Đọc to (tiếng Việt) Nhấn phát để bắt đầu
Ngọc Ẩn Bóng Tùng

Chương 2: Kim ngân

Người người vẫn ca tụng chiến công và hào khí Đông A của hùng binh nhà Trần. Ba lần vó ngựa Mông Nguyên tràn xuống phương Nam đều phải quay đầu dưới ô danh của phường chiến bại. Triều Trần đang buổi hưng thịnh, vua sáng tôi hiền, dưới ngai rồng có lớp lớp văn thần võ tướng, cùng chung sức gây dựng thái bình.

Dẫu thế, trên cả dải non sông rộng lớn vẫn còn dấu vết ung nhọt đã cắm sâu. Xui xẻo thay, Trường Yên chính là một nơi như vậy.

Thầy Khương kể rằng cha mẹ Lê Yển Nguyệt đều chết dưới tay thổ phỉ. Bấy giờ nàng còn quá nhỏ, nhỏ đến mức gương mặt của đấng sinh thành cũng không nhớ nổi. Rồi ngày qua tháng lại, nàng lớn lên dưới vòm trời này, nghe đến quen tai tiếng than khóc tỉ tê của những người mang oan khuất.

Thổ phỉ hung tàn, hào trưởng vơ vét, ác bá ngang nhiên chèn ép dân lành. Còn kẻ ngồi trên công đường lại ngoảnh mặt làm lơ, cố ý mắt điếc tai đui trước những tiếng kêu oan khản đặc ngay dưới mũi chân mình.

Khi đoàn lính lệ áp giải tội nhân đã đi khuất, Lê Yển Nguyệt mới từ từ nâng ô lên. Nàng ngước nhìn nhìn tầng tầng mây xám nặng trĩu trên đầu, rồi lại cúi xuống nhìn gấu váy đã lấm đầy bùn đất của chính mình.

Đến bao giờ? Rốt cuộc đến bao giờ, nơi này mới có được một vị quan thanh liêm, công chính, đủ sức xua tan đám mây mù dai dẳng này?

Thầy Khương tháo một sợi lạt mềm buộc gói bánh nếp, giúp nàng buộc lại mái tóc dài đang xõa tung, sau đó thở dài:

“Được rồi, về nhà thôi.”

Hai thầy trò họ chẳng có sức hỏi tội thời thế, càng không có thừa sinh mạng để xoay chuyển thời thế. Những gì họ có thể làm, chỉ là cố giữ đôi tay mình khỏi vấy bùn, âm thầm mong mỏi quan gia [1] anh minh soi tới được việc xấu ở Trường Yên, cử đến đây một người thật sự có dáng làm quan.

Thầy Khương đã sống như thế suốt nhiều năm.

Ông là thầy lang, cùng Lê Yển Nguyệt sinh sống trong một căn nhà nhỏ cách huyện lỵ một quãng. Trước nhà là bờ ruộng, sau nhà có mảnh vườn trồng thuốc, vừa đủ xa để tránh chuyện thị phi, càng khỏi phải thường xuyên gặp mặt với đám nha lại lòng dạ khó lường.

Trước kia, thầy Khương từng giữ một chức lại nhỏ ở huyện đường Uy Viễn [2], gọi là ngỗ tác, chuyên khám nghiệm thi thể. Nhưng càng ở nơi ấy lâu, ông càng thấy mình bị vấy bẩn. Rõ ràng người chết vì trúng thạch tín, quan huyện lại ép ghi thành bị rắn cắn. Rõ ràng người chết vì bị dao đâm thấu bụng, quan huyện lại bắt sửa thành trượt chân ngã vào đá nhọn.

Xác chết còn cố gắng kêu oan, nhưng kẻ sống ngồi trên công đường lại cứ nhất mực không chịu thấu.

Thế thì thôi. Vì chút tiền công cáng và hư danh mà ngày ngày bị ép làm chuyện trái với lương tâm, thà chịu đói đôi bữa, trở về làm thầy thuốc cứu người còn hơn.

