Chương 12: Mảng Sương Mù
Năm giờ mười lăm phút sáng.
Tiếng chuông của chiếc đồng hồ báo thức Liên Xô để trên tủ đầu giường đập liên hồi, xé toạc lớp không khí mỏng tang, nhờ nhờ xám của buổi hừng đông. Thuấn bật dậy. Khối cơ thể sáu mươi mấy tuổi dựng đứng lên như một cái lò xo đã được lên dây cót từ đêm hôm trước, chính xác và rập khuôn.
Ông xỏ chân vào đôi dép nhựa tổ ong để ngay ngắn dưới gầm giường, góc mũi dép hướng ra ngoài đúng ba mươi độ. Hôm nay, ông mặc chiếc áo sơ mi cộc tay màu cháo lòng, vạt áo sơ vin cẩn thận vào chiếc quần âu xỉn màu, thắt lại bằng sợi dây nịt da đã bong tróc lớp mạ ở mặt khóa.
Mọi thứ trong căn nhà này vẫn giữ nguyên vị trí của nó như lúc Thu còn nằm liệt trên chiếc sập gụ. Cốc nước lọc đậy nắp kính, hộp cao Sao Vàng, chiếc khăn mặt vắt ngang thành ghế. Ông Thuấn không cho phép bất cứ thứ gì xê dịch. Sự xê dịch đồng nghĩa với sự mất kiểm soát. Và ông, một gã cựu binh từng đếm từng viên đạn trong băng đạn AK, căm ghét sự mất kiểm soát.
Ông mặc áo sơ mi xám, quần vải đen, đội mũ cối bạc màu. Trước khi ra khỏi nhà, ông quay lại nhìn vào trong phòng ngủ.
“Bà ăn gì thêm không?”
Căn phòng im lặng.
Ông đứng một lúc, như đợi câu trả lời. Rồi tự đáp thay: “Biết rồi. Ít hành”.
Ông bước ra sân, tháo ổ khóa cổng sắt rỉ sét, dắt chiếc xe đạp Peugeot ra ngõ. Tiếng xích xe khô mỡ kêu lạch cạch nhịp nhàng theo từng vòng đạp. Sương sớm Hà Nội táp vào mặt ông, mang theo mùi ngai ngái của rác sinh hoạt đêm qua chưa kịp dọn và mùi khen khét của mấy bếp than tổ ong đang nhóm dở ở cuối hẻm.
Bà Tư đang ngồi nhặt rau trước cửa, thấy ông thì ngẩng lên.
“Ông Thuấn đi đâu sớm thế?”
“Mua bánh cuốn”.
Rổ rau trên đầu gối bà Tư rơi mất một cọng xuống đất.
“À... bánh cuốn”.
Ông Thuấn nhìn bà.
“Có vấn đề gì?”
“Không. Không có gì”.
“Bà nhìn tôi như nhìn người đi lạc”.
Bà Tư cúi xuống nhặt cọng rau, giọng nhỏ hơn: “Tôi tưởng hôm nay ông không ăn sáng”.
“Không ăn thì chết à?”
“Không, ý tôi là... thôi, ông đi đi. Hàng bà Nhung hôm nay chắc mở rồi”.
Ông nhìn bà thêm một giây, thấy trong mắt bà có thứ gì đó làm ông khó chịu. Thứ ánh mắt người ta hay dùng khi nhìn người bệnh, người già, người vừa mất mát. Nó mềm quá, ướt quá, như cái khăn nhúng nước phủ lên mặt người ta khiến người ta không thở được.
“Tôi mua bánh cuốn chứ có đi xin gạo đâu”. Ông hừ một tiếng.
Bà Tư mở miệng định nói, rồi lại thôi.
Hàng bánh cuốn của bà Nhung nằm ở đầu chợ, dưới mái bạt xanh. Bếp tráng bánh đặt cạnh nồi nước sôi, hơi bốc lên trắng mờ. Bà Nhung đang dùng que tre nhấc một lớp bánh mỏng khỏi mặt vải, trải lên mâm, rắc nhân thịt mộc nhĩ, cuốn lại. Mùi bột gạo nóng, hành phi và nước mắm pha làm ông Thuấn thấy bụng hơi cồn cào.
“Bà ơi”.
Bà bán hàng ngẩng lên. Thấy ông, tay bà hơi dừng lại.
