Đọc to (tiếng Việt) Nhấn phát để bắt đầu
Ngõ Cây Điệp

Chương 10: Tấm Huân Chương

Năm 2016, ông Thuấn nhận huân chương.

Buổi lễ tổ chức ở hội trường quận, vào một sáng mùa đông không lạnh hẳn, nhưng đủ để những người già mặc vest thấy mình đứng đắn hơn thường ngày. Trên sân khấu có phông đỏ, hoa nhựa, bục phát biểu, tượng Bác và một dãy ghế phủ vải trắng. Dưới hội trường là các cựu chiến binh tóc bạc ngồi thành hàng, ngực áo người nào cũng lấp lánh ít nhiều. Có người mang theo cả túi giấy đựng thuốc huyết áp, thuốc dạ dày, kính lão, khăn mùi xoa. Vinh quang, đến tuổi này, thường phải đi kèm một túi thuốc.

Ông Thuấn mặc bộ vest màu mận chín.

Bộ vest ấy do phường vận động may từ mấy năm trước để các cụ “có trang phục nghiêm túc khi dự sự kiện”. Nó hơi rộng ở vai, hơi chật ở bụng, tay áo dài quá cổ tay một đốt ngón. Màu mận chín, theo lời bà Thu, làm ông trông như một chai rượu nếp biết đi. Ông không đồng ý với nhận xét ấy. Ông bảo màu này trang trọng. Bà Thu đáp trang trọng hay không thì chưa biết, nhưng nếu ông đứng cạnh mâm cỗ cưới, người ta dễ đặt nhầm ông vào khu đồ uống.

Sáng hôm nhận huân chương, ông đã là bộ vest rất kỹ. Là xong, ông treo lên móc, lùi lại ngắm. Cà vạt màu xanh sẫm được ông thắt ba lần mới vừa ý. Giày đen đánh bóng. Tóc chải gọn. Mặt cạo nhẵn. Nếu không vì cái lưng hơi còng và hai đầu gối hay kêu lục cục mỗi khi đứng lên, ông có thể tự thấy mình vẫn còn phong độ.

Bà Thu ngồi bên mép giường, nhìn ông loay hoay trước gương.

“Ông thắt cà vạt như thắt dây võng ấy”.

“Dây nào cũng phải chắc”. Ông Thuấn chỉnh lại nút thắt. “Bà không đi thật à?”

Bà Thu lắc đầu. “Chân tôi đau. Với lại người ta mời ông, có mời tôi đâu”.

“Mời gia đình”.

“Gia đình ông đi không nổi”.

“Ngồi xe ôm”.

“Ra đấy tôi ho một cái, ông lại mất tập trung”.

Ông Thuấn quay lại nhìn bà. Bà nói bằng giọng bông đùa, nhưng ông biết mấy tháng gần đây bà hay mệt thật. Huyết áp lúc cao lúc thấp. Tay phải thỉnh thoảng tê. Ông đã bảo đi khám, bà nói để qua đợt rét. Đợt rét qua, bà nói để qua rằm. Qua rằm, bà nói để hết mẻ cá kho này đã. Đời sống trong nhà số 42 luôn có những việc nhỏ chen vào trước việc lớn.

“Bà ở nhà thì khóa cổng cẩn thận”.

“Biết rồi”.

“Bếp dầu đừng để to lửa”.

“Biết rồi”.

“Cá kho nếu cạn nước thì tắt”.

Bà gườm ông.

“Tôi dặn thế thôi”. Ông Thuấn hắng giọng.

“Ông cứ đi đi. Về tôi nghe ông kể là được”.

“Thôi, tôi đi”. Ông cài lại khuy áo vest.

“Ông Thuấn”. Bà Thu gọi với theo.

“Gì?”

“Đừng chỉnh huân chương trước mặt hàng xóm nhiều quá. Người ta biết ông có rồi”.

“Tôi chỉnh bao giờ?” Ông sững lại.

“Ông chưa đi mà tôi đã biết ông sẽ chỉnh”.

