Chương 1: Trường Yên
Đại Việt, Nhâm Thìn, Trùng Hưng năm thứ tám [1] đời vua Trần Nhân Tông [2].
Lộ Trường Yên [3], huyện Yên Ninh [4], thư viện họ Đinh.
Tháng bảy, mưa ngâu rơi dằng dặc suốt mấy hôm liền vẫn chưa dứt. Xóm làng vừa trải qua một mùa hạ nắng đến nứt nẻ chân chim, nung đá núi thành mấy hòn than bỏng. Nay gặp dịp nước trời đổ xuống, ngấm sâu vào đất, kéo lên mùi bùn non ngai ngái lẫn với hương lúa đang thì mơn mởn ngoài đồng.
Trong gian nhà phía đông của thư viện họ Đinh, mành trúc buông trước hiên bị gió lay qua lay lại, chạm vào cột gỗ vang lên những tiếng lách cách.
Lê Yển Nguyệt lặng lẽ nhìn người đàn ông trước mặt. Đinh Hạ mặc áo sam màu xanh nhạt, cổ áo khép ngay ngắn, mái tóc búi cao bằng một dải lụa cùng màu. Dáng người y thanh tú, phong thái nho nhã, toát lên vẻ sạch sẽ của kẻ quanh năm quen nghiên bút, lại có chút phong lưu dễ khiến thiếu nữ xiêu lòng.
Dáng vẻ đó làm nàng nhớ tới thuở nhỏ, khi theo thầy Khương sang làng bên hái thuốc, gặp Đinh Hạ ngồi đọc sách dưới tán cây hoa gạo. Thiếu niên áo vải năm đó tặng nàng một nhành hoa, về sau, cũng chính y nói đời này chỉ cưới một mình nàng làm bạn kết tóc.
Trải qua mấy bận xuân hạ thu đông, vẫn là y, đứng trước mặt nàng, nói rằng muốn đón một người con gái khác vào nhà bái lạy tổ tiên.
Lê Yển Nguyệt nhìn Đinh Hạ hồi lâu, sau cùng cụp mi, mỉm cười. Nàng đưa tay tháo trâm ngọc trên tóc xuống, đặt ngay ngắn vào chiếc hộp gỗ trước mặt. Khoảnh khắc nắp hộp khép lại, tiếng động vang lên nghe như tiếng một sợi tơ cố căng nhiều năm vừa đứt phựt.
Đinh Hạ biến sắc:
“Nguyệt, nàng đang làm gì thế?”
Trâm vừa buông, những lọn tóc đen nhánh của Lê Yển Nguyệt không còn vật giữ, từ từ rơi xuống quá lưng. Nàng đưa chiếc hộp về phía y.
“Hết nợ, cạn duyên, vật đính ước này thiết nghĩ phải trả về đúng chủ.”
Đinh Hạ không đưa tay nhận, ánh mắt y nhìn nàng như thể vừa được nghe một câu chuyện hết sức hoang đường.
“Cái gì mà hết nợ cạn duyên? Nguyệt, chỉ vì ta muốn cưới Ngọc Ngư về làm lẽ, nàng liền muốn đoạn tuyệt hôn ước bao năm giữa chúng ta?”
“Nghe lời anh nói, dường như chuyện ấy chẳng đáng để ta bận lòng?”
Đinh Hạ bước lên một bước:
“Ta đâu bạc đãi nàng. Ngư nương vào cửa sau nàng, suốt đời nàng ấy phải luôn kính nàng là chị. Nàng sẽ là người ta cưới hỏi đàng hoàng, là dâu cả trong nhà họ Đinh, danh phận ấy nào có kẻ ngoài tranh được!”
Lê Yển Nguyệt nghe đến đó, khóe mắt phượng khẽ nheo lại:
“Lời thề khi lập hôn ước của anh đâu có nhắc tới danh phận. Anh chỉ nói đời này chỉ cưới một mình ta.”
Ngoài hiên, mưa theo gió tạt nghiêng, quất lên tàu chuối nghe ràn rạt. Mành trúc run mạnh, mấy giọt nước lạnh bắn qua song cửa, rơi xuống mặt án ở giữa hai người.