“Ông Thuấn đấy à”.
“Một suất như mọi lần nhé”.
“Vâng”. Bà Nhung cúi xuống lấy hộp xốp.
“Nhớ thì tốt. Lần trước bà cắt miếng dài quá, bà ấy ăn khó”.
Câu ấy vừa ra, mái bạt xanh như thấp xuống.
Bà Nhung không ngẩng đầu. Một người phụ nữ đang ngồi ăn ở bàn bên cũng im. Ngoài chợ, người ta vẫn mua bán, mặc cả, gọi nhau, nhưng quanh hàng bánh cuốn bỗng có một khoảng lặng rất nhỏ.
Ông Thuấn đứng khoanh tay, lông mày chau lại. Ông không thích cái thái độ chần chừ, lấm lét của mụ hàng bánh cuốn hôm nay. Ông ghét sự thương hại. Mụ ta nhìn ông bằng cái ánh mắt ươn ướt, đầy vẻ xót xa như thể ông là một lão già lẩm cẩm đáng thương. Gã lính cựu trong ông cảm thấy ngứa ngáy. Vợ ông ốm, ông đi mua đồ ăn sáng cho vợ. Có cái gì mà phải nhìn bằng ánh mắt mâm xôi con gà như thế?
“Sao?” Ông Thuấn cau mày.
Bà Nhung đáp nhanh: “Không sao. Tôi cắt vuông”.
“Vuông vừa miệng đấy”.
“Vâng”.
“Bà ấy không ăn được miếng to”.
“Vâng”.
Bà Nhung gói bánh rất cẩn thận. Hành phi để riêng dù ông đã nói không lấy, chắc do thói quen tay. Rồi bà nhớ ra, vội nhấc gói hành ra, như nhấc một lỗi lầm. Nước mắm đựng trong túi nhỏ, buộc hai lớp. Bà đặt tất cả vào túi ni-lông, đưa cho ông.
Ông trả tiền. Bà Nhung không lấy đủ. Ông đặt thêm mấy đồng lên bàn.
“Thôi, tôi gửi bà...” Bà Nhung dừng lại.
“Gửi ai?” Ông nhìn bà.
Bà Nhung cắn môi. “Không. Tôi nói nhầm. Ông cứ cầm”.
Ông đẩy tiền lại.
“Tôi mua thì tôi trả. Nhà tôi chưa đến mức ăn chịu đĩa bánh cuốn”.
Bà Nhung không dám cãi.
Ông xách túi bánh đi về. Trên đường, ông thấy người ta nhìn mình nhiều hơn thường lệ. Có thể vì ông đi sớm. Có thể vì cái túi bánh cuốn. Có thể vì họ rảnh. Những người rảnh thường nhìn người khác rất kỹ rồi tự cho là mình quan tâm. Bọn đàn bà ngoài chợ lúc nào cũng phức tạp hóa mọi thứ.
Về đến nhà, ông Thuấn lấy chiếc đĩa sứ men lam từ chạn bát, tráng qua nước sôi, cẩn thận gỡ gói lá chuối, xếp từng nếp bánh cuốn mỏng tang lên đĩa. Nước mắm được đổ ra cái bát chiết yêu nhỏ xíu. Ông bưng khay đồ ăn bằng hai tay, cẩn trọng giữ thăng bằng để nước mắm không sánh ra ngoài dù chỉ một giọt.
Nhưng hôm nay, thay vì rẽ vào buồng trong nơi có chiếc sập gụ, đôi chân ông, một cách vô thức, lại bước thẳng về phía gian nhà ngoài.
Phía trước ông là chiếc tủ chè khảm trai. Bên trên tủ chè là bàn thờ.
Thuấn đặt khay bánh cuốn lên chiếc ban thờ gỗ mít, ngay cạnh lọ hoa huệ trắng đang tỏa hương ngào ngạt.
Ông rút ba nén nhang từ ống nứa, châm lửa vào ngọn đèn dầu. Ánh lửa bập bùng soi rõ những nếp nhăn xếp lớp trên khuôn mặt già nua.
“Hôm nay… hôm nay làm lễ chung thất cho bà. Bốn mươi chín ngày nhanh thật”. Thuấn lầm bầm, giọng đều đều như đang báo cáo giao ban. “Con cái không có, tôi mua đĩa bánh cuốn chay, chả có giò chả gì. Bà ăn thanh đạm cho dễ siêu thoát. Xuống dưới đó đừng có tiếc của mà nhịn ăn nhịn mặc”.