Ông không đáp. Cầm chiếc cặp da cũ, đặt giấy mời vào trong, ông dắt chiếc Peugeot ra khỏi hiên. Năm 1984, hay 1985 gì đó, bằng những đồng phụ cấp chiến trường ít ỏi ông gửi ra từ mặt trận K, cộng với ba năm ròng rã Thu thức trắng đêm dưới ngọn đèn dầu, nhận len về đan gia công, tước từng cuộng thuốc lá cuốn đến rộp cả mười đầu ngón tay, bà mới tậu được nó. Thu mua xe không phải để diện. Bà mua để cất đấy, phủ một tấm chăn chiên cũ lên trên bảo vệ lớp sơn bóng loáng, chờ ngày ông gác súng trở về có cái mà đi lại cho bằng người ta, đỡ phải gò lưng nén những vết thương tái phát trên chiếc xe Thống Nhất tròng trành bong vảy hàn.

Chiếc xe đã được lau từ tối hôm trước. Khung xanh ngọc bích sáng lên dưới nắng sớm. Ông buộc một túi vải nhỏ sau yên, trong đó có áo mưa gấp gọn, chai nước, cái khăn tay và một gói kẹo gừng bà Thu nhét vào.

Từ nhà số 42 ra hội trường quận không xa, nhưng ông đi sớm hơn giờ ghi trong giấy mời gần một tiếng. Người lính có thể đói, có thể ướt, có thể bị vắt cắn, nhưng không được đến muộn khi đã biết đường.

Đi qua đầu ngõ, bà Tư đang quét sân nhìn thấy ông.

“Ôi, hôm nay ông Thuấn bảnh thế!”

Ông Thuấn phanh xe lại. “Có việc”.

“Việc gì mà mặc vest đỏ thế kia?”

“Mận chín”.

“Thì đỏ mận”.

Ông định đạp đi, nhưng tay lại vô thức chạm vào chiếc cặp da treo ở ghi-đông. Trong cặp có giấy mời và hộp huân chương sẽ được trao sau buổi lễ. Chưa có hộp ở đó, nhưng ông đã hình dung được nó. Hộp đỏ. Nắp nhung. Bên trong là tấm huân chương gắn ruy băng.

Bà Tư nhìn động tác ấy, cười.

“Đi nhận huân chương à?”

Ông Thuấn đáp rất bình thản: “Người ta mời”.

“Thì phải có công người ta mới mời chứ”.

Ông gật nhẹ, cố tỏ ra chuyện ấy không đáng nói.

Nhưng khi đạp xe qua thêm mấy nhà, gặp ông Lý bán báo hỏi “hôm nay đi đám cưới à”, ông lại dừng. Giải thích. Rồi mở cặp lấy giấy mời ra cho xem vì ông Lý nghe không rõ. Sau đó, vì giấy mời hơi sâu trong cặp, ông phải lôi thêm cái phong bì chứng nhận sơ bộ ra. Việc đó hoàn toàn cần thiết. Ít nhất đối với ông là vậy.

Đến hội trường, ông đứng vào hàng đăng ký. Mấy ông bạn cựu chiến binh nhìn bộ vest màu mận chín, có người khen, có người chỉ cười. Ông Thuấn coi cả hai đều là lời khen.

Tấm huân chương nằm trong hộp đỏ. Bên trong lớp nhung ấy, nằm ngoan ngoãn trên lớp lụa vàng lót đáy, là tấm Huân chương Hữu nghị do Nhà nước Vương quốc Campuchia trao tặng. Nó không lớn. Nhưng khi người ta đặt vào tay ông, ông cảm thấy nó nặng hơn vẻ ngoài. Cái phần được trao cho ông hôm nay, nghĩ cho cùng, có lẽ được chia từ rất nhiều phần vắng mặt.

Ông cầm hộp huân chương bằng hai tay.

Sau buổi lễ, người ta mời nước chè và bánh kẹo. Mấy cụ chụp ảnh chung. Ông Thuấn bị kéo đứng giữa hàng thứ hai. Một cụ bên cạnh bảo ông kéo cà vạt lại. Ông kéo. Một cụ khác bảo vest màu của ông nổi nhất hội trường. Ông đáp: “Dễ nhận diện đội hình”. Mấy người cười với nhau.

