Chương 2: Ga Hàng Cỏ
Ga Hàng Cỏ, tháng Bảy.
Nắng hắt xuống sân ga một thứ ánh sáng trắng đục, làm những mái tôn, đường ray và vạt áo quân phục mới phát ra mùi nóng âm ẩm.
Thuấn đứng nép bên một cây cột bê tông đã tróc vữa, hai tay đặt dọc theo đường chỉ quần. Cái ba lô con cóc nằm dưới chân, dây buộc đã được cậu thắt đi thắt lại vài lần mà vẫn không ra cái hình thù nào thật sự đáng tin. Thuấn đã cố nhét mọi thứ vào trong ba lô theo một trật tự hợp lý, nhưng sau cùng, cái ba lô vẫn phồng lên ở một bên như bị đau quai bị.
Thuấn nhìn nó, không hài lòng. Một người lính, theo cậu, trước hết phải biết xếp ba lô cho tử tế. Cái này trong sách không nói, nhưng chắc chắn là đúng!
Cổ áo quân phục mới cứa vào gáy cậu.
Cái áo này vừa được phát sáng qua. Vải còn cứng, mùi hồ mới ngai ngái. Cổ áo cọ vào da mỗi khi cậu quay đầu, để lại một vệt rát mỏng. Thuấn đã mấy lần đưa tay định nới cái cúc trên cùng, nhưng lần nào tay cũng dừng lại giữa chừng. Nới ra thì dễ chịu hơn, nhưng trông sẽ xộc xệch. Mà một người lính có học không thể xộc xệch ngay từ buổi đầu ra quân.
Cậu nghiến răng chịu.
Xung quanh, hàng trăm tân binh đứng ngồi lộn xộn. Có người cười to như đi hội, có người im lặng đến mức mặt xám lại. Người nhà chen chúc quanh hàng rào phân cách, gọi tên con, tên anh, tên chồng, tên cháu. Tiếng khóc bị tiếng còi tàu át đi, rồi lại trồi lên ở một khoảng khác. Thỉnh thoảng, loa phóng thanh trên cao rè rè phát một câu mệnh lệnh, nhưng âm thanh vỡ ra giữa đám đông, chỉ còn những mảnh chữ lẫn vào tiếng bánh sắt nghiến trên đường ray.
Thuấn nhìn đám tân binh xung quanh bằng một vẻ thản nhiên mà cậu đã tập từ mấy ngày trước.
Phần lớn bọn họ là trai quê. Chân còn dính bùn ruộng, da đen nhẻm, nụ cười rộng và thật thà. Một cậu ngồi xổm ngay cạnh Thuấn, vừa nhai khoai vừa kể với người bên cạnh rằng mẹ cậu dặn lên đơn vị nếu đói thì xin thêm cơm, đừng ngại. Một người khác ôm khư khư hũ mắm cáy, mùi mắm nồng đến mức mấy cậu đứng quanh tự động dạt ra một khoảng. Xa hơn, có một tân binh vác theo cái lồng gà nhỏ, bên trong con gà mái nằm im thin thít, mắt tròn xoe, có vẻ nó cũng không hiểu tại sao mình lại phải tham gia buổi tiễn quân này.
“Mẹ tớ bảo vào trong ấy thiếu thịt lắm”, cậu vác lồng gà giải thích với bất cứ ai nhìn mình quá ba giây.
Thuấn nghe thấy, suýt bật cười, nhưng kịp giữ mặt nghiêm.
Cậu không khinh họ. Ít nhất cậu tự nhủ như thế. Nhưng trong lòng cậu vẫn có một thứ kiêu hãnh khó gọi tên. Ở thời buổi này, học hết lớp 10 không phải chuyện nhỏ. Ông chủ nhiệm hợp tác xã đã bảo thẳng với bố cậu rằng Thuấn nên xin một chân văn thư, ít nhất cũng làm cán bộ ở địa phương. Một cái đầu biết giải phương trình, biết đọc thơ Mayakovsky, biết viết báo tường, đem ra chiến trường thì phí.
Nhưng chính vì người ta nghĩ thế mà Thuấn càng thấy mình phải đi.
