Đọc to (tiếng Việt) Nhấn phát để bắt đầu
Ngõ Cây Điệp

Chương 3: Thằng Shipper

Sự kiện chiếc Wave xanh đâm vào đống củi đã để lại trong nhà số 42 hai thứ: Một đống củi phải xếp lại, và một thằng shipper không biết khi nào chịu biến đi.

Tuấn bị bong gân cổ chân phải.

Anh thợ sửa xe bảo may mà không gãy. Ông Thuấn nghe vậy thì hừ một tiếng, như thể chuyện không gãy chân cũng là một bằng chứng nữa cho thấy đời này thường ưu ái những kẻ đi đứng cẩu thả. Tuấn thì coi đó là tin dữ. Không gãy nghĩa là không được bó bột đàng hoàng, không có vẻ thương tật đủ thuyết phục để chủ trọ thương tình, cũng không đủ nghiêm trọng để công ty giao hàng cho nghỉ dài mà không phạt điểm.

Cổ chân nó sưng lên, tím một mảng. Anh thợ sửa xe lấy tạm cái nẹp cũ buộc lại, dặn mấy ngày đầu đừng đi nhiều. Tuấn gật đầu rất ngoan, rồi quay sang nhìn chiếc Wave đang được dựng trước hiên nhà ông Thuấn.

“Xe em bao giờ xong anh?”

Anh thợ nhìn nó, rồi nhìn cái bánh trước cong nhẹ.

“Còn tùy”.

Tuấn nuốt nước bọt.

Xe ấy không phải của nó. Nó mượn của ông anh họ ở cùng xóm trọ. Lúc mượn, Tuấn còn cười hề hề, bảo: “Em chạy xe công nghệ chuyên nghiệp, anh cứ yên tâm”. Bây giờ nó nghĩ lại, thấy trong đời có những câu nói ra chỉ để sau này tự mình xấu hổ.

Chủ trọ thì đã nhắn tin từ sáng.

“Cuối tuần không trả tiền thì dọn đồ”.

Tin nhắn không có dấu chấm than, nhưng Tuấn vẫn thấy nó như một cái dép ném thẳng vào mặt. Nó nợ hai tháng tiền phòng, chưa kể tiền điện. Nếu về quê, bố nó chắc chắn sẽ hỏi vì sao hai mươi tuổi đầu lên Hà Nội làm ăn mà người thì gầy đi, xe thì hỏng, tiền thì không có, chân thì bó nẹp. Với tính ông ấy, có khi sẽ quật gãy nốt cái chân còn lại của nó trước khi cậu kịp mở miệng trả lời.

Thế nên, sau khi cân nhắc kỹ lưỡng trong khoảng hai phút, Tuấn quyết định ở lại nhà ông Thuấn.

Lý do chính thức là để chờ xe sửa xong, tiện thể đền công xếp lại đống củi.

Lý do không chính thức là nhà ông Thuấn có mái hiên khô ráo, có cơm nóng, và tạm thời chưa có ai đòi ném nó ra đường.

Ông Thuấn không mời nó ở lại.

Nhưng cũng không đuổi.

Ông chỉ nhìn nó lết cái chân bó nẹp vào hiên, nhìn cái ba lô vải sờn của nó đặt cạnh chân cột, rồi hỏi: “Định đóng quân lâu dài à?”

Tuấn cười lấy lòng.

“Dạ, cháu ở tạm hai hôm. Xe sửa xong cháu đi ngay”.

“Hai hôm là bốn mươi tám tiếng. Quá một tiếng tôi bắt đầu tính tiền thuê”.

“Vâng vâng. Cháu phụ bác việc nhà. Coi như trừ nợ”.

Ông Thuấn cầm ấm nước chè lên, rót ra chén. Nước chè đặc, xanh sẫm, nóng đến mức khói bốc lên như vừa được nấu bằng sự thù hằn.

“Cậu biết làm gì?”

Tuấn nghĩ một lúc.

“Cháu biết giao hàng”.

“Nhà này không cần giao hàng”.

“Cháu biết dùng điện thoại”.

“Càng không cần”.