Ông không ở lại lâu. Ông muốn về kể với bà Thu.

Trên đường về, ông đạp xe chậm hơn mọi khi. Hộp huân chương được đặt trong cặp da, nhưng ông vẫn thỉnh thoảng đưa tay kiểm tra. Mỗi lần xe đi qua ổ gà, ông lại cau mày. Cái hộp ấy tuy không dễ vỡ, nhưng đồ được trao trang trọng thì cũng phải được mang về trang trọng.

Khi đến đầu ngõ, bà Tư vẫn ở đó, lần này ngồi nhặt rau.

“Về rồi à? Được trao chưa?”

“Rồi”. Ông Thuấn dừng xe.

 “Đâu, cho xem nào”.

“Có gì mà xem”.

Miệng nói thế, nhưng tay ông đã mở cặp.

Bà Tư cầm hộp huân chương, xuýt xoa. Ông Lý bán báo đi ngang cũng ghé vào. Rồi thêm bà Hòa nhà bên. Ba người đứng quanh hộp đỏ, làm đoạn đầu ngõ bỗng thành một buổi triển lãm nhỏ. Ông Thuấn đứng cạnh, mặt nghiêm, nhưng cứ mỗi khi ai cầm hộp hơi lệch, tay ông lại nhích lên, sẵn sàng can thiệp.

“Đẹp quá”, bà Hòa nói.

“Đẹp gì. Kỷ niệm thôi”, ông đáp.

“Ông nói thế chứ sướng lắm còn gì”.

Ông Thuấn cài lại nút cặp. “Công nhận là được tổ chức chu đáo”.

“Về khoe bà Thu đi. Bà ấy mà thấy chắc mừng”.

Ông gật, đạp xe về.

Đến trước cổng số 42, ông bỗng dừng lại.

Trong đầu ông đã chọn được câu mở đầu.

“Bà không đi là phí. Người ta trao trang trọng lắm”.

Mùi khét.

Ông Thuấn khựng lại. Sống mũi ông giật giật.

Hơn bốn mươi năm làm vợ ông, Thu chưa bao giờ để cháy một nồi cá kho. Nồi cá kho của Thu là một lớp riềng thái lát lót đáy, xếp cá, phủ thịt ba chỉ, rưới nước màu tự thắng, đun sôi bùng một bận rồi ủ trấu riu riu suốt mười hai tiếng đồng hồ.

Việc cái mùi khét lẹt này nồng nặc bay ra tận đầu ngõ giống như một quả bom nổ chậm vỡ tung trong đầu Thuấn.

“Thu ơi!”

Ông quát lớn, buông thõng tay lái. Chiếc Peugeot mất thăng bằng, đổ kềnh gác ghi-đông lên bờ tường xây gạch chỉ, bánh trước quay tít nhả ra tiếng rào rào vô nghĩa. Gã cựu binh già lao bổ vào nhà, khối cơ thể sáu mươi mấy tuổi bỗng chốc gân guốc, phản xạ nhanh như một con thú hoang đánh hơi thấy mùi máu.

Khói xám xịt, cay xè cuộn ra từ gian bếp nhỏ xây cơi nới phía sau. Chiếc nồi đất nung trên bếp ga công nghiệp đã nứt toác làm đôi. Lớp mỡ cá bốc cháy thành những ngọn lửa nhỏ màu xanh lè, liếm láp lên mảng tường ám muội than.

Trên nền gạch hoa ướt nhẹp nước gạo, Thu nằm đổ gục nghiêng sang một bên, ép sát hông vào chân chạn bát. Chiếc giẻ nhấc nồi bằng vải vụn rớt cách những ngón tay đang co quắp của bà chừng nửa gang tấc. Mái tóc hoa râm xổ tung, bết vào trán bởi mồ hôi. Khuôn mặt bà, cái khuôn mặt sạm nắng, rắn rỏi bên bến sông Hồng năm nào, giờ đây tái nhợt, lệch hẳn sang một bên, mép giật giật từng nhịp vô thức nhưng không phát ra được bất kỳ âm thanh nào. Đôi mắt bà mở hé, đục ngầu, dại đi.