“Nguyệt, đừng nói như thể là ta đã phụ nàng. Đàn ông cưới thêm nhiều người, gia phả càng hưng thịnh, đây vốn đã là lẽ thường. Cha ta, chú ta, thậm chí những bậc quyền quý ngoài đất Thăng Long, ai lại không như thế? Ta vẫn trọng nàng, vẫn để nàng đứng đầu trong nhà, chẳng lẽ vẫn còn chưa đủ?”
Lê Yển Nguyệt đưa mắt nhìn những hạt mưa đang nối nhau rơi xuống bên ngoài, thanh âm mềm mại mà lạnh như kim, len qua từng kẽ áo. Nàng chợt nhớ tới lời hát vu vơ của những người phụ nữ giặt áo ngoài bến Tương giang: Thân em như lá đài bi, ngày thì dãi nắng đêm thì dầm sương. Thân em như hạc đầu đình, muốn bay không cất nổi mình mà bay.
Hóa ra, một khi những đạo lý kỳ lạ được ngấm qua nhiều đời, người ta sẽ nghe mãi thành quen, xem mọi thiệt thòi là số phận.
Nàng quay lại nhìn Đinh Hạ:
“Anh Đinh Hạ, anh đọc nhiều sách hơn ta, hiểu nhiều đạo lý hơn ta, cũng gặp gỡ nhiều hiền nhân hơn ta. Vậy ta hỏi anh một điều, nếu hôm nay ta cũng muốn có thêm một người đàn ông khác chung phòng, anh có bằng lòng không?”
“Càn rỡ! Nàng là phận đàn bà con gái…”
Lê Yển Nguyệt gật đầu:
“Đúng, càn rỡ. Anh không chịu được, vậy cũng đừng buộc ta phải cam lòng.”
Dáng hình của Đinh Hạ nằm trọn vẹn trong mắt nàng. Thiếu niên từng hẹn ước thủy chung với nàng, năm tháng vùi đầu trong kinh sách, học được vô vàn đạo lý, lễ nghi, cuối cùng vẫn không thật sự thấu tường cái nghĩa phải trân quý duyên tình.
Thế thì… thôi vậy.
“Anh Đinh Hạ, thôi vậy. Nếu thật sự không thể một dạ một lòng, vậy hôn ước kia giữa chúng ta từ nay chấm dứt. Nếu còn chút nghĩa, sau này vẫn có thể là bạn hữu, đồng hương. Còn duyên nợ vợ chồng, níu kéo không ích gì, chúng ta đều không cần cố hứng lại một bát nước đã đổ đi.”
Nói rồi, Lê Yển Nguyệt đi lướt qua vai Đinh Hạ. Tay áo lụa màu lục nhạt của nàng khẽ chạm vào tay áo y, chẳng để lại chút cảm giác gì. Khi đi đến bậc cửa, nàng chợt dừng lại, lên tiếng mà không quay đầu:
“Đời này, ta nguyện dùng trâm gỗ cài tóc, lấy chỉ hồng đeo tai, lấy bột thô làm phấn, quanh năm áo vải quần nâu, cũng không cam nguyện sống kiếp chung chồng.”
Mưa mùa tháng bảy mát rượi, vậy mà Đinh hạ lại cảm thấy có một luồng gió lạnh vuốt dọc sống lưng mình.
Lê Yển Nguyệt mở ô, bước thẳng vào màn mưa trắng xóa. Một lời đính ước, trăm câu thề hẹn, bao năm tình nghĩa tri âm, cuối cùng vẫn bị đợt mưa ngâu này của Yên Ninh rửa trôi hết thảy.
Thầy Khương đứng chờ dưới mái hiên trước cổng thư đường nhà họ Đinh. Ông khoác áo tơi lá, đội nón rộng vành, dưới nách còn kẹp thêm mấy gói bánh nếp bọc trong lá chuối khô. Thấy Lê Yển Nguyệt đi ra, ông ngó qua vai nàng nhìn vào bên trong rồi hỏi ngay:
“Con trả trâm thật đấy à?”
“Sao thầy lại tới đây?”
Nàng bước đến, nghiêng ô che về phía ông. Ông lại tránh đi, đẩy chiếc ô ngay ngắn lên đầu nàng, còn mình thì kéo vành nón xuống thấp hơn.
“Chuyện lớn như vậy, con có thể giấu được ai? Đinh Hạ đó vừa ngỏ ý muốn cưới người khác về làm lẻ, con đã chạy đến tận nhà trả tín vật. Nói nghe xem, cả huyện Yên Ninh, thậm chí khắp Trường Yên này, có ai có cái gan đó giống con!”
