Chương 6: Trò Lừa Bịp
Thuấn được nghỉ phép vào một buổi sáng mưa dầm. Tin nghỉ phép đến sau bữa cơm độn sắn, khi cả trạm đang ngồi xếp thư dưới mái lán. Anh trạm trưởng gọi tên Thuấn, đưa cho tờ giấy gấp tư, nói gọn: “Cho cậu nghỉ bảy ngày. Chiều nay lên đường”.
Cả lán lập tức ngẩng lên.
Ở trạm giao liên, hai chữ “nghỉ phép” có sức mạnh ngang một nồi thịt kho. Nó khiến những cái cổ mệt mỏi tự nhiên thẳng ra, những đôi mắt lờ đờ vì sốt rét bỗng sáng lên, và những thằng vốn ít lời cũng phải hỏi một câu gì đó để đỡ tiếc.
“Anh Thuấn được về Hà Nội thật à?” Lâm là người hỏi đầu tiên.
Thuấn cầm tờ giấy, cố giữ mặt bình thản.
“Trên giấy ghi thế”.
“Về mấy ngày?”
“Bảy”.
“Gặp chị Mai không?”
Mấy người trong lán quay sang nhìn. Thuấn gấp tờ giấy chậm rãi, nhét vào túi áo ngực.
“Liên quan gì mấy cậu”.
Lâm cười, cái răng khểnh hiện ra ngay lập tức. “Tức là có gặp”.
“Cậu rảnh quá thì ra sau lán chẻ củi”.
“Dạ, em đang hỏi để chuẩn bị tâm lý cho đồng chí. Về hậu phương gặp người thương là một cuộc hành quân phức tạp. Địch tình khó đoán”.
“Cậu biết gì mà nói?”
“Em biết anh đã khoe rằng chị Mai thêu khăn cho anh, rằng chị ấy viết chữ đẹp, và một lần lúc sốt rét mê man anh gọi tên chị ấy xong mắng em đừng kể ai”.
Trong lán có tiếng cười rúc rích.
“Cậu muốn tối nay đổi sang võng bờ suối không?” Thuấn nhìn Lâm.
Lâm lập tức cúi xuống bó thư trước mặt, vẻ mặt nghiêm túc: “Báo cáo, em không nghe thấy gì hết”.
Nhưng từ lúc ấy đến chiều, cái mồm Lâm vẫn không chịu yên. Nó bày cho Thuấn đủ thứ. Gặp người yêu thì không nên mở đầu bằng tình hình đơn vị. Không nên khen áo trắng sạch, vì khen thế nghe như khen cái khăn lau bàn. Không nên hỏi nhà có tăng gia được không. Không nên kể chuyện vắt, muỗi, sốt rét quá nhiều trong mười phút đầu, trừ khi muốn người ta bỏ chạy. Nếu có quà thì nên tặng bằng hai tay. Nếu không có quà thì ít nhất phải có một câu tử tế.
“Câu tử tế là câu gì?” Thuấn vừa xếp ba lô vừa hỏi.
Lâm ngồi bên cạnh, đang cố vá lại túi áo bị rách, kim chỉ cầm rất vụng. “Ví dụ: Anh nhớ em”.
Thuấn dừng tay. “Không được”.
“Sao lại không được?”
“Sến quá”.
“Thế: Ở trong rừng, anh vẫn nghĩ đến em?”
“Càng sến”.
“Vậy: Đồng chí Mai là nguồn động viên tinh thần rất lớn đối với quá trình công tác của tôi?”
Thuấn nhìn Lâm.
Lâm gật đầu.
“Câu này hợp với anh nhất, nhưng nếu nói ra, chị ấy đánh thì em không chịu trách nhiệm đâu”.
Thuấn ném cho nó một chiếc tất ẩm. Lâm né không kịp, chiếc tất đập vào vai. Nó cầm lên ngửi thử, mặt nhăn lại. “Anh giữ cái này làm vũ khí bí mật à?”