“Thu ơi! Bà ơi!”

Thuấn lao xuống vũng nước gạo, quỳ phịch hai đầu gối xuống nền gạch cứng ngắc. Ông luồn một tay đỡ lấy gáy bà Thu, tay kia nhanh chóng ấn chặt vào động mạch cổ, áp tai vào lồng ngực bà. Nhịp tim thoi thóp, ngắt quãng. Cửa hàm bà cứng ngắc.

Bàn tay chai sần của ông run lên bần bật. Cơn hoảng loạn mà súng đạn Trường Sơn hay mìn bẫy Campuchia không làm gì được, giờ đây tóm gọn lấy cổ họng ông, bóp nghẹt. Ông luồn hai tay xuống dưới nách vợ, dùng hết sức bình sinh của tuổi già, nghiến răng xốc cõng khối cơ thể đang rũ rượi, mềm oặt của bà lên lưng. Ông lao ra ngõ, gào thét gọi xe cấp cứu bằng cái giọng khản đặc, vỡ vụn.

Trong lúc cuống cuồng, chiếc hộp nhung đỏ rơi khỏi túi áo ngực, đập xuống nền gạch. Nắp hộp bật tung, văng tấm huân chương lăn lóc vào vũng nước mỡ cá kho đen ngòm. Thuấn không thèm đoái hoài. Thế giới của ông lúc này bị thu hẹp lại, chỉ còn duy nhất nhịp thở đứt quãng của người đàn bà trên lưng.

Ngày đưa bà về nhà, ông Thuấn đã dọn lại căn phòng.

Giường kê thấp hơn. Bàn ghế dẹp sang một bên để có lối đi. Chậu nước, khăn, thuốc, tã người lớn, bình đo huyết áp, nhiệt kế, hộp thuốc chia theo ngày, tất cả được ông xếp thành hàng trên chiếc bàn gỗ. Trên tường, ông dán một tờ lịch uống thuốc viết tay.

“Sáng: 6 giờ 30. Uống thuốc huyết áp. Nước ấm.

Trưa: 11 giờ 30. Ăn cháo. Tập tay.

Chiều: 16 giờ. Đo huyết áp. Xoa bóp chân phải.

Tối: 20 giờ. Thuốc. Lau người.

Đêm: Nhớ dậy kiểm tra”.

Bà Tư sang thăm, nhìn thấy, bảo: “Ông ghi kỹ thế”.

“Không ghi thì quên”. Ông Thuấn đáp.

“Ông mà cũng quên à?” Bà Tư cười.

Ông không cười theo. “Việc của bà ấy thì không được phép quên”.

Những ngày đầu, ông lúng túng khủng khiếp.

Ông đọc hướng dẫn trên bao bì ba lần, mở ra, gấp vào, xoay trước xoay sau, cuối cùng vẫn dán lệch bimr. Bà Thu nằm trên giường, một bên miệng méo đi nhưng mắt nhìn ông rất rõ. Trong ánh mắt ấy có cả đau đớn, ngượng ngùng, thương và một chút buồn cười.

“Bà cười cái gì?” OOng cáu.

Bà phát ra âm thanh không rõ. Ông hiểu là bà đang cười ông.

Ông tháo ra, làm lại. Lần thứ hai vẫn lệch. Lần thứ ba tạm ổn. Ông lau mồ hôi trán, đứng lùi lại kiểm tra như vừa hoàn thành một công trình cầu đường.

“Được rồi”.

Bà Thu chớp mắt.

“Tạm được”. Ông nói thêm.

Mấy hôm sau, y tá phường đến hướng dẫn. Cô y tá trẻ nói rất nhẹ nhàng, bảo ông nên xoay người bệnh thế này, đỡ tay thế kia, tránh làm đau khớp. Ông nghe nghiêm túc, hỏi lại từng bước, ghi vào sổ.