Lê Yển Nguyệt nghiêng đầu:
“Thầy thấy con làm sai sao?”
“Ta không có nói thế.”
“Vậy là thầy thấy con làm đúng?”
“Ta cũng không có nói thế.”
Lê Yển Nguyệt bật cười. Thầy Khương tặc lưỡi, lấy mấy gói bánh nếp nhét vào tay nàng.
Có ai thấu tính tình nàng như ông, tâm ngay, lòng thẳng, nàng đọc sách thánh hiền, có thể ngưỡng mộ tiền nhân, cũng có thể mắng chửi tiền nhân. Công dung ngôn hạnh, cầm kỳ thi họa nàng đều đã học qua, nhưng nếu ai mang bốn chữ “tam tòng tứ đức” ra trói nàng, nàng sẽ vùng vẫy đến cùng.
Với Đinh Hạ cũng như vậy. Có rất nhiều cô gái ngưỡng mộ dáng vẻ nho nhã và tài học của y. Nhưng thiên hạ rộng lớn như vậy, đâu phải ai ai cũng muốn chen chân vào một mái nhà có kẻ trước người sau, vợ cả vợ lẻ, đến chăn gối cũng chia phần như thóc gạo.
Thế gian quen chuyện đàn ông có thể cưới năm thê bảy thiếp, đàn bà lại phải nhất dạ cung phụng một chồng. Quen lâu thành lệ, rồi ngày qua ngày, năm qua năm, đời nối đời, mặc nhiên đem cái lệ ấy đặt lên bàn thờ gia pháp mà gọi là đạo lễ.
Trước kia, thầy Khương từng làm ngỗ tác [5] ở huyện đường, cũng từng dạy Lê Yển Nguyệt cách mổ khám thi thể. Nàng đã tận mắt tỏ tường rồi, tim đàn ông và tim đàn bà vốn chẳng khác nhau bao nhiêu, chẳng lớn hơn, cũng chẳng cao quý hơn. Bị đâm vào thì chảy máu, ngừng đập rồi thì co lạnh.
Tiếng mưa đều đều trên con phố nhỏ bỗng bị một trận huyên náo phá tan.
Một toán lính lệ từ đầu đường đi tới, miệng không ngừng quát vang. Chân bọn họ dẫm xuống những vũng nước đọng làm bùn đất bắn lên tung tóe. Viên cai đi đầu vung roi mây dẹp lối, lớn tiếng hô:
“Áp giải trọng phạm về Thăng Long! Người không can hệ mau tránh đường!”
Mưa lớn cũng không ngăn nổi lòng hiếu kỳ của dân chúng. Người trong quán nước và các nhà hai bên phố đồng loạt thò đầu ra. Chẳng bao lâu, kẻ đứng dưới mái hiên, người chạy hẳn xuống đường, chen nhau nhìn chiếc xe cũi đang chậm chạp lăn qua.
Trong cũi là một người đàn ông gầy gò. Hai tay ông ta bị xích sắt trói chặt, cổ mang gông, đầu tóc rũ rượi, ướt sũng. Chiếc áo vải trắng trên người ông ta đã rách bươm, những chỗ còn nguyên cũng bê bết máu.
Lê Yển Nguyệt lẫn trong dòng người, nheo mắt nhìn. Nàng thấy trên thân thể người ấy có vết roi quất, vết gậy đánh, thậm chí còn có những mảng da cháy xém do sắt nung áp thẳng vào. Vết thương hở gặp nước mưa, máu loãng theo đó mà chảy xuống thành dòng.
Với tình trạng này, chỉ e chưa kịp đi đến kinh thành, ông ta đã chết vì da thịt lở loét, sinh độc.
Những tiếng xì xào nổi lên từ hai bên đường:
“Đó chẳng phải là bác Tam ở ngoài bãi sao? Ông ta quanh năm đốn củi kiếm cơm, nổi tiếng hiền lành, sao chớp mắt đã biến thành trọng phạm rồi?”
“Phải đó, lần trước gặp bão, nhà ta bị tốc mái, là ông ta xông xáo nhất phụ giúp cơi cất lại đấy!”
“Có khuất tất! Chuyện này nhất định có khuất tất!”