Thuấn không đáp. Gã đang bận kiểm tra túi áo trong. Chiếc khăn mùi xoa vẫn nằm ở đó, gấp vuông, bọc thêm một lớp ni-lông mỏng. Sau gần hai năm rừng núi, màu khăn đã nhạt đi. Đường chỉ đỏ thêu con bồ câu méo hơi sờn, nhưng vẫn còn nguyên. Thuấn không dùng nó để lau mồ hôi như Mai dặn. Gã từng định dùng, nhiều lần. Nhưng lần nào cầm ra cũng lại gấp vào. Dùng thì bẩn. Giặt thì sợ bạc. Để im thì ít nhất nó vẫn còn là thứ Mai đã đưa.
Lâm nhìn thấy, khẽ huýt sáo. “Còn giữ kỹ thế kia mà bảo không nhớ”.
“Cậu mà nói thêm, tôi để cậu phân loại thư tuyến K9 một mình”. Thuấn gấp túi áo lại.
“Dạ, em xin im”. Lâm giơ hai tay. “Nhưng anh nhớ nhé. Gặp chị Mai thì đừng nói như đọc mệnh lệnh hành quân”.
Thuấn hừ một tiếng. Gã nghĩ Lâm nói quá. Gặp Mai thì có gì khó? Chẳng qua người ta cứ làm tình cảm thành chuyện phức tạp. Thuấn đã đi qua rừng đêm, vượt suối lũ, chui hầm dưới pháo kích, vác thư qua những con dốc mà lính mới nhìn đã muốn khóc. Một cuộc gặp ở Hà Nội, giữa phố xá quen thuộc, với một cô gái từng tặng mình khăn, thì có gì đáng sợ?
Ý nghĩ ấy theo Thuấn suốt chặng đường ra Bắc.
Đến khi tàu dừng ở ga Hàng Cỏ, nó bắt đầu bớt chắc.
Hà Nội sau mấy năm vẫn là Hà Nội, nhưng với Thuấn, nó vừa quen vừa lạ. Mùi than ở ga vẫn còn. Tiếng người gọi nhau vẫn dày đặc. Những mái nhà, hàng cây, đường ray, quán nước, xe đạp, tàu điện, tất cả đều có vẻ như còn nguyên. Nhưng anh nhìn chúng bằng con mắt của người đã quen với rừng. Phố xá sáng quá. Người đi đường thản nhiên quá. Áo quần sạch quá. Những tiếng cãi nhau ở hàng nước, tiếng chuông tàu điện, tiếng rao bánh khúc bỗng làm anh thấy lúng túng hơn cả tiếng pháo.
Gã về qua nhà trước.
Bố mẹ mừng, nhưng không ồn ào. Mẹ sờ vai gã, kêu gầy. Bố nhìn gã một lúc lâu rồi hỏi đi đường có mệt không. Thuấn đáp không. Cả nhà ăn bữa cơm có thịt rang và canh rau ngót. Mẹ cứ gắp cho gã. Gã ăn chậm, thấy miếng thịt mềm đến mức trong cổ họng dâng lên một cảm giác kỳ lạ. Ở trạm, thức ăn thường phải nhai rất lâu mới chịu xuống. Ở nhà, mọi thứ trôi dễ quá, làm người ta suýt mềm lòng.
Tối ấy, Thuấn lấy bộ quân phục sạch ra thay. Mẹ đã vá lại một đường chỉ ở vai áo. Bố ngồi hút thuốc lào ngoài hiên, thỉnh thoảng hỏi đơn vị đóng ở đâu. Thuấn trả lời chung chung. Những chỗ gã đi qua không phải thứ đem ra kể bên mâm cơm.
Sáng hôm sau, gã quyết định đến gặp Mai.
Thuấn bước đi, cố tạo ra một phong thái đĩnh đạc nhất có thể. Hai mươi mốt tuổi. Bộ quân phục mới tinh được hồ cứng cáp, các nếp gấp sắc lẹm đến mức có thể cứa đứt tay. Dưới chân, gã xỏ một đôi tông Lào quai cao su, thứ “xa xỉ phẩm” thời bấy giờ mà gã phải đổi bằng nửa tháng tem phiếu và vài bao thuốc lá Điện Biên giấu diếm từ trạm giao liên. Gã muốn Mai nhìn thấy mình trong bộ dạng oai hùng, phong trần nhưng không tuềnh toàng. Thằng Thuấn vác ba lô ra đi ngày nào giờ đã là một thằng lính cựu dạn dày, một kẻ sống sót bước ra từ những vệt bom B52 chằng chịt ở tọa độ lửa.