Cô y tá bảo: “Bác đừng căng quá. Làm từ từ thôi”.

Ông Thuấn nhìn cô. “Cô đã từng thay băng cho người bị pháo cắt nửa chân chưa?”

Cô y tá giật mình.

“Dạ chưa”.

“Thế thì cô chưa biết thế nào là căng”.

Một lát sau, ông lại hỏi rất nhỏ. “Xoay người thế này đã đúng chưa?”

“Đúng rồi bác”. Cô y tá gật đầu.

Cái máy đo huyết áp cũng trở thành kẻ thù mới của ông.

Máy điện tử, con trai một người hàng xóm mua giúp. Đeo vòng bít vào tay, bấm nút, máy tự bơm hơi. Lần đầu dùng, vòng bít siết tay bà Thu mạnh hơn ông tưởng. Bà nhăn mặt. Ông lập tức tắt máy.

“Cái của nợ này bóp tay vợ tôi như tra tấn ấy”.

“Bác phải để nó đo xong đã chứ”. Người hàng xóm giải thích.

“Đo mà làm người ta đau thì đo cái gì?”

“Không đau đâu bác. Hơi tức thôi”.

Ông Thuấn nhìn bà Thu.

“Có đau không?”

Bà Thu chớp mắt một cái.

“Thấy chưa”, ông nói. “Đau”.

“Bà chớp mắt có thể là không đau mà bác”.

“Vợ tôi chớp mắt thế nào tôi biết”.

Cuối cùng, ông vẫn phải dùng máy. Nhưng lần nào đo cũng ngồi bên cạnh, một tay giữ tay bà, mắt nhìn cái máy như cảnh cáo: Bóp vừa thôi.

Tập ăn còn khó hơn.

Bà Thu nuốt chậm. Có hôm sặc. Bác sĩ dặn phải cho ăn từng thìa nhỏ, kiên nhẫn. Ông Thuấn ghi lại. Một thìa. Đợi nuốt. Một thìa nữa. Nước ấm. Lau miệng. Nghỉ. Lại một thìa. Ông đếm từng thìa như ngày xưa đếm số thư trong túi bạt.

“Mười ba”.

Bà Thu nhìn ông.

“Mười bốn”.

Bà ú ớ.

“Bà muốn nghỉ à?”

Bà chớp mắt.

“Không được. Bác sĩ bảo ít nhất hai mươi thìa”.

Bà nhìn ông lâu hơn.

Ông đặt bát xuống. “Thôi tạm được. Mười lăm thìa cũng là tiến bộ”.

Nói thế, nhưng ông vẫn thổi nguội thêm một thìa nữa, đưa đến miệng bà.

“Thêm một thìa. Vì danh dự của đơn vị”.

Bà Thu cố nuốt. Khóe mắt bà nhăn lại. Lần này rõ ràng là cười.

Căn nhà số 42 cũng bắt đầu thay đổi. Trước kia, buổi sáng có tiếng bà Thu đi lại trong bếp, tiếng dao thớt, tiếng nước chảy, tiếng bà mắng ông để dép không đúng chỗ. Bây giờ chỉ có tiếng ông Thuấn. Tiếng dép ông kéo trên nền gạch. Tiếng ấm nước. Tiếng thìa chạm vào bát. Tiếng máy đo huyết áp bơm hơi. Tiếng ông lẩm bẩm đọc lịch uống thuốc.

Hàng xóm sang giúp nhiều.

Bà Tư đem cháo. Chị Hòa đem mấy cái khăn mềm. Ông Lý mua báo nhưng tiện mua thêm hộp sữa. Ai cũng thương. Ai cũng muốn đỡ một tay. Nhưng ông Thuấn chỉ nhận phần cần nhận. Không than. Không kể khổ. Ai hỏi “ông có vất không”, ông đáp: “Việc nhà”. Như thể việc nhà là một đơn vị đo lường đủ lớn để chứa hết mọi mệt mỏi.