Ông vẩy tay tắt ngọn lửa trên nén nhang, hai tay kính cẩn dâng lên ngang trán, cắm vào bát hương. Làn khói xanh mảnh dẻ uốn lượn bay lên, cuộn vào bức di ảnh đặt giữa ban thờ.
Trong bức ảnh, Thu đang nhìn ông. Vẫn là cái nhìn sắc sảo, cương nghị, không pha lẫn chút yếu đuối nào của người đàn bà bên bến sông Hồng năm xưa.
Thuấn chớp mắt. Làn khói nhang cay xè xộc vào niêm mạc mắt khiến ông hơi nhòe đi. Ông lùi lại nửa bước, đứng nghiêm, định vòng tay chắp lại vái thêm ba vái theo đúng lễ nghi.
Nhưng ngay khoảnh khắc ông cúi đầu xuống, ánh mắt ông va phải cái bát nhang.
Bát nhang trên bàn thờ không phải là cái bát nhang tạm bằng nung đất đỏ, quấn giấy vàng mà ông dùng để bốc dở ngay sau khi hạ huyệt. Nó là một chiếc bát nhang bằng sứ Bát Tràng men rạn cốt lam tinh xảo, cỡ lớn, được đặt ngay ngắn trên một cái chân đế bằng gỗ trắc. Chân nhang bên trong đã tàn rụng rơi lả tả.
Mắt Thuấn trợn trừng. Ông đưa tay lên ngực áo trái. Phẳng lì. Cái băng tang hình chữ thập bằng nỉ đen, thứ mà ông đinh ninh rằng mình vừa đính vào sáng nay khi cài cúc áo sơ mi, không hề tồn tại.
Một luồng khí lạnh ngắt chạy dọc từ sống lưng xộc thẳng lên gáy. Cảm giác hẫng hụt, chới với ập đến, y hệt như cái cảm giác chân đạp hụt vào khoảng không khi chiếc quai dép tông Lào bị đứt phựt trong con ngõ nhà Mai mấy chục năm về trước.
Thuấn loạng choạng, lùi lại đụng lưng vào mép bàn nước. Tách trà bằng sứ rung lên bần bật, va vào đĩa lót kêu lách cách.
Ông đảo mắt điên cuồng nhìn quanh căn nhà. Tấm vải màn đen treo trước cửa buồng đã bị tháo dỡ. Những tờ cáo phó dán ở cột hiên đã bị xé đi từ đời nào, chỉ để lại những vệt keo hồ khô khốc. Ông nhìn lên tờ lịch treo trên tường. Ngày 14 tháng 8.
Ký ức trong đầu ông lúc này giống như một cuộn băng cassette bị kẹt dây, rối nùi, cọ xát vào nhau phát ra những âm thanh nhiễu loạn, chát chúa.
Hôm qua... hôm qua ông vừa mặc áo xô gai. Hôm qua họ hàng vừa đến. Hôm qua ông vừa làm mâm cơm cúng... cúng gì? Cúng 49 ngày?
Không.
Không phải.
Hôm qua, nhà cửa đông nghẹt người. Thầy cúng đến tụng kinh gõ mõ ầm ĩ. Họ hóa vàng, đốt mã. Họ nói lời chia buồn... Không, họ nói lời chúc tụng vì ông đã vượt qua kỳ tang khó. Hôm qua... hôm qua ông đã lấy cái kéo gỉ gỡ bỏ dải ruy băng đen trên ngực áo. Hôm qua ông đã đem bức di ảnh của Thu gộp chung vào bàn thờ gia tiên.
Hôm qua là lễ Đại Tường. Mãn tang ba năm.
Ba năm. Ba mươi sáu tháng đã trôi qua kể từ khi cái máy đo nhịp tim của Thu kéo thành một tiếng “bíp” chói tai trong phòng cấp cứu.
Không phải bốn mươi chín ngày.
Chiếc đũa tre trên mâm cúng tuột khỏi tay Thuấn, rơi lăn lóc xuống nền gạch hoa kêu lạch cạch.
Gã đàn ông từng đối diện với nòng súng AK của lính Polpot không chớp mắt, giờ đây đứng run rẩy như một chiếc lá khô trước gió.