**

Qua giữa tháng bảy, mưa mùa vẫn chưa có dấu hiệu ngừng. Ngày nối sang đêm, tiếng mưa cứ rả rích mãi, nước đọng dưới chân hiên, rêu xanh bám trơn những bậc gạch.

Một buổi chiều, Lê Yển Nguyệt đang ngồi bên hiên, đôi tay trắng mảnh liên tục đảo những mâm thuốc đang hong khô dưới mái. Đến khi ánh nắng chiều tà nhợt nhạt dần khuất phía sau dãy núi mờ hơi nước, thầy Khương mới trở về. Ông vẫn khoác áo tơi, tay ôm một tráp thuốc lớn, rảo bước qua sân.

“Thầy, bà Phan sao rồi?”

Thầy Khương tháo nón xuống, dưới vành nón ướt sũng là gương mặt nặng nề.

“Chết rồi.”

Lê Yển Nguyệt lập tức cau mày, trong lòng cũng chùng xuống:

“Chết? Sao lại thế?”

Thầy Khương quăng chiếc nón ướt xuống bàn, hậm hực nói:

“Ta vốn có thể cứu được bà ấy. Nhưng vừa lúc sắp thành, chẳng biết tên lính lệ từ đâu xộc vào, báo tin Tam chết rồi. Hắn chết ngay trên đường đi, khi còn cách Thăng Long chưa tới hai mươi dặm, xác thì bị quẳng lại bên vệ cỏ. Con nói xem, bà Phan nghe tin dữ này, có uất ức đến mức đứt hơi hay không?”

Bà Phan chính là mẹ của Tam, “tội nhân” cướp vàng bị áp giải về kinh đô mấy hôm trước.

Tam chết, oan thật hay giả cũng đều theo ông ta xuống âm ti. Hai mươi lạng vàng kia có thật là do ông ta lấy hay không, từ nay cũng sẽ chẳng còn ai đối chất nữa. Lại nói hôm nay, cho dù bà Phan không uất ức mà qua đời, thì ngày sau cũng chưa chắc thoát được tội liên can.

Thầy Khương nhìn nàng, đột ngột kêu lên:

“Nguyệt, con đừng vò nữa! Nát hết thuốc của ta rồi!”

Lê Yển Nguyệt giật mình. Lúc này, nàng mới nhận ra bàn tay mình đã siết lại tự lúc nào, vô ý vò nát mấy lá thuốc đặt trên mâm.

Nàng thở dài, buông tay rồi cẩn thận giở lại từng lớp thuốc. Một lát sau, nàng nhíu mày:

“Thầy, số thuốc này chúng ta hong đã mấy tuần mà vẫn chưa ráo hẳn. Mưa còn kéo dài, nếu cứ đà này, chẳng bao lâu nữa thì chúng sẽ mốc hết.”

Thầy Khương nhìn mấy mâm thuốc, rồi lại ngước nhìn trời:

“Năm nay mưa lớn thế này, chỉ sợ nước từ trên núi đổ xuống, sông ngòi đầy lên, dân chúng lại một phen khổ cực.”

Ngón tay Lê Yển Nguyệt bỗng khựng lại. Nàng nhìn kỹ những mâm thuốc trước mặt, giọng đầy lo lắng:

“Thầy, kim ngân hoa [3] hết rồi sao?”

“Gì chứ?”

Nàng né qua một bên, chỉ vào chiếc mâm nhỏ đặt trong góc:

“Chỉ còn hai nắm nhỏ thể này thì cứu được mấy người?”

Thầy Khương vỗ trán:

“Tiêu rồi, lần trước có một tên học trò ở chỗ Đinh Hạ bị nổi nhọt độc sau gáy, sốt đến mê man, ta đem gần hết chỗ kim ngân phối thuốc cứu hắn, còn chưa kịp hái bù vào!”

Lê Yển Nguyệt nghe vậy cũng đưa tay xoa lấy mi tâm, nhìn màn mưa trắng xóa bên ngoài, nàng không nhịn được mà than:

“Nếu nước nguồn thật sự đổ xuống, nước mưa chứa nhiều ứ độc, không có thuốc, e rằng người bệnh sẽ nằm thành mấy hàng mất.”