“Cháu biết quét sân, nhặt rau, rửa bát”.

Ông Thuấn nhìn nó từ đầu đến chân.

“Rửa bát mà vỡ cái nào thì tính theo giá đồ cổ”.

Tuấn nhìn vào gian bếp. Trên chạn có mấy cái bát men xanh sứt miệng, một cái đĩa hoa văn đã mờ, một cái âu nhôm móp cạnh.

“Đồ cổ thật hả bác?”

“Ít nhất là cổ hơn cậu”.

Tuấn im. Với ông Thuấn, im nhiều khi là cách an toàn nhất.

Từ hôm đó, căn nhà số 42 có thêm một tiếng động.

Trước kia, buổi sáng trong nhà ông Thuấn diễn ra rất đúng giờ. Năm giờ rưỡi, ông dậy. Năm giờ bốn mươi, mở cổng. Sáu giờ, quét sân. Sáu giờ mười lăm, đun nước. Sáu giờ ba mươi, lau xe. Bảy giờ, ăn sáng. Mọi việc tuần tự, khô ráo, ít lời. Đến con mèo hoang thỉnh thoảng ghé sân cũng biết nếu muốn xin ăn thì phải đến sau bảy giờ mười, khi ông đã ăn xong và còn thừa vài mẩu cơm cháy.

Từ khi Tuấn ở lại, nó ngủ trên cái võng dù mắc ngoài hiên. Ngủ thì ngáy nhỏ, nhưng trở mình rất nhiều. Cứ mỗi lần trở mình, cái võng lại cót két, chân bó nẹp của nó lại va vào cái ghế con, phát ra tiếng cộc. Đến gần sáng, nó hay mơ, miệng lẩm bẩm những câu rời rạc: “Đơn này xa quá... anh ơi em đến rồi... đừng bom hàng mà...” Có hôm nó còn giật mình ngồi bật dậy, vớ lấy điện thoại, mở app kiểm tra, rồi mới nhớ mình đang bị thương.

Ông Thuấn ngồi bên bàn nước, nhìn nó như nhìn một vật thể lạ. “Ngủ cũng giao hàng?”

Tuấn dụi mắt. “Bị ám bác ạ”.

“Ám thì đi chùa”.

“Đi chùa thì sao mà chạy app được hả bác”.

Ông Thuấn không hiểu hết chữ “app” trong miệng nó, nhưng cũng không hỏi thêm. Ông đã sống đủ lâu để biết có những thứ không hiểu đôi khi lại là may mắn.

Tuấn ăn uống cũng làm ông khó chịu.

Nó thích chan nước mắm, thích bỏ tương ớt vào mọi thứ, kể cả trứng luộc. Nó ăn nhanh, nhai vội, mắt thỉnh thoảng lại liếc về phía điện thoại đang sạc ở góc nhà. Bữa đầu tiên, nó vừa cầm bát vừa xem màn hình.

Ông Thuấn đặt đũa xuống. “Cậu ăn cơm hay ăn cái máy?”

Tuấn giật mình, tắt màn hình. “Cháu xem có đơn không thôi”.

“Đang ăn cơm thì biết cơm. Đơn nào chen vào bữa cơm thì đơn ấy vô giáo dục”.

Tuấn muốn cãi rằng đơn hàng không có giáo dục hay vô giáo dục, chỉ có nhiều tiền hay ít tiền. Nhưng nó nhìn bát cơm nóng trước mặt, nhìn miếng thịt luộc ông Thuấn vừa gắp thêm vào bát nó mà không nói gì, rồi đành cắm đầu ăn.

Đến lượt Tuấn, nó cũng chê nhà ông Thuấn không có wifi.

“Không có cái ấy thì chết à?” Ông Thuấn thắc mắc.

 “Không, nhưng khó sống lắm bác ạ”. Nó vừa gãi đầu vừa liếc sang cái điện thoại.

Ông Thuấn đang uống nước, khựng một chút, rồi quay sang nhìn nó.

Tuấn lập tức cúi gằm xuống bó rau.