Viên cai nghe tiếng bàn tán, lập tức trợn mắt. Hắn quất roi xuống mặt đường đánh bốp một tiếng rồi hét lớn:
“Gã Tam này nửa đêm lẻn vào dinh An phủ sứ [6], cướp mất hai mươi lạng vàng công sắp nộp về kinh đô, lại còn tợn gan lớn mật châm lửa đốt kho hòng xóa sạch dấu vết. Tội này đem chém trăm lần cũng còn chưa đáng!”
Lê Yển Nguyệt khẽ hừ giọng:
“Hắn đang kể chuyện để dỗ trẻ lên ba sao? Một người đốn củi mà lại có bản lĩnh vượt qua lớp lớp lính canh, chạy vào tận dinh An phủ sứ mà cướp lấy hai mươi lạng vàng ròng?”
Thầy Khương đứng bên cạnh vội suỵt nàng:
“Con bé này, muốn yên thân thì bớt lời đi!”
Lê Yển Nguyệt mím môi, hạ ô xuống thấp hơn, nhưng ánh mắt nàng vẫn đăm đăm nhìn theo tấm lưng nhầy nhụa máu của Tam.
Bầu trời trên đầu nàng xám đục, mưa phủ lên mái ngói, hàng cau và những bức vách đất. Cả đất trời lúc này đều như bị nhấn chìm trong hơi nước, một chút ánh sáng cũng không lọt nổi.
Người sáng mắt ắt đều hiểu hai mươi lạng vàng ròng kia đã đi đâu. Vàng công đến hạn nộp về kinh mà trong kho lại chẳng còn đủ. Thế thì quan trên bèn tìm một thường dân cô thân cô thế, đóng trăn trói xích, làm hình nhân thế mạng thay cho mình.
Nhiều năm nay, Trường Yên này vẫn luôn như vậy.
Quan lại ăn chặn của công, hào trưởng chiếm đoạt ruộng đất, thổ phỉ nghênh ngang trấn lột. Nói đến cùng, chỉ có dân đen thấp cổ bé họng, dầu có kêu đến trào cả máu thì cũng chẳng thể thấu đến cửa trời.
**
Chú thích:
[1] Tức chỉ năm 1292.
[2] Trần Nhân Tông (1258–1308): tên húy là Trần Khâm, vị vua thứ ba của triều Trần, con trưởng của vua Trần Thánh Tông; lên ngôi năm 1278 và trị vì đến năm 1293. Ngài cùng triều đình và quân dân Đại Việt lãnh đạo hai cuộc kháng chiến chống Nguyên – Mông năm 1285 và 1287–1288. Sau khi nhường ngôi, ngài xuất gia tu hành, trở thành vị tổ sáng lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, thường được tôn xưng là Phật hoàng Trần Nhân Tông.
[3] Trường Yên: Thời nhà Trần, nước ta chia thành 12 lộ, bao gồm Thiên Trường (Nam Định ngày nay); Long Hưng (một phần Thái Bình); Quốc Oai (Hà Tây cũ); Bắc Giang (Bắc Giang; Bắc Ninh); Hải Đông (Quảng Ninh và một phần Hải Dương); Trường Yên (Ninh Bình); Kiến Xương (Đông Thái Bình); Hồng (một phần Hải Phòng); Khoái (một phần Hưng Yên); Thanh Hóa (Thanh Hóa); Diễn Châu (Bắc Nghệ An); Hoàng giang (một phần Hà Nam). Dưới lộ là các huyện.
[4] Yên Ninh: một trong 4 huyện thuộc lộ Trường Yên (Uy Viễn, Yên Ninh, Yên Mô, Lê Gia), nay thuộc huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình (sau sáp nhập từ ngày 1/7/2025 thành 6 đơn vị hành chính cấp xã gồm: Yên Khánh, Khánh Nhạc, Khánh Thiện, Khánh Hội, Khánh Trung, Đông Hoa Lư)
[5] Ngỗ tác: tên một chức lại để khám nghiệm tử thi (theo từ điển Trần Văn Chánh)
[6] An phủ sứ: Năm Nhâm Dần (1242), Nhà Trần chia nước thành 12 lộ, đặt chức An phủ sứ hoặc Trấn thủ Chánh phó 2 viên để cai trị (Theo Từ điển Chức quan Việt Nam - Đỗ Văn Ninh)