Nói xong, nàng đứng dậy búi gọn tóc, nhanh nhẹn đi tới góc nhà lấy gùi hái thuốc, tiện tay cầm lấy nón lá của thầy Khương mà đội lên đầu.

“Nguyệt, con định làm gì?”

“Con đi hái kim ngân.”

Thầy Khương lập tức bước tới, đưa tay gõ cốc lên đầu nàng:

“Chán sống rồi sao? Không nghe ta vừa nói gì à? Nước nguồn có thể đổ xuống bất cứ lúc nào. Người ngợm con được bao nhiêu, lũ ập tới một lượt là mất dạng. Ông già như ta có chạy xuống tận hạ nguồn cũng chưa chắc vớt được xác con!”

Lê Yển Nguyệt vừa xoa đầu vừa dậm chân:

“Thầy à, thầy bớt nói gở một chút có được không? Làm thầy lang mà cứ mở miệng ra là chết với chóc.”

“Ta không nói thì ông trời sẽ tạnh mưa chắc?”

Nàng thở dài:

“Cũng mới là thầy đoán, chưa chắc thật sự có lũ. Liều một chuyến còn hơn ngồi nhìn cây thuốc bị nước cuốn sạch. Con sẽ đi nhanh về nhanh. Bằng không, chưa đợi đến mùa hạ năm sau, cái biển thầy lang ngoài cổng nhà chúng ta đã phải tháo xuống vì bất tài rồi.”

Thầy Khương nói:

“Thế thì ta đi cùng con.”

Nàng vội xua tay:

“Không cần không cần. Một người đi, một người ở. Nhỡ có chuyện thì còn có kẻ chèo thuyền đi vớt xác.”

Nếu đôi guốc dưới chân không dính đầy bùn, chắc chắn thầy Khương đã tháo ra ném thẳng vào người nàng.

“Cái miệng chẳng ra gì của con!”

Rốt cuộc, Lê Yển Nguyệt vẫn đi.

Thầy Khương vẫn thường nói nàng là kẻ có mạng lớn. Năm xưa, cha mẹ bị thổ phỉ xông vào nhà cướp của giết người, nàng mơ mơ màng màng trốn trong đụn rơm, nhờ vậy thoát được một mạng. Mấy năm sau, Yên Ninh nổi dịch đậu mùa, đến con cái quan lại và phú hộ cũng khó tránh tai kiếp, vậy mà nàng vẫn bình an qua khỏi.

Lần này chỉ là đi tìm mấy cây thuốc, nàng không tin chúng có thể lấy mạng mình.

**

Chú thích:

[1] Quan gia: cách tôn xưng nhà vua được dùng dưới triều Trần. Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng năm 1250, vua Trần Thái Tông xuống chiếu cho thiên hạ gọi vua là “quan gia”. Theo cách giải thích được dẫn từ Tư Trị Thông Giám, “quan gia” là một danh xưng dành cho thiên tử, kết hợp từ những cách gọi vua có từ thời Hán. Danh xưng này tiếp tục được sử dụng phổ biến trong triều Trần để chỉ vị vua đang tại ngôi. 

[2] Uy Viễn: một huyện thuộc lộ Trường Yên, tương ứng với vùng Gia Viễn, Ninh Bình ngày nay.

[3] Kim ngân hoa: còn gọi là dây nhẫn đông. Đây là loài dây leo mọc hoang ở bờ bụi, ven đường và sườn núi. Hoa mới nở màu trắng, sau chuyển dần sang vàng. Hoa, thân và lá được dùng làm thuốc thanh nhiệt, giải độc, chữa mụn nhọt, mẩn ngứa, sốt nóng và bệnh lỵ. 

 

Bình luận đoạn văn

Bình luận

Trả lời bình luận

Chỉnh sửa bình luận

Thiết lập văn bản

Xem trước

Nội dung sẽ hiển thị như thế này

Chọn font chữ

Cỡ chữ

12px 30px