Mà nói gì giờ nhỉ? “Anh về rồi”. Không, sến quá.
“Công tác qua nhà, ghé xem em thế nào”. Ờ, hợp lý. Lạnh lùng và giữ giá.
Nhà Mai nằm ở cuối ngõ, lọt thỏm sau một hàng rào tre đan mắt cáo đã ngả màu xám xịt vì nắng mưa. Những sợi lạt buộc rào bung ra lởm chởm, mốc meo.
Từ khe hở rách bươm của hàng rào, một thứ âm thanh vỡ vụn dội vào màng nhĩ Thuấn. Tiếng tặc lưỡi. Tiếng nút chùn chụt. Và một giọng hát ru nhừa nhựa, lười biếng.
Trên cái chõng tre kê dưới gốc cây khế vẫn là Mai, nhưng mái tóc tết đuôi sam ngày nào giờ búi cẩu thả sau gáy. Cô mặc chiếc áo phin trắng xỉn màu, nhưng hàng cúc ngực đã được bung ra đến quá nửa. Phơi trần dưới ánh nắng gắt gỏng là bộ ngực căng tức, nổi rõ những đường gân xanh xao. Và bám chặt lấy bầu ngực ấy là một thằng nhóc đỏ hỏn, cái đầu lơ phơ vài cọng tóc tơ đang ngọ nguậy, cái miệng bé xíu ngậm chặt lấy núm vú, mút lấy mút để, phát ra những tiếng sột soạt tham lam. Mai cúi xuống, dùng mép cái quạt nan rách phẩy phẩy đuổi mấy con ruồi đang vo ve quanh mặt đứa trẻ, vẻ mặt nhẫn nhục, mệt mỏi và mãn nguyện một cách bản năng.
Hơi nóng trong ngõ đột ngột bóp nghẹt khí quản Thuấn.
Lời hứa ở ga Hàng Cỏ. Chiếc khăn mùi xoa thêu hình con chim bồ câu vẹo vọ vẫn nằm dưới đáy ba lô con cóc. Ba năm. Chỉ mới ba mươi sáu tháng. Trong khi gã đang cắm mặt xuống bùn lầy, chia từng bao thư dính máu, cãi nhau với thằng Lâm vắt mũi chưa sạch về chặng đưa thư nào nhanh nhất, thì ở đây, cái “hậu phương” của gã đã kịp bung cúc áo cho một thằng đàn ông khác gieo hạt và vắt sữa.
Khối cơ hàm gã bành ra, nghiến chặt lại với nhau đến mức tai ù đi. Gã thấy mình ngu ngốc. Một sự ngu ngốc lố bịch.
Thuấn lùi lại nửa bước. Ánh mắt gã chuyển từ bầu ngực trần của Mai sang cái hàng rào tre mục nát trước mặt. Không suy nghĩ, không màng đến bộ quân phục hồ cứng hay cái vẻ đĩnh đạc vừa dọn sẵn. Thuấn vung chân phải lên, dồn toàn bộ sự uất ức, cay cú và sức mạnh của đôi chân hai năm leo dốc Trường Sơn vào một cú đá.
RẦM.
Tiếng tre nứa nứt toác, gãy vụn vang lên khô khốc, xé toạc cái tĩnh lặng ngái ngủ của con ngõ. Một mảng hàng rào lớn đổ ụp xuống sân gạch, kéo theo một đám bụi đất và tàn lá khế mù mịt.
Bên trong, Mai ré lên một tiếng kinh hãi. Đứa trẻ con giật mình nhả vú mẹ, gào lên khóc ré rắt. Tiếng chó sủa gâu gâu inh ỏi từ mấy nhà hàng xóm bắt đầu cất lên.
Thuấn không đứng lại để xem khuôn mặt hoảng hốt của Mai. Gã quay gót. Gã bỏ chạy trối chết, cuống cuồng, nhục nhã như một thằng ăn trộm vừa bị bắt quả tang.