Tấm huân chương được ông lau sạch mấy ngày sau đó.

Ông nhặt nó từ nền nhà khi từ bệnh viện về lần đầu, rửa rất nhẹ dưới vòi nước, lau bằng khăn khô, đặt lại vào hộp. Vết mỡ cá trên ruy băng không sạch hẳn. Một vệt nâu mờ vẫn nằm ở mép, nhìn kỹ mới thấy. Ông không thay ruy băng. Cũng không đem đi làm sạch. Ông đóng hộp lại, cất vào ngăn tủ.

Có lần bà Tư hỏi sao không treo lên tường.

“Bụi”.

“Huân chương mà cất tủ phí”.

“Cất tủ cũng là bảo quản”.

Thật ra, ông không biết treo ở đâu.

Treo trên tường, mỗi lần đút cháo cho bà Thu sẽ nhìn thấy. Mỗi lần thay bỉm sẽ nhìn thấy. Mỗi lần bà sặc, mỗi lần bà khóc vì không nói được, mỗi lần ông ngồi bóp chân cho bà đến mỏi cả tay, tấm huân chương sẽ nằm đó, sáng lên, nhắc ông về một thứ vinh quang rất thật nhưng không giúp được gì cho lúc này.

Những tháng sau đó, ông học cách chăm bà Thu. Rất chậm. Và rất cứng đầu.

Ông học cách bế bà từ giường sang ghế mà không làm đau vai. Học cách thay ga khi người bệnh vẫn nằm trên giường. Học cách nghiền thuốc. Học cách pha nước gừng không quá cay. Học cách lau người bằng khăn ấm, bắt đầu từ mặt, cổ, tay, ngực, rồi đổi khăn. Học cách nhận ra khi nào bà muốn uống nước, khi nào bà đau, khi nào bà bực vì ông đoán sai.

Cái khó nhất là học cách nghe những âm thanh không thành lời.

Bà Thu không nói rõ được nữa. Nhiều chữ vỡ ra, lẫn vào nhau. Ban đầu, ông cáu vì không hiểu. Bà cũng cáu vì ông không hiểu. Hai người nhìn nhau, người nằm người ngồi, cùng tức giận bất lực. Có hôm bà cố nói gì đó ba lần. Ông đoán nước. Bà lắc đầu. Đoán đau. Bà lắc. Đoán lạnh. Bà vẫn lắc. Cuối cùng ông bực:

“Bà muốn gì thì nói rõ ra!”

Ngay khi câu ấy bật ra, ông thấy mặt bà thay đổi.

Ông đứng chết lặng.

Bà không nói rõ được. Chính vì không nói rõ được nên bà mới nằm đó, mắt đỏ lên, tay trái bấu vào mép chăn.

Ông ngồi xuống cạnh giường. “Tôi xin lỗi”.

Bà nhìn ông.

“Không phải tôi quát bà”.

Câu này vô lý. Ông vừa quát bà xong.

“Ừ. Tôi quát. Tôi xin lỗi”. Ông cúi đầu.

Bà Thu chớp mắt. Một giọt nước mắt chảy từ khóe mắt xuống thái dương.

Ông lấy khăn lau cho bà. Rất chậm.

Sau này, ông hiểu bà muốn nghe radio.

Cái radio cũ đặt trên nóc tủ, lâu không dùng. Ông lau bụi, thay pin, vặn mãi mới bắt được sóng. Tiếng phát thanh rè rè, lúc rõ lúc mất. Bà Thu nằm nghe, mắt nhìn lên trần. Chương trình hôm ấy phát một bài hát cũ. Không phải bài gì đặc biệt, chỉ là một giai điệu thời trẻ họ từng nghe trên loa phường. Nhưng bàn tay trái của bà Thu khẽ nhúc nhích theo nhịp.

Ông Thuấn ngồi bên cạnh, giả vờ đọc báo.

Báo cầm ngược.

Bà Thu nhìn thấy, khóe miệng méo khẽ động.

Ông đặt báo xuống. “Cười gì. Báo bây giờ viết thế nào chẳng được”.