Cậu không muốn ngồi ở một cái bàn gỗ, chấm mực tím lên giấy tờ, trong khi những người khác đi vào nơi lịch sử đang được viết bằng máu. Cậu ghét cái ý nghĩ sau này có ai đó nhìn mình và nói:Tthằng Thuấn học cao nên ở lại hậu phương. Cậu muốn chứng minh rằng trí thức không phải loại chỉ biết cầm bút. Một cái đầu có chữ cũng có thể đội mũ sắt. Một bàn tay từng cầm compa cũng có thể cầm súng.
Nghĩ đến đó, Thuấn thấy cổ áo đỡ rát hơn một chút.
Cậu cúi xuống kiểm tra lại quai ba lô. Quai vẫn lỏng. Thuấn kéo mạnh. Sợi dây trượt ra một đoạn, làm cái ba lô phồng thêm ở góc trái.
Cậu lập tức đặt chân lên ba lô, cố nén nó xuống.
“Cậu buộc ngược dây rồi”.
Một giọng nói vang lên bên cạnh.
Thuấn ngẩng lên. Cậu trai đang ăn khoai nhìn cậu, miệng còn dính một mẩu ruột khoai vàng.
“Gì?”
“Dây đó phải vòng qua bên kia rồi mới thít. Cậu vòng thế thì càng kéo càng tuột”.
Thuấn nhìn cái dây, rồi nhìn cậu ta. “Biết rồi!”
“Ừ, biết thì tốt”. Cậu trai ăn khoai gật đầu rất thật thà rồi quay đi, tiếp tục ăn khoai.
Thuấn cúi xuống, lặng lẽ vòng lại sợi dây theo đúng cách người kia vừa nói. Lần này, ba lô gọn hơn hẳn. Cậu đứng thẳng dậy, phủi bụi ở đầu gối, cố làm như mọi chuyện đều nằm trong dự tính.
“Anh Thuấn! Anh Thuấn ơi!”
Một giọng nữ lanh lảnh cố rướn qua bức tường âm thanh hỗn tạp. Thuấn giật mình quay lại.
Mai đang chật vật chen qua một đám tân binh đang vác những chiếc ba lô con cóc nặng trịch. Cô mặc chiếc áo sơ mi trắng, cổ lá sen bợt màu, đuôi tóc tết hai bên tuột ra vài lọn loà xoà trước trán. Khuôn mặt Mai đỏ gay vì nóng và vì bị người ta xô đẩy. Cánh tay gầy guộc của cô cố giơ lên cao vẫy vẫy, nhưng ngay lập tức bị một gã vác bao tải va phải khiến cô lảo đảo.
Thuấn vội vàng lách qua hai người lính đang đứng cãi nhau xem mùa vụ tới nên trồng khoai hay sắn. Cậu bước những bước dài, thẳng thắn, cố giữ cho nét mặt mình một vẻ bình thản, lạnh lùng nhất có thể về phía Mai.
“Đến muộn thế”, Thuấn lên tiếng khi khoảng cách giữa hai người chỉ còn lại chưa đầy nửa mét.
Mai thở dốc, lồng ngực dưới lớp áo trắng mỏng phập phồng liên hồi. Cô cúi mặt, tránh ánh mắt trực diện của Thuấn. Mũi giày bám đầy bụi than của cô cứ di di trên nền bê tông nứt nẻ.
“Tàu điện… dừng ở chỗ Cửa Nam. Em phải chạy bộ lại đây”, Mai lí nhí đáp, giọng đứt quãng. Mồ hôi rịn ra hai bên thái dương, bết những sợi tóc non lại. Mùi bồ kết nhè nhẹ từ tóc cô tỏa ra, nhưng bị mùi khét lẹt của nhà ga nuốt chửng.
Thuấn đứng im. Hai cánh tay cậu buông thõng dọc theo đường chỉ quần. Cậu muốn đưa tay lên vén lọn tóc đang dính trên trán Mai, nhưng bàn tay cứ cứng đơ lại. Xung quanh họ, người ta đang khóc lóc, dặn dò, hứa hẹn. Có một bà mẹ đang gào lên thảm thiết ôm riết lấy chân đứa con trai. Có cậu trai đang sướt mướt chia tay bạn gái. Nhưng sự ướt át bộc lộ ra bên ngoài ấy khiến Thuấn cảm thấy ngứa ngáy. Cậu tin rằng những tình cảm sâu sắc nhất phải được giấu kín lại dưới sự kiên cường ráo hoảnh.