Một tiếng PÁT vang lên ngay dưới lòng bàn chân. Thuấn lảo đảo, mất trọng tâm, suýt nữa cắm đầu xuống nắp cống. Quai cao su của chiếc dép tông Lào bên trái đã bị giật đứt tung khỏi cái lỗ tròn trên đế xốp. Cái móc bằng nhựa hình nút chai kẹt cứng giữa hai ngón chân gã.
Thuấn hất tung chiếc đế xốp màu xanh văng vào đống rác ven đường. Một chân xỏ tông Lào, một chân trần giẫm lên mặt đường bỏng rát, gã chạy thục mạng ra khỏi con ngõ, bỏ lại phía sau tiếng khóc của đứa trẻ và thanh âm đổ vỡ của một mối tình.
***
Gió sông Hồng mang theo mùi tanh tưởi của bùn lầy và xác tôm cá tấp vào bãi bồi.
Thuấn ngồi bệt xuống một mỏm bê tông kè bờ, hai cánh tay vòng qua gối. Bàn chân trái trần trụi của gã tứa máu, rớm đen những hạt sỏi li ti cắm sâu vào gót. Bộ quân phục nhàu nhĩ, bết bát mồ hôi.
Trở về nhà lúc này là điều không thể. Gã không thể vác cái bộ mặt thất tình, quần áo xộc xệch, chân thấp chân cao bước vào cửa để ông cụ thân sinh nhếch mép cười khẩy. Gã cần một cái cớ để ở ngoài đường cho đến khi cái cục ức trong ngực tiêu thực hết.
Từ phía bãi phù sa ngập ngụa cỏ lác cách đó chừng mười mét, tiếng ếch nhái râm ran bị chọc thủng bởi một thứ tạp âm chói tai. Thuấn cau mày, nheo mắt nhìn qua màn bụi mờ.
Năm sáu đứa trẻ con đen nhẻm, cởi truồng hoặc mặc những chiếc quần đùi chun lỏng lẻo đang vầy bùn. Thằng lớn nhất trong đám, trạc mười tuổi, mũi dãi thò lò tèm lem quệt ngang má, đang cầm một ống nứa có khoét mấy lỗ tròn. Nó phồng mang trợn má, chu mỏ thổi phù phù vào cái lỗ thổi. Thay vì tiếng sáo, cái thứ lọt ra là một chuỗi thanh âm rít lên the thé, xé màng nhĩ, như tiếng một con gà mái bị cắt tiết làm hỏng sự im lặng của khúc sông.
Đầu óc Thuấn vốn đang căng như dây đàn, thứ âm thanh đó chẳng khác nào một mũi khoan rỉ sét chọc thẳng vào màng não gã. Gã chống tay đứng dậy, đi tập tễnh trên một chiếc dép tông còn lại, tiến về phía bãi lác.
“Ê! Thằng kia!” Thuấn gắt to, giọng khàn đặc. “Mày thổi cái quái gì mà như móc họng người ta thế hả?”
Đám trẻ con giật mình ngừng nghịch đất. Thằng nhóc cầm sáo trố mắt nhìn gã đàn ông mặt đằng đằng sát khí, quân phục xộc xệch, một chân không dép đang lù lù đi tới. Nó sợ hãi lùi lại nửa bước, giấu vội ống nứa ra sau lưng.
“Đưa đây chú xem nào”, Thuấn vươn tay ra, dùng cái giọng mệnh lệnh của cửa trên. Gã chẳng có hứng thú gì với âm nhạc lúc này. Gã chỉ muốn tước cái công cụ gây rối đó để trả lại sự yên tĩnh cho mặt sông, và cũng để thỏa mãn cái nhu cầu tàn nhẫn muốn chèn ép một kẻ yếu hơn mình để bù đắp cho cú sốc ban trưa.
Thằng bé mếu máo, dùng dằng không chịu đưa. Thuấn bước tới, bàn tay to bè đầy chai sần túm lấy đầu ống nứa, giật mạnh. Cây sáo tuột khỏi những ngón tay nhỏ xíu.
“Mượn thổi một tí rồi trả. Trẻ con biết gì mà đòi chơi đồ nghệ thuật”. Thuấn lẩm bẩm, dùng vạt áo lau sạch lớp nước bọt dính nhơm nhớp trên miệng sáo. Gã nâng ống nứa lên ngang môi.