Mấy ngày đầu, công việc chính của Tuấn là ngồi ở hiên, nhặt rau muống, bóc tỏi, rửa bát và nghe ông Thuấn chửi những lỗi rất nhỏ mà trước đó nó không biết là có thể chửi được.

Rau muống phải ngắt đoạn vừa ăn, không được dài như dây điện. Bát rửa xong phải úp đúng chiều, không được để nghiêng. Chổi quét sân xong phải dựng đầu chổi lên, không được úp xuống làm tòe nan. Gạo vo hai nước là đủ, vo đến nước thứ ba thì không phải sạch mà là phí.

Tuấn tiếp thu khá nhanh, dù miệng vẫn lẩm bẩm. “Bác sống một mình mà lắm quy định như trong quân đội ấy”.

Ông Thuấn đang thái thịt, không quay lại.

“Con người phải có kỷ luật”.

“Vâng, nên cháu mới thấy đáng sợ hơn”.

Lưỡi dao trên thớt dừng lại một nhịp.

“Ý cháu là... nghiêm hơn”. Tuấn lập tức sửa.

“Cậu mà biết sợ sớm hơn thì xe đã không nằm ở tiệm”. Ông Thuấn thái tiếp.

Tuy vậy, căn nhà hình như bớt vắng hơn.

Ông Thuấn không nói ra, vì ông không có thói quen thừa nhận những thứ mềm yếu. Tuấn càng không nói, vì nó vẫn tự nhắc mình chỉ ở nhờ vài hôm, không nên làm như đã có quê quán thứ hai. Nhưng có những thay đổi nhỏ cứ tự diễn ra. Bữa cơm nấu nhiều hơn một chút. Ấm nước chè pha loãng hơn vì Tuấn uống không quen nước đặc. Cái võng ngoài hiên được ông Thuấn thay sợi dây mới, nhưng khi Tuấn hỏi thì ông bảo tại dây cũ mục rồi.

Tuấn tin khoảng một nửa.

Một buổi chiều, mây từ phía xa trườn tới, xám và thấp. Gió lùa qua ngõ, làm lá bàng già trước cổng lật mặt bạc lên. Ông Thuấn mặc áo mưa ni-lông, đội chiếc mũ cối bạc màu, bảo phải ra phường có việc.

Trước khi đi, ông đứng ở ngưỡng cửa nhìn Tuấn. “Ở nhà thì ở yên, đừng có nghịch linh tinh”.

Tuấn đang nằm trên võng, chân kê lên ghế, tay cầm điện thoại. “Cháu hai mươi tuổi rồi bác”.

“Thế càng phải dặn”.

“Cháu có phải trẻ con đâu”.

Ông Thuấn nhìn cái màn hình vỡ trên tay nó.

“Trẻ con ít nhất còn biết đồ chơi của nó hỏng”.

Nói xong, ông cưỡi chiếc xe đạp đi.

Mưa bắt đầu rơi sau đó không lâu. Ban đầu chỉ là vài hạt lấm tấm, rồi dày lên, đập vào mái tôn ngoài hiên thành tiếng lộp bộp đều đều. Tuấn nằm nghe mưa, xem mấy video TikTok được một lúc thì chán. Điện thoại cũng sắp hết pin, mà ổ cắm gần nhất lại ở trong phòng ông Thuấn.

Từ mấy hôm ở đây, Tuấn biết đó là nơi ông Thuấn không muốn ai bước vào. Phòng ngủ nhỏ, nằm phía trong, cửa sổ mở ra khoảng sân sau. Mỗi sáng, ông vào đó, rồi đóng cửa lại. Có lần Tuấn lết tới gần để lấy cái giẻ lau, ông Thuấn đã từ bếp nói vọng ra ngay: “Cấm vào”.

Nhà bác có gắn camera à?” Tuấn hỏi.

“Tôi có mắt ở sau gáy”.

Bình thường, Tuấn sẽ không vào.

Nhưng hôm ấy, nó ngồi nhìn nền nhà, thấy bụi tích ở góc tường. Trên mặt tủ ngoài phòng khách cũng có một lớp bụi mỏng. Tự nhiên nó nghĩ mình nên làm gì đó cho ra dáng người đang trả nợ. Dù sao, ăn cơm nhà người ta mấy hôm mà chỉ nhặt rau muống thì cũng hơi kỳ. Với lại, ông Thuấn càng cấm, căn phòng ấy càng có vẻ như chứa một câu trả lời nào đó về ông già khó tính này.