Hôm nay ông nhầm lẫn ngày 49 và ngày mãn tang. Vậy ngày mai thì sao? Ngày mai ông sẽ quên mất cách thắt nơ giày? Quên mất cách nấu cơm? Quên mất khuôn mặt của người đàn bà trong bức di ảnh kia?
“Bố sư...” Thuấn rít qua kẽ răng, hai tay ôm lấy thái dương đang giật liên hồi.
Ông quay lưng lại với bàn thờ, bước những bước đi dồn dập, gót chân nện thình thịch xuống nền gạch, đi thẳng vào buồng trong.
Dưới gầm sập gụ, có một chiếc rương gỗ dán kín băng dính. Thuấn quỳ rạp xuống, lôi chiếc rương ra. Bụi bay lên mù mịt. Ông luồn tay vào túi quần, móc ra một chùm chìa khóa kêu loảng xoảng, tay run run tra chiếc chìa bằng đồng thau vào ổ khóa.
Khóa mở. Ông bật nắp rương.
Nằm sâu dưới đáy rương, bị chèn lấp bởi những bộ quần áo cũ sực mùi băng phiến, là một chiếc hộp đạn của Mỹ bằng kim loại xanh rêu, đã tróc sơn lỗ rỗ và rỉ sét ở các góc. Thuấn nâng chiếc hộp đạn lên bằng hai tay, cảm nhận độ lạnh và độ nhám của kim loại truyền qua da bàn tay.
Mở chốt gài. Một tiếng “tách” khô khốc vang lên.
Bên trong hộp đạn chỉ có duy nhất một bọc nilon trong suốt, bên ngoài quấn chằng chịt những vòng dây chun cao su đã ải mủn, đứt gãy thành từng đoạn dính bết vào lớp nilon.
Thuấn dùng ngón tay cái, khó nhọc cậy từng lớp nilon dính chặt vào nhau. Mùi của thời gian ập ra. Bên trong lớp nilon là một chiếc phong bì thư.
Góc phải bên dưới phong bì có một vết ố màu nâu đen to bằng đồng xu, thấm nhòe cả một phần dòng chữ ghi địa chỉ người nhận. Đó là máu của Lâm. Dòng máu nóng hổi của thằng sinh viên kiến trúc.
Thuấn vuốt những ngón tay thô ráp của mình lên vết máu khô. Ký ức trong đầu ông, đoạn ký ức của hơn bốn chục năm về trước, bỗng trở nên sắc nét và trong trẻo.
Ông nhớ như in nụ cười lệch với cái răng khểnh của Lâm dưới giao hào. Nhớ cái cách nó giải thích về nồng độ kiềm trong đất đỏ. Nhớ cái bàn tay bê bết bùn của nó túm chặt lấy cổ áo ông lúc trăng trối, thều thào những bọt máu đỏ tươi.
Tại sao ông không gửi?
Hồi mới giải ngũ, ông sợ. Thuấn sợ hãi cái cảnh phải xách ba lô đứng trước bậc thềm nhà Lâm, đối diện với đôi mắt trũng sâu của bà, tiếng gào khóc xé ruột của đứa em gái. Ông sợ họ sẽ hỏi ông: Tại sao cùng cùng chui một hầm, mà mày về được để cưới vợ, làm giáo viên, còn con tao thì nát thây thành một nắm xương vụn?
Ông hèn nhát lẩn tránh cái mặc cảm của kẻ sống sót.
Rồi những năm tháng phát hiện mình vô sinh, bị lão Khang cợt nhả, những ngày tháng lộn mửa bên biên giới Campuchia, rồi đến cơn tai biến của Thu, việc chăm sóc Thu từng thìa cháo ròng rã cả chục năm trời… Cuộc sống với những bi kịch vụn vặt và khốc liệt cứ cuốn ông đi.
Bức thư bị đẩy sâu xuống đáy hòm, bị chôn vùi dưới tầng tầng lớp lớp những lời biện minh: Để mai, để tháng sau, để năm sau đi.
Bàn tay Thuấn nắm chặt lấy chiếc phong bì, bóp nhàu một góc giấy.
Ông hiểu ra một sự thật kinh khủng. Sẽ có một ngày, rất gần thôi, khi ông tỉnh dậy, ông sẽ cầm bức thư này lên và tự hỏi: Lâm là thằng đéo nào?