Trong đầu Thuấn bất chợt xẹt qua hình ảnh của Lâm. Thằng sinh viên kiến trúc chết tiệt ấy không chỉ biết phân tích thổ nhưỡng. Những đêm gác trạm K4 mưa rả rích, Lâm thường lấy một ống xì gà rỗng, đục lỗ và dạy Thuấn cách bấm ngón. “Anh Thuấn nhìn này, nốt Sol ngón áp út mở, nhịp ba phần tư nhé... thả lỏng cái cổ tay ra, anh gồng như đang bóp cò AK thế thì thổi sáo cái nỗi gì”. Lâm hay cười hềnh hệch mỗi khi Thuấn làm sai nhịp. Gã học nhanh. Gã nhớ nằm lòng từng vị trí đặt ngón, vì trí nhớ của gã vốn là bộ nhớ của một thằng học sinh giỏi toán.
Thuấn nhắm mắt lại. Gã bắt đầu thổi.
Bài Xuân chiến khu. Các ngón tay gã lên xuống thoăn thoắt, bịt và mở các lỗ nứa chính xác đến từng milimet. Không một nốt nào sai cao độ.
Nhưng gã thổi sai nhịp hoàn toàn. Chỗ cần ngân dài thì gã cắn cụt lủn. Chỗ cần lướt nhanh thì gã nhấm nhẳng, hụt hơi. Bài hát mùa xuân cách mạng qua luồng hơi của gã biến thành nhịp hành khúc rệu rã.
Thằng nhóc chủ nhân cây sáo trố mắt nhìn, nước mũi chưa kịp lau khô. Nó há hốc mồm, có lẽ không hiểu tại sao một người lớn giật sáo của mình lại có thể thổi ra cái thứ âm thanh còn kinh khủng hơn cả nó.
“Thổi như nện búa vào đe thế kia thì vứt sáo đi cho rảnh nợ”.
Một giọng nữ vang lên, cắt ngang tiếng sáo tồi tệ của Thuấn.
Thuấn hạ cây sáo xuống, trừng mắt nhìn về phía phát ra âm thanh.
Cách gã vài bước chân, một người con gái đang đứng đó. Ống quần lụa đen xắn cao quá bắp chân, để lộ đôi bàn chân trần dính đầy bùn. Áo sơ mi cộc tay dính vài vệt bèo tây xanh ngắt. Một tay cô xách cái rổ tre ướt sũng nhốt mấy con cua đồng đang bò lổm ngổm, tay kia chống nạnh ngang hông. Khuôn mặt cô sạm nắng đỏ au, lấm tấm vài giọt mồ hôi, nhưng đôi mắt đen lay láy, sắc sảo và ráo hoảnh đang nhìn thẳng vào mặt Thuấn với một sự giễu cợt.
“Chị Thu! Ông này giật sáo của em!” Thằng nhóc con vội vã mách lẻo, chạy nấp tọt ra sau lưng cô gái.
Thu, tên cô ta là Thu. Gã lính cựu trong Thuấn lập tức thu râu lại. Bị bắt quả tang cướp đồ của trẻ con đã đành, lại còn bị chê thẳng thừng về năng lực nghệ thuật. Khuôn mặt sạm đen vì nắng gió Trường Sơn của gã nóng ran, từ thái dương lan xuống tận gáy. Gã lúng túng nhìn cây sáo trong tay, rồi nhìn lại cô gái.
“Tôi… mới tập. Hơi chệch nhịp một tí thôi mà”. Thuấn biện minh, giọng lí nhí vỡ nát. Gã thô lỗ dúi lại cây sáo vào tay thằng nhóc, định quay lưng bước đi, tiếp tục vớt vát chút thể diện bằng cái tướng đi khập khiễng rách nát của mình.
Nhưng khi gót chân trần của gã vừa xoay đi, một cái tôi của một gã đàn ông không chấp nhận thua cuộc trước phụ nữ đột ngột dựng ngược lên. Hoặc cũng có thể, sự mộc mạc và đôi mắt của cô gái tên Thu ấy đã găm vào đầu gã một sự kích thích kỳ lạ.
Thuấn dừng lại. Gã quay ngoắt người, chỉ tay vào cái ống nứa.