Tuấn chống tay đứng dậy, nhăn mặt vì cổ chân đau. Nó lết vào trong, lấy cây chổi ở góc bếp, rồi dừng trước cửa phòng ngủ.

“Cháu quét phòng thôi nhé”, nó nói với căn nhà trống.

Không ai trả lời thì nó coi đó là đồng ý.

Căn phòng có mùi dầu gió, mùi gỗ cũ và mùi thời gian. Một chiếc giường sắt kê sát tường, chăn gấp vuông ở đầu giường. Bên cạnh là cái tủ gỗ sồi đã bong véc-ni. Trên tường treo một tấm ảnh cưới đen trắng đã ngả màu. Trong ảnh, ông Thuấn trẻ hơn nhiều, mặc bộ quân phục thẳng nếp, mặt nghiêm như vừa được giao nhiệm vụ quan trọng. Bên cạnh ông là một người phụ nữ mặc áo dài sáng màu, khuôn mặt nhỏ, mắt hiền. Bà mỉm rất nhẹ, nhưng nụ cười ấy làm cả tấm ảnh mềm đi.

Tuấn đứng nhìn ảnh một lúc.

“Bà chắc chịu bác giỏi lắm”, nó lẩm bẩm.

Trên chiếc bàn nhỏ dưới ảnh cưới là một bát hương, một lọ hoa giả đã bạc màu, một khung ảnh riêng của người phụ nữ ấy. Tuấn lập tức hạ giọng, dù trong phòng không có ai.

“Cháu xin phép quét nhà cho sạch thôi ạ”.

Nó bắt đầu quét từ góc tủ, rồi đến dưới gầm bàn, cuối cùng là gầm giường. Khoảng tối dưới giường thấp và sâu. Tuấn cúi xuống, đưa cán chổi vào. Bụi bám thành từng cục nhỏ lăn ra. Nó ho khẽ, lấy tay phẩy phẩy trước mũi.

Cán chổi chạm phải vật gì đó.

Tuấn dừng lại. Nó đưa cán chổi khều thêm lần nữa. Vật bên trong xê dịch một chút, va vào chân giường. Nó nằm nghiêng xuống sàn, thò tay vào.

Đó là một chiếc hộp sắt tây cũ, loại hộp bánh quy bơ ngày trước. Lớp sơn bên ngoài đã tróc nhiều, những bông hoa in trên nắp mờ đi, có chỗ rỉ sét ăn thành vệt nâu. Hộp nhẹ hơn Tuấn tưởng, nhưng khi nó nhấc lên thì nắp hộp, vì không còn khít, bật lệch ra.

Bên trong chỉ có một chiếc phong bì đã ngả màu nâu, được bọc trong mấy lớp túi ni-lông mỏng. Ni-lông cũng đã ố, giòn, nhăn lại ở các mép. Tuấn cầm lên rất cẩn thận. Dù bình thường nó không phải người nhẹ tay, lúc ấy nó vẫn tự nhiên biết rằng thứ này không nên làm hỏng.

Ở góc dưới phong bì có một mảng sẫm màu. Mảng ấy khô cứng, ăn vào giấy, làm mặt giấy nhăn lại. Tuấn nhìn một lúc, rồi thấy sống lưng hơi lạnh.

Trên mặt phong bì, nét chữ đã mờ. Có chỗ mực bị nước làm nhòe. Nó đưa phong bì gần cửa sổ để nhìn rõ hơn.

“Người nhận: U và em Ẩn. Số 4, ngõ Cây Điệp, phố Hàng...”

Phần sau bị mảng sẫm che mất. Chỉ còn chữ “Hàng” và vài nét đứt quãng không đoán nổi.

Tuấn đọc lại lần nữa.

“Ngõ gì cơ?”

Nó chưa từng nghe cái tên ấy.