Ông sẽ quên Lâm. Kẻ duy nhất trên đời này chứng kiến cái khoảnh khắc chết chóc của Lâm, kẻ duy nhất lưu giữ hình dáng nụ cười răng khểnh và câu trăng trối cuối cùng của nó, sẽ mang toàn bộ những ký ức ấy trôi tuột xuống cống ngầm của sự lãng quên. Nếu Thuấn quên, thì Lâm sẽ chết thêm một lần nữa. Một sự xóa sổ hoàn toàn khỏi mặt đất này.
“Không... Không thể thế được”. Thuấn rít lên. Giọng ông vỡ ra, khàn đục như tiếng thủy tinh bị nghiến nát dưới đế giày.
Hơn năm chục năm qua, ông đã không biết bao nhiêu lần giấu vợ, lén lút đạp xe bới tung cái khu Hàng Bột ấy. Nhưng cái ngõ Cây Điệp đã bị người ta san phẳng, đắp lên đó những khối bê tông vô hồn. Ông nản chí. Ông sợ hãi sự bế tắc, lẩn tránh nó, và cất giấu lá thư này dưới đáy rương như giấu một bằng chứng của sự hèn nhát.
Nhưng hôm nay thì khác. Căn bệnh khốn kiếp kia đang nhấm nháp bộ não ông. Sự lẩn tránh bây giờ đồng nghĩa với sự phản bội cuối cùng.
Ông lật úp chiếc rương, hất tung mớ quần áo cũ kỹ ra sàn gạch. Gã cựu binh già cuống cuồng tìm kiếm. Ánh mắt ông va phải chiếc hộp sắt tây đựng bánh quy bơ tróc sơn nằm lăn lóc ở góc tủ - thứ mà Thu từng dùng để đựng kim chỉ ngày xưa.
Thuấn vớ lấy nó. Ông trút sạch mớ chỉ nilon rối nùi ra sàn, cẩn thận đặt chiếc phong bì bọc nilon dính máu vào giữa lòng hộp thiếc. Đậy nắp lại. Tiếng kim loại miết vào nhau rít lên xót ruột.
Ông phải đi. Đi ngay bây giờ. Lên ủy ban, lên phường, gõ cửa từng nhà cán bộ hưu trí trên phố Hàng Bột. Bất cứ đâu. Bất cứ ai.
Thuấn lùi lại, đẩy mạnh chiếc hộp sắt tây vào sâu tít bên trong gầm chiếc giường sắt để tạm, định bụng mặc xong bộ quân phục sẽ cúi xuống lôi ra, nhét tọt vào túi dết.
Ông đứng phắt dậy. Đầu gối kêu răng rắc. Tay ông với lấy chiếc áo xanh bạc phếch vắt trên thành ghế, sải chân bước vội về phía cửa buồng. Cánh tay phải vừa xỏ được một nửa vào ống tay áo, thì...
Giống như ai đó vừa giật phựt phích cắm của một chiếc radio đang phát sóng.
Bàn tay đang xỏ dở áo của Thuấn khựng lại lơ lửng giữa không trung. Nhịp tim đang đập dồn dập vì quyết tâm bỗng nhiên chậm lại, rơi tõm vào một khoảng không chới với.
Ông chớp mắt. Chớp thêm cái nữa. Đôi mắt đục ngầu hoang mang. Bàn thờ. Bát nhang. Di ảnh của Thu. Nắng xiên qua khe rèm.
Mình đang mặc áo để làm gì?
Thuấn từ từ cúi xuống nhìn bộ đồ trên người. Quần đùi. Áo may ô ba lỗ. Một tay đang lóng ngóng kẹt trong ống tay áo.
Hôm nay... hôm nay có phiên gác à? Hay đi mua bánh cuốn cho Thu? Không, Thu mất rồi. Mãn tang rồi. Vậy mình định đi đâu?
Gã lính cựu thẫn thờ buông thõng cánh tay. Chiếc áo xanh trượt xuống nền gạch hoa.
Thuấn quay gót, lững thững bước ra ngoài hiên gạch, ngồi phịch xuống chiếc ghế đẩu. Ông già đờ đẫn đưa tay vuốt vài sợi tóc bạc, miệng lẩm bẩm một giai điệu hành khúc không rõ lời.