu vang lên như đang kể một câu chuyện phiếm:
“Ta không dám nói nhiều. Thầy ta dạy mãi, sống ở Trường Yên thì phải biết giữ lấy miệng mình. Ta chỉ khuyên công tử một câu, nếu anh muốn định cư ở đây lâu dài thì nên cân nhắc cho thật kỹ. Mấy chữ chánh đại quang minh treo giữa công đường không dành cho dân đen thiếu bạc đâu.”
Ánh mắt người đàn ông lại dừng trên cành mận khô vắt trên tóc nàng. Rất nhiều năm sau, chính chàng cũng khó lòng lý giải vì sao lúc này, mình lại để tâm đến một cành cây đã khô cài trên tóc một nàng thiếu nữ.
Mà bấy giờ, chàng càng không biết ánh mắt thiếu nữ ấy cũng đang dao động, kín đáo quan sát mình.
Đây là lần đầu Lê Yển Nguyệt gặp một người đàn ông chỉ ngồi yên, một chân duỗi, một chân co, một tay giữ kiếm, một tay buông hờ, lại toát ra vẻ khoan thai và vững vàng đến thế. Cả người như tùng như bách, cốt cách tỏa ra lại ôn hòa như ngọc, ở giữa đại ngàn thâm u thật sự khiến người khác thấy an lòng.
Qua thêm một lúc, gió đêm vượt qua đống lửa, thấm vào vạt áo ướt của Lê Yển Nguyệt, khiến nàng khẽ run lên.
Người nọ nhìn thấy, trong thoáng chốc lại đứng dậy. Chàng tháo chiếc áo ngoài màu lam thẫm trên người mình ra, phủi nhẹ mấy vạt nước đọng trên vạt áo rồi đặt ngay ngắn bên chân nàng.
“Cô có thể dùng tạm. Nếu thấy không tiện khoác thì hãy lót xuống chỗ ngồi, như vậy sẽ đỡ lạnh hơn.”
Dứt lời, còn chưa đợi Lê Yển Nguyệt phản ứng, chàng đã quay về ngồi xuống bên cửa tháp.
Nàng ngồi yên nhìn chiếc áo bên chân mình, cứ muốn lên tiếng lại thôi, phải qua gần một khắc mới sắp xếp xong ý tứ trong đầu:
“Công tử vẫn nên khoác áo thì hơn. Anh ở ngoài đó lạnh hơn ta.”
Người nọ lắc đầu:
“Không sao.”
Lê Yển Nguyệt thật lòng không dám khoác áo, cũng không sao ngủ nỗi. Cho dù hai mí mắt đã nặng trĩu, nhưng đầu óc nàng lại vô cùng tỉnh táo, tiếng mưa rào rào và tiếng củi nổ lách tách vang rõ mồn một bên tai.
Ngoài cửa tháp, người đàn ông một tay chống lên gối, nắm tay đỡ lấy trán, hai mắt nhắm hờ. Hơi thở chàng không đều, tay còn lại vẫn đặt trên chuôi kiếm. Nàng phỏng đoán, có lẽ người nọ cũng chẳng tài nào ngủ nổi như nàng.
Đêm dài trôi qua cùng tiếng mưa rào rạt.
Khi trời hửng sáng, Lê Yển Nguyệt đứng dậy trước tiên. Nàng nâng áo bằng hai tay, mang trả lại cho chủ:
“Đêm qua, rất cảm ơn công tử đã giúp đỡ.”
Chàng gật đầu nhận áo, sau đó đưa mắt nhìn ra bên ngoài, mưa mùa vẫn cứ dai dẳng không chịu tạnh.
“Cô tự xuống núi được không?”
Lê Yển Nguyệt đang đeo gùi lên vai, nghe hỏi liền gật đầu:
“Ta xuống được, xưa nay ta rất hay lên núi này hái thuốc, đã quen đường quen nẻo rồi.”
“Vậy xin tạm biệt tại đây.”
Khoảnh khắc này, cả hai đều chẳng ý thức được, hai chữ từ biệt nhẹ như hạt mưa đó thốt ra, rơi vào lòng họ đã gợn lên một vòng sóng nhỏ.
“Tạm biệt, kính công tử luôn vạn dặm bình an.”
Khi cúi người thi lễ, ánh mắt Lê Yển Nguyệt chợt lướt qua miếng ngọc màu xanh trong treo dưới thắt lưng của chàng. Bây giờ mới nhìn rõ, trên mặt ngọc có khắc hình trăng khuyết. Trùng hợp thay, tên của nàng cũng là trăng khuyết [1].
Lê là họ do cha mẹ đã khuất để lại, còn tên là do thầy Khương đặt cho nàng. Ông nói nàng từ thuở bé thơ đã mất đi song thân, thế thì lấy khuyết gọi khuyết, dĩ độc trị độc, mong phần đời còn lại của nàng sẽ được giữ gìn nguyên vẹn, không bao giờ lại phải mất đi.
Người đàn ông khoác lại áo ngoài, sau đó đội nón rồi bước vào màn mưa.
Lê Yển Nguyệt nhìn theo bóng người đang dần khuất giữa màu trắng mờ của núi rừng, đột nhiên nhớ đến một lời nói bâng quơ của thầy Khương. Ông nói, trời đất rộng lớn khôn cùng, người với người, có thể gặp được nhau chính là duyên phận, vô cùng kỳ diệu và quý giá.
Một buổi tao ngộ này, tuy thoáng chốc và mơ hồ, nhưng có lẽ nàng vẫn nên thật lòng trân quý.
Khi Lê Yển Nguyệt rời đi, tháp Linh Tế lại trở về dáng vẻ quạnh hiu vốn có. Đống lửa đã tàn, tro nguội bay tao tác để lại vài vệt đen mờ trên nền gạch vỡ.
Hai người, hai ngả, đến cả danh xưng cũng không hề để lại.
Khi Lê Yển Nguyệt về tới nhà thì đã quá nửa giờ Thìn. Trông nàng lúc này chẳng còn chút dáng vẻ đoan trang nào, tóc tai rối bời, áo váy lấm lem, tựa như một con mèo hoang vừa tắm trong bãi bùn.
Thầy Khương đã chờ nàng từ sớm. Nhác thấy bóng người, ông liền hớt hải chạy ra, đến cả ô cũng không kịp mở:
“Nguyệt, có làm sao không?”
Lê Yển Nguyệt tháo chiếc gùi chứa đầy kim ngân xuống trước, đặt vào tay ông rồi mới lắc đầu:
“Con không sao. Đêm qua lúc chuẩn bị xuống núi thì nghe tiếng động lạ, tưởng nước ở thượng nguồn sắp đổ xuống nên con trú tạm trong tháp Linh Tế, cũng may là chưa có lũ thật.”
Nàng chỉ gặp một người lạ mà thôi.
Cả người nàng lấm lem đến mức cảm thấy ngứa ngáy, nói với thầy Khương thêm vài câu, nàng liền đi ra gian tắm quây phên nứa sau nhà.
Gột sạch bùn đất, vừa thay xong bộ váy áo khô ráo, tóc còn chưa kịp chải xuôi, Lê Yển Nguyệt đã nghe thấy tiếng thầy Khương gọi mình:
“Nguyệt, Đinh Hạ đến tìm con.”
Bàn tay đang chải tóc của nàng khựng lại, chiếc lược gỗ đứng yên giữa làn tóc ướt.
**
Chú thích:
[1] Yển Nguyệt: chiết theo Hán tự 偃月, nghĩa là trăng khuyết.