Hà Nội có nhiều ngõ. Làm shipper, Tuấn tự cho là mình biết khá nhiều loại ngõ: Ngõ thông, ngõ cụt, ngõ có ba nhà cùng số, ngõ mà chó sủa trước khi người bấm chuông, ngõ vào được nhưng ra phải lùi xe, ngõ trên bản đồ nhìn thẳng mà ngoài đời ngoằn ngoèo như ruột gà. Nhưng ngõ Cây Điệp thì nó chưa thấy bao giờ.

Nó đặt phong bì lên giường, lấy điện thoại ra. Màn hình vỡ khiến những đường nứt chạy ngang qua ô tìm kiếm. Tuấn gõ: “Ngõ Cây Điệp Hà Nội”.

Vòng tròn tải dữ liệu quay một lúc.

Không có kết quả phù hợp.

Nó thử lại: “Cây Diệp”, “Cây Điệp phố Hàng”, “ngõ cây điệp phố cổ”. Kết quả nhảy ra mấy quán cà phê, một đường ở tỉnh khác, vài bài bán cây cảnh. Không có địa chỉ nào giống trên phong bì.

Tuấn cau mày.

“Lạ…”

Nó mở bản đồ, phóng to khu phố cổ. Những đường màu vàng, xám, trắng hiện lên chằng chịt. Hàng Bông, Hàng Gai,... Những cái tên cũ nằm sát nhau như một đống chỉ rối. Nhưng không có ngõ Cây Điệp.

Nó đang định chụp ảnh phong bì để tìm tiếp thì một giọng nói vang lên sau lưng.

“Thằng kia?!”

Tuấn giật bắn.

Chiếc điện thoại rơi xuống chăn. Nó quay lại.

Ông Thuấn đứng ở cửa phòng.

Áo mưa của ông còn nhỏ nước. Mũ cối ướt sẫm. Có lẽ ông đã về từ lúc nào mà Tuấn không nghe thấy vì mưa. Khuôn mặt ông tái đi một cách kỳ lạ.

“Cháu... cháu quét phòng. Cái hộp rơi ra. Cháu không cố ý”. Tuấn cứng họng.

Ông Thuấn lao tới túm lấy cổ áo khoác của Tuấn, nhấc bổng nửa người nó lên. Lực từ cánh tay gân guốc của ông mạnh đến mức Tuấn nghe thấy tiếng đường chỉ áo kêu rắc rắc.

“Ai cho cậu đụng vào nó?! HẢ?!” Nước bọt của ông văng vào mặt Tuấn.

“Bác ơi... cháu xin lỗi... cháu cất lại ngay...” Tuấn hoảng loạn giãy giụa, nhưng bàn tay ông như kìm sắt bóp nghẹt khí quản nó.

Ông Thuấn nghe tiếng mưa ngoài kia tiếng rít của bom đạn. Còn ông đang quỳ giữa rừng Đắk Rông.

Dưới tay ông là Lâm, thằng sinh viên thư sinh, trắng trẻo. Nhưng bây giờ, nửa thân dưới của Lâm đã nát bươm vì một quả pháo “đĩ”. Lâm dùng chút tàn lực cuối cùng, nhét cái bọc nilon nhỏ xíu vào tay Thuấn.

“Anh Thuấn... đường an toàn rồi phải không anh... Em gửi cái này cho u em... Mấy mùa rồi u không nhận được thư... U em bán nước chè, đầu ngõ có cây khế chua lắm...” Lâm thều thào, mắt dại đi nhìn những tán lá rừng đang xoay vòng.

Thuấn ôm chặt lấy Lâm, gào lên gọi y tá.

Nhưng Lâm đã mỉm cười, thanh thản. “Anh bảo cái Ẩn ở nhà đừng khóc nhè nhé... Bảo em... chết nhanh lắm... không kịp đau đâu...”

Đó là lời cuối cùng của Lâm trước khi thằng bé tắt thở, bỏ lại Thuấn với một mảnh nilon dính máu và một lời hứa trĩu nặng bằng cả phần đời còn lại.