“Ấy, cô chê tôi nện búa vào đe. Giỏi thì cô thổi xem nào. Nhịp với chả phách. Mấy người đứng ngoài bờ chỉ tay năm ngón thì hay lắm”.
Thu không nói gì. Khóe môi cô hơi nhếch lên, tạo thành một nụ cười nửa miệng đầy thách thức. Cô thả rổ cua xuống bãi cỏ lác. Chầm chậm, cô vươn tay rút lấy cây sáo từ tay thằng em trai. Cô kéo vạt áo lau qua loa lỗ thổi, rồi nâng nó lên, tự nhiên như người ta đưa bát cơm lên miệng.
Cơn gió sông Hồng thổi thốc tới, làm những lọn tóc rối tung bay lòa xòa trên trán Thu. Cô hơi nhắm mắt lại.
Và tiếng sáo cất lên.
Cũng là bài Xuân chiến khu. Cũng là cái ống nứa rẻ tiền mua vội ngoài chợ. Nhưng âm thanh thoát ra lại tròn trịa, lấp lánh. Từng nốt nhạc cuộn vào nhau, nhảy nhót theo một nhịp điệu dập dềnh như những con sóng vỗ vào mạn thuyền. Có những đoạn ngân nga luyến láy mượt mà đến mức Thuấn cảm thấy lông tay mình dựng đứng lên. Tiếng sáo của Thu mạnh mẽ, dứt khoát, đầy sức sống phồn thực của người dân bám trụ bên dòng sông ngập ngụa phù sa.
Thuấn đứng chết trân. Gã quên mất sự nhục nhã. Quên mất mình đang đứng với một chân trần và một chiếc dép tông què quặt. Gã dán mắt vào những ngón tay thô ráp dính bùn đang lướt trên các lỗ sáo, nhìn đường gân cổ cô khẽ rung lên theo từng luồng hơi.
Gã đã thua. Thua trắng bụng. Nhưng kỳ lạ thay, gã không hề thấy tức giận.
Khúc nhạc kết thúc. Thu hạ sáo xuống, mở mắt ra, nhìn Thuấn với một vẻ đắc thắng.
“Thế mới gọi là thổi sáo. Nhịp là ở trong ngực, không phải cứ vặn ngón tay cho nhanh là thành nhạc đâu anh bộ đội ạ”. Thu dúi lại cây sáo cho thằng nhóc, xách rổ cua lên, thủng thẳng bước đi dọc theo mép nước, không thèm nhìn lại gã lấy một lần.
Thuấn đứng ngây ra nhìn theo bóng lưng đẫy đà của Thu khuất dần sau rặng cỏ lác. Gã từ từ đưa tay vuốt mặt. Một nụ cười méo mó, ranh mãnh bắt đầu kéo xếch khóe môi gã lên.
Trong đầu gã, một dòng tự sự bắt đầu được biên tập lại.
Khi quay lại trạm giao liên, có chết gã cũng không kể cho thằng Lâm nghe về cái bờ rào tre mục nát hay về việc gã chạy trối chết đứt cả quai dép tông Lào.
Gã sẽ châm một điếu thuốc, rít một hơi thật sâu, nhả khói một cách điệu nghệ, rồi nhìn thẳng vào cái gọng kính cận của thằng Lâm mà thong thả kể lại rằng: “Mày biết không, hôm đó tao ra bờ sông Hồng. Tao lấy cây sáo, thổi cái bài Xuân chiến khu mà mày dạy ấy. Tao thổi mượt đến mức, có một cô dân quân xinh đẹp tuyệt vời đi ngang qua, nghe xong phải đứng chết trân, rớt cả rổ cua xuống đất, nhìn tao mê tít thò lò. Mắt cô ấy ướt rượt. Và cô ấy tên là Thu...”
Nghĩ đến cái vẻ mặt trầm trồ, ghen tị sắp tới của thằng Lâm, Thuấn bất giác bật cười thành tiếng. Tiếng cười khàn đục tan vào gió sông Hồng. Gã cúi xuống nhặt cái dép tông hỏng lên, kẹp vào nách, tập tễnh bước ngược lên đê, trong lòng thấy nhẹ bẫng một cách lạ lùng.