Bà thích bánh cuốn.

Trước kia, sáng Chủ nhật thỉnh thoảng ông đi mua bánh cuốn về. Bà Thu ăn ít nước mắm, không ăn ớt, hành phi phải để riêng. Bánh phải cắt miếng vuông vừa miệng. Nếu miếng dài quá, bà bảo ăn bất tiện. Ông chê bà cầu kỳ, nhưng lần nào mua cũng dặn đúng như thế.

Sau tai biến, bà ăn khó hơn. Bánh cuốn phải cắt nhỏ hơn, mềm hơn, nước mắm pha nhạt, hâm ấm. Ông đi mua ở hàng quen đầu chợ. Bà bán hàng ban đầu cứ cho hành phi vào túi riêng, sau thấy ông đến là tự động nói: “Không hành, không ớt, nước mắm ấm, cắt nhỏ”.

“Nhỏ nhưng đừng vụn”. Ông gật.

 “Vâng, biết rồi”.

Ông nhìn bà bán hàng. Bà cười. Ông không cười, nhưng hôm sau vẫn mua ở đó.

Về nhà, ông đặt bánh ra đĩa. Thổi cho nguội bớt. Đút cho bà từng chút. Bà Thu ăn rất chậm. Có hôm ăn được ba miếng. Có hôm năm. Có hôm bà mệt, chỉ ngậm trong miệng rồi thôi.

Ông không ép quá.

“Ăn được đến đâu hay đến đó”, ông nói, nhưng vẫn ngồi thêm một lúc với thìa trong tay, hy vọng bà đổi ý.

Một buổi chiều mùa hè, trời nóng nặng. Điện mất. Quạt đứng im. Bà Thu nằm trên giường, mồ hôi rịn trên trán. Ông Thuấn lấy quạt nan quạt cho bà. Tay ông mỏi, đổi tay, rồi lại đổi. Ngoài ngõ, trẻ con đá bóng, tiếng cười chạy qua cửa. Bà Thu nhìn ra ngoài, mắt xa xăm.

Ông biết bà đang nghĩ gì.

Cả đời hai người không có con.

Có lúc chuyện ấy là vết thương. Có lúc là khoảng trống. Đến tuổi già, nó biến thành sự im lặng trong nhà. Khi bà bệnh, khoảng trống ấy càng rõ. Không có con gái về thay bỉm cho mẹ. Không có con trai chở bố đi mua thuốc. Không có tiếng cháu chạy trong sân. Chỉ có ông và bà, hai người già, một người nằm, một người ngồi, đối diện với tất cả những gì trước kia tưởng có thể lờ đi.

“Bà này”. Ông quạt chậm lại.

Bà nhìn ông.

“Ngày xưa...”

Ông không nói hết được câu. Không biết nên nói xin lỗi vì điều gì trước. Vì tờ giấy khám bệnh. Vì lá đơn tái ngũ. Vì những năm tháng ông để bà một mình. Vì sự im lặng. Vì những lần bà thương ông mà ông gọi đó là thương hại. Vì không có con. Vì bây giờ ông chỉ còn biết quạt cho bà bằng một cái quạt nan cũ, trong một căn nhà nóng, khi mọi lời xin lỗi đều đến muộn.

Bà Thu đưa tay trái ra.

Rất chậm.

Ông cầm lấy.

Bàn tay bà mềm, yếu, những ngón tay hơi co. Bà cố nói. Âm thanh vỡ ra, nhưng ông nghe được một chữ.

“Thôi”.

Ông gật đầu.

“Ừ. Thôi”.

Ông quạt tiếp.

Từ ngày ấy, ông bớt nói về quá khứ trước mặt bà. Không phải vì quá khứ hết đau. Mà vì ông hiểu có những vết thương, nếu cứ mở ra để chứng minh mình đau, sẽ làm người nằm bên cạnh đau theo.

Nhưng ông vẫn chăm bà bằng tất cả những gì ông có.

Ông không biết nói “tôi yêu bà”.