Trở lại hiện tại, tay ông Thuấn run lẩy bẩy. Ông buông cổ áo Tuấn ra. Thằng nhóc ngã phịch xuống giường, ho sặc sụa.

Ông vội vã giật lấy lá thư. Ông ôm nó vào ngực, vuốt ve lớp nilon nhàu nhĩ như thể đang vỗ về vết thương của người đồng đội cũ.

Tuấn ôm cổ, vuốt ngực thở hắt ra, ánh mắt vẫn còn hoảng sợ nhìn ông già. Nhưng ssự tò mò và cái tính bép xép khiến nó không kìm được miệng. “Bác... lá thư đó... địa chỉ ma đấy bác ạ. Cháu vừa tra trên bản đồ, làm gì có ngõ nào là ngõ Cây Điệp...”

Ông Thuấn quay phắt lại. Mặt ông méo mó vì một nỗi đau đớn tột cùng.

“Mày im đi!” Ông Thuấn gào lên, giọng vỡ vụn, khản đặc. Nước mắt trào ra từ hai hố mắt sâu hoắm, chảy tràn qua những vết sẹo tăm rỗ. “Mày thì biết cái gì? Mày nghĩ một cái máy do bọn mũi lõ làm ra thì hiểu được đất nước này à?”

Tuấn co rúm người lại trên giường. Lần đầu tiên, nó thấy ông già cứng cỏi này khóc.

Ông Thuấn bước tới, túm lấy vai Tuấn. “Nó bảo ngõ Cây Điệp không có thật ư? Tao đã đi bộ từ ga Hàng Cỏ, rẽ qua ba con phố, ngửi thấy mùi hoa sen từ cái đầm cũ để tìm nó! Chỗ đó tường quét vôi vàng! Có một cây khế chua lòi ở đầu ngõ! Thằng Lâm đứt nửa người, máu nó ướt sũng tay tao, nó không nói dối tao! Mày hiểu không?! Nó không nói dối!”

Ông gục xuống mép giường, hai tay ôm lấy mặt. Bờ vai rộng lớn, gồ ghề của người cựu binh run lên bần bật. Tiếng khóc của ông nghẹn ngào, uất ức như tiếng hú của một con thú bị thương mắc kẹt trong bẫy.

“Nhưng bọn họ san phẳng rồi...” Giọng ông Thuấn thều thào qua kẽ tay, tuyệt vọng đắng ngắt. “Những tòa chung cư cao tầng... những cái máy ủi... Họ ủi phẳng ngõ Cây Điệp rồi... U nó mất rồi... Cái Ẩn thì bặt vô âm tín... Tao đi tìm bốn chục năm nay... Tao đạp xe qua từng cái hẻm, hỏi từng bà bán nước... Tao không tìm thấy đường về nhà cho nó...”

Tuấn ngồi lặng thinh. Cái đau ở cổ chân không là gì so với luồng khí lạnh lẽo, bi thương đang bao trùm cả căn phòng. Nó nhìn lá thư ố vàng trong tay ông Thuấn, rồi nhìn ra màn mưa trắng xóa ngoài cửa sổ.

Ông Lâm chưa về được đến nhà, là vì ông Thuấn không thể tìm ra đường. Đó là tội lỗi, là bản án chung thân mà ông tự tuyên cho chính mình.

Tuấn lết xuống giường, khập khiễng bước tới cạnh ông già đang khóc nấc, đặt một bàn tay ngập ngừng lên bờ vai đang run rẩy của ông.

“Bác Thuấn...” Giọng thằng nhóc chùng xuống. “Nếu... nếu bác cho phép... cháu sẽ tìm cách khác. Cháu thề, cháu sẽ tìm ra ngõ Cây Điệp cho bác”.

Ông Thuấn ngẩng mặt lên. Trong đôi mắt đục ngầu, mỏi mệt của ông, lần đầu tiên sau nhiều năm, có một tia bấu víu nhỏ nhoi lóe sáng.

Bình luận đoạn văn

Bình luận

Trả lời bình luận

Chỉnh sửa bình luận

Thiết lập văn bản

Xem trước

Nội dung sẽ hiển thị như thế này

Chọn font chữ

Cỡ chữ

12px 30px