“Khóc à?” Thuấn hơi nheo mắt nhìn hai viền mắt đỏ hoe của Mai.
“Không”. Mai chớp mắt liên tục, ngẩng lên nhìn Thuấn rồi lại vội cụp mắt xuống. “Bụi than bay vào mắt”.
Thuấn gật đầu “ừ”, rồi cả hai cùng im lặng. Cậu không biết phải nói gì tiếp theo. Những câu thơ lãng mạn của Puskin mà cậu từng đọc cho Mai nghe dưới những tán cây sấu rụng lá ở đường Phan Đình Phùng giờ đây trở nên lố bịch và vô dụng giữa cái ga tàu chở lính chiến này.
Mai đột nhiên cựa mình. Hai bàn tay cô giấu sau lưng từ nãy giờ bắt đầu vặn xoắn vào nhau. Cô lấm lét nhìn xung quanh như thể đang chuẩn bị làm một việc gì đó phạm pháp. Rồi rất nhanh, cô rụt một tay ra phía trước. Trong lòng bàn tay nhỏ nhắn tứa đầy mồ hôi của Mai là một cục vải màu xanh lơ được cuộn tròn lại.
“Cho anh đấy”.
Cô giúi cục vải vào tay Thuấn. Động tác nhanh và vụng về đến mức ngón tay cô cào nhẹ vào mu bàn tay cậu.
Thuấn hơi giật mình, xòe tay ra. Đó là một chiếc khăn mùi xoa dệt bằng thứ sợi rẻ tiền, mép khăn đã hơi sổ chỉ. Ở một góc khăn, có một hình thêu mờ nhạt bằng chỉ đỏ. Một con chim bồ câu. Hoặc cũng có thể là một con mòng biển. Những đường kim mũi chỉ vặn vẹo, méo mó, lồi lõm chứng tỏ chủ nhân của nó không hề có hoa tay.
Thuấn nhìn chằm chằm vào cái hình thêu xấu xí ấy. Vừa buồn cười, vừa chua xót. Cậu biết Mai vụng về. Lần trước vá áo cho cậu, cô còn đâm kim vào ngón tay tứa máu. Vậy mà cô lại hì hục thêu cái thứ này.
“Thêu con gà à?” Thuấn buột miệng hỏi, cố giữ giọng điệu thường ngày để giấu đi sự xúc động đang dâng trào.
Mai phụng phịu, mặt càng đỏ hơn. “Chim bồ câu hòa bình đấy. Người ta thức cả đêm hôm qua đấy. Không lấy thì trả đây”.
Cô vươn tay định giật lại chiếc khăn, nhưng Thuấn đã nhanh chóng nắm chặt nó lại, nhét gọn vào túi quần kaki.
Thuấn nhanh hơn. Cậu nắm chiếc khăn lại, nhét ngay vào túi áo ngực. Động tác ấy nhanh đến mức chính cậu cũng ngạc nhiên. Bàn tay cậu vô tình sờ sượt qua những ngón tay của Mai. Cả hai đều rụt tay lại như bị điện giật. Khoảnh khắc chạm nhau ngắn ngủi ấy để lại một cảm giác tê râm ran lan từ đầu ngón tay chạy dọc lên cánh tay Thuấn.
Mai nhìn tay cậu, rồi nhìn mặt cậu.
“Anh vừa định chê tiếp”.
“Không phải”.
“Phải”.
“Anh chỉ đang xem kỹ”.
“Anh xem kỹ xong sẽ bảo nó giống con gì nữa?”
Thuấn nghĩ một lát.
“Bồ câu”.
Mai vẫn giận, nhưng khóe miệng đã run lên. Cô cố giữ vẻ nghiêm, không thành công lắm.
“Em thêu xấu thì thôi”.
“Không xấu”. Thuấn luống cuống.
Mai ngước lên.
“Thật?”
“Ừ”.
“Thế đẹp à?”
Thuấn im lặng. Mai nhìn cậu, chờ.