Câu ấy nằm ngoài hệ thống ngôn ngữ ông quen dùng. Nó mềm quá, trơn quá, khó đặt vào miệng. Nhưng ông biết mua bánh cuốn không ớt. Biết kéo rèm lúc nắng xiên vào mắt bà. Biết đặt khăn mềm dưới khuỷu tay phải để da không loét. Biết đun nước gừng khi trời trở lạnh. Biết đếm từng viên thuốc. Biết chờ bà nuốt xong mới lau miệng. Biết giấu hộp huân chương vào ngăn tủ để nó không sáng lên sai lúc.

Một đêm, bà Thu sốt. Không cao lắm, nhưng người bà nóng, hơi thở gấp. Ông gọi bác sĩ phường, lau người cho bà, thay khăn liên tục. Đến gần sáng, sốt hạ. Bà ngủ, mặt dịu lại. Ông ngồi bên giường, lưng đau cứng, mắt cay vì thiếu ngủ.

Trong chậu men dưới chân giường có mấy cái khăn ướt. Trên bàn là bát cháo ăn dở, cốc nước gừng, vỉ thuốc, nhiệt kế. Căn phòng bừa hơn tiêu chuẩn của ông rất nhiều. Nhưng ông không còn sức dọn.

Ông nhìn bà Thu ngủ.

Mái tóc bà bạc nhiều. Một bên miệng vẫn méo. Bàn tay phải nằm bất động trên chăn. Người đàn bà ấy từng nói không có con thì sống kiểu không có con. Từng ngồi nhặt rau ngoài cửa trong khi ông viết đơn để trốn khỏi bà. Từng chờ ông qua bao nhiêu lần ông tự cho mình là người có nhiệm vụ lớn hơn căn nhà này.

Bây giờ bà nằm đó.

Còn ông, sau tất cả những chuyến đi, những huân chương, những bài phát biểu, những con đường, những lá thư đã giao và chưa giao, chỉ còn nhiệm vụ rất nhỏ: Giữ cho bà không sốt lại, không sặc cháo, không đau, không lạnh.

Ông đứng dậy, bê bát cháo và chén nước ra bếp rửa.

Nước lạnh chảy qua tay. Xà phòng nổi bọt trắng. Ông rửa bát rất kỹ, như mọi khi. Rửa chén. Rửa thìa. Rửa cái đĩa nhỏ đựng bánh cuốn còn thừa. Bọt xà phòng phủ lên mu bàn tay nhăn nheo.

Mắt ông cay cay. Ban đầu ông tưởng do thiếu ngủ. Rồi một giọt nước rơi xuống đám bọt trong chậu.

Không có ai trong bếp. Bà Thu đang ngủ. Hàng xóm chưa dậy. Không ai thấy một ông già đứng khóc trước cái chậu rửa bát. Ông đưa cổ tay lên lau mắt, nhưng nghĩ tay dính xà phòng, lại bỏ xuống.

“Bố tiên sư”, ông nói rất khẽ.

Tiếng ấy tan vào tiếng nước chảy.

Ông nhìn những cái bát trong chậu. Nhìn vệt cháo bám ở thành bát. Nhìn bọt trắng vỡ dần.

“Đánh nhau với cái gì cũng được”. Ông nuốt xuống. “Cái này... bố tiên sư... cái này không có mục tiêu”.

Không có cao điểm để chiếm.

Không có trạm để đến.

Không có kẻ địch để căm ghét.

Chỉ có thời gian, bệnh tật, tuổi già, và một người đàn bà nằm trong phòng, đã thương ông quá lâu đến mức ông không biết lấy gì trả cho đủ.

Ông tắt vòi nước. Lau bát. Úp lên chạn. Rồi quay vào phòng, ngồi lại bên giường bà Thu trước khi trời sáng.

Bình luận đoạn văn

Bình luận

Trả lời bình luận

Chỉnh sửa bình luận

Thiết lập văn bản

Xem trước

Nội dung sẽ hiển thị như thế này

Chọn font chữ

Cỡ chữ

12px 30px