Mồ hôi sau gáy Thuấn chảy xuống đúng chỗ cổ áo đang cứa vào da. Cậu cảm thấy nếu phải chọn giữa việc xung phong lên tàu ngay lập tức và trả lời câu hỏi này, có lẽ lên tàu dễ hơn.
“Có ý nghĩa”, cuối cùng cậu nói.
Mai nhìn cậu thêm một giây, rồi bật cười khẽ.
“Giữ lấy mà lau mồ hôi”, Mai nói nhỏ, giọng bắt đầu run run. “Vào trong đấy... nhớ viết thư về. Cứ gửi theo địa chỉ xí nghiệp của mẹ em”.
Thuấn gật đầu. “Biết rồi”.
“Đừng có... đừng có đi luôn... Phải về đấy”. Câu nói cuối cùng của Mai vỡ vụn. Cô phải cắn chặt môi dưới đến mức bật máu để không bật ra tiếng nấc.
Thuấn nhìn đôi vai nhỏ bé đang khẽ run lên của cô gái trước mặt. Một khao khát mãnh liệt muốn kéo cô vào lòng trỗi dậy. Cậu muốn nói với Mai rằng cậu sẽ trở về, rằng cậu là thằng Thuấn cơ mà, đạn bom làm sao mà đụng được vào cậu. Cậu muốn hứa hẹn một đám cưới, một căn nhà có giàn hoa giấy.
Nhưng ngay đúng khoảnh khắc đó, chiếc còi của viên sĩ quan đứng trên bục xi măng thổi rách không gian.
“TẤT CẢ CHÚ Ý! CÁC ĐƠN VỊ TẬP HỢP THEO TIỂU ĐỘI! LÊN TÀU! AI KHÔNG CÓ NHIỆM VỤ LÙI RA SAU VẠCH PHÂN CÁCH!”
Khối người xanh rì xung quanh Thuấn đột ngột chuyển động. Lực đẩy của hàng trăm con người chen lấn nhau lao về phía những ô cửa sổ tàu hỏa tạo thành một cơn sóng dữ dội. Thuấn bị xô lệch đi. Một gã tân binh to con vác chiếc ba lô va mạnh vào vai Thuấn, lách qua giữa cậu và Mai.
Mai bị đám đông đẩy lùi về phía sau vạch vôi trắng xỉn màu. Cô vươn người lên, hai tay bám vào khoảng không vô định, cố tìm ánh mắt Thuấn.
“Anh Thuấn! Nhớ nhé! Phải về đấy! Về rồi em thêu cho anh con khác đẹp hơn!” Giọng cô chìm lấp trong tiếng ầm ĩ của bánh sắt nghiến trên đường ray, tiếng quát tháo, tiếng khóc òa của những bà mẹ.
Thuấn không kịp trả lời. Dòng người đã cuốn cậu về phía bậc cửa lên toa tàu. Cậu bị nhét vào một cái hộp sắt nóng hầm hập, đầy ắp người, mùi mồ hôi và mùi súng ống kim loại bôi mỡ mỡ màng màng.
Cậu lách qua những bắp tay, những cái đầu lố nhố, cố rướn người về phía ô cửa sổ có chấn song sắt han rỉ. Lớp kính cửa sổ bám đầy bụi than và dấu vân tay cáu bẩn.
Từ góc nhìn chật hẹp ấy, Thuấn đảo mắt điên cuồng tìm kiếm chiếc áo sơ mi trắng. Sân ga giờ là một biển người hỗn loạn. Đâu đó, lấp ló phía sau lưng một ông già đang vác bao tải, Thuấn thấy một vệt trắng nhỏ nhoi. Mai đang đứng kiễng chân, bàn tay gầy guộc chới với vẫy trong vô vọng vào những ô cửa sổ giống hệt nhau trôi lướt qua. Cô không khóc nấc lên như người ta, cô chỉ đứng đó, trơ trọi, ánh mắt lạc lõng tìm kiếm.
Tiếng còi tàu rúc lên hồi cuối cùng. Đầu máy giật cục. Toa tàu rung bần bật, rùng mình rồi chậm chạp lăn bánh.
Cái vệt áo trắng của Mai xa dần, xa dần. Cậu thấy hình dáng cô nhỏ lại, bị đám đông nuốt chửng, cho đến khi chỉ còn là một chấm nhỏ nhòa đi trong làn khói đen kịt phả ra từ đầu máy hơi nước.
Cậu đứng im bên cửa sổ cho đến khi sân ga khuất hẳn.
Một lúc sau, cậu mới buông tay khỏi túi áo. Chiếc khăn nằm trong đó đã bị nắm đến nhăn. Thuấn lấy ra, lén vuốt phẳng bằng ngón cái. Hình con bồ câu đỏ méo mó hiện lên trên nền vải xanh nhạt. Dưới ánh sáng xiên qua cửa tàu, đường chỉ trông còn vụng hơn lúc nãy.
Nhưng không hiểu sao, bây giờ cậu thấy nó giống bồ câu hơn.
Cậu gấp khăn lại thật cẩn thận, nhỏ hơn lúc Mai đưa, rồi nhét vào túi áo trong, chỗ gần ngực. Sau đó cậu kiểm tra lại cúc áo, chỉnh quai ba lô, dựa lưng vào vách toa nóng ran.
Cậu trai ăn khoai chen đến bên cạnh, thở phào.
“Người yêu làm cho à?”
Thuấn liếc nhìn cậu ta.
“Không”.
“Không mà chạy đến ga tiễn, lại còn tặng khăn?”
Thuấn nhìn ra cửa sổ. “Bạn tốt”.
“Ừ. Tốt thật”. Cậu trai gật gù.
Đoàn tàu tăng tốc. Gió lùa qua ô cửa, mang theo bụi than và mùi sắt nóng. Những cánh đồng ngoại ô bắt đầu hiện ra, thấp và xanh, rồi trôi vụt về phía sau. Trong toa, tiếng nói chuyện nhỏ dần. Có người ngủ gật. Có người mở bọc cơm. Có người nhìn mãi về hướng Hà Nội, dù Hà Nội đã không còn thấy nữa.
Thuấn ngồi xuống trên chiếc ba lô của mình. Cổ áo vẫn cứng, gáy vẫn rát. Nhưng cậu không nới cúc. Cậu đặt tay lên túi áo trong, nơi chiếc khăn nằm im, rồi tự nhủ rằng mọi chuyện rồi sẽ đâu vào đấy.
Cậu sẽ vào đơn vị. Sẽ học nhanh hơn người khác. Sẽ đi đường rừng giỏi hơn người khác. Sẽ làm nhiệm vụ tốt. Sẽ viết thư về. Sẽ trở về ga Hàng Cỏ, đứng đúng chỗ cây cột bê tông này, để Mai nhìn thấy mình từ xa và lại trách: “Anh về muộn thế”.
Ý nghĩ ấy làm Thuấn thấy vững hơn.
Ở tuổi mười tám, người ta thường tin rằng tương lai là một con đường thẳng. Chỉ cần bước chắc, mắt nhìn phía trước, không sợ hãi, không mềm yếu, thì cuối cùng sẽ đến nơi mình định đến.
Thuấn cũng tin như vậy. Cậu tin mình sẽ làm chủ được chiến tranh, làm chủ được nỗi nhớ, làm chủ được lời hứa chưa nói ra, làm chủ được tất cả những gì đang chờ phía trước.
Ngoài cửa sổ, ánh nắng tháng Bảy chiếu qua song sắt, hắt lên khuôn mặt cậu thành những vệt sáng tối đứt đoạn. Đoàn tàu lao đi, đều đặn và không hỏi ý ai.
Trong túi áo cậu, con bồ câu méo nằm im, mang theo một mẩu Hà Nội nhỏ xíu, mềm mại và vụng về.
Nhiều năm sau, khi trí nhớ của ông Thuấn bắt đầu rơi rụng từng mảng, ông sẽ quên rất nhiều thứ. Nhưng có những buổi sáng, giữa tiếng nước sôi trong căn bếp số 42, ông vẫn bỗng khựng lại vì nghe như đâu đó có tiếng còi tàu.
Và bàn tay già nua của ông, không cần ai nhắc, sẽ tự tìm về phía ngực áo. Như thể trong cái túi đã sờn ấy, vẫn còn một chiếc khăn xanh lơ được gấp rất vuông.