Chương 1: Giao Liên Thời Hiện Đại
Ông Thuấn thù ghét những tấm biển số.
Chính xác hơn là những tấm biển số nhà mà bọn nhân viên ủy ban phường vừa đi gắn hôm trước. Nhà ông vốn là số 42. Một con số chẵn trịa, đàng hoàng, đứng sừng sững ở nơi cây bàng già đầu ngõ. Vậy mà sáng hôm qua, hai cậu nhân viên phường đến, một cậu cầm thang, một cậu cầm máy khoan. Họ đứng trước cổng nhà ông, nhìn vào tờ danh sách, rồi tuyên bố nhà ông từ nay là “114A/2/5”.
Nhìn tấm biển, ông Thuấn có cảm giác như ai đó vừa cầm dao phay băm nát cái ngõ này ra thành từng mảnh vụn, rồi nhét những mảnh vụn đó vào một cái hộp vô hồn mang tên “quy hoạch đô thị”.
Bởi vậy, bảy giờ sáng Chủ Nhật, ông Thuấn xách nửa lon sơn ra trước cổng, hì hục tô lại con số 42 được khắc chìm trên mảng tường gạch vữa đã loang lổ rêu xanh. Mùi sơn ngai ngái át đi cái thứ mùi cống rãnh bốc lên từ cơn mưa đêm qua.
Bà Tư hàng xóm đi chợ sớm về, thấy ông lúi húi trước cổng thì dừng lại.
“Ông Thuấn lại sửa nhà đấy à?”
“Không. Sửa sai”.
Bà Tư nhìn tấm biển mới, rồi nhìn hai con số cũ đang được ông tô lại.
“Có cái số nhà thôi mà ông làm ghê quá”.
Ông Thuấn không ngẩng đầu.
“Bà thì biết gì! Bà thử để người ta đánh số nhà bà thành Tư/B/6 xem bà có chịu không?”
Bà Tư há miệng định cãi, rồi thôi. Cả cái ngõ nhỏ này đều biết, cãi nhau với ông Thuấn là việc không ai trong ngõ muốn làm, trừ phi người đó có một ngày quá thừa thời gian.
Xong xuôi, ông Thuấn lững thững xách xô nước ra hiên, bắt đầu lau chiếc xe đạp Peugeot màu xanh ngọc bích, sản xuất từ cái thời mà người ta còn làm đồ vật để xài cả đời chứ không phải để vứt đi sau hai năm. Các ống thép được vuốt thon thả, những con ốc sáng choang, xích xe được tra dầu mỡ trơn tru đến mức không phát ra một tiếng cót két nào khi quay bàn đạp. Ông Thuấn dùng một miếng giẻ cotton cắt ra từ chiếc áo may ô cũ, lau tỉ mẩn từng nan hoa.
Thế giới này đang mục nát vì người ta không biết cách bảo quản mọi thứ. Bọn trẻ bây giờ mua một cái xe máy rựa nhựa, chạy rầm rầm ngoài đường, bóp còi inh ỏi, thay nhớt trễ hạn rồi vứt xó. Chúng nó đối xử với đồ đạc bằng sự hời hợt, cũng giống như cách chúng nó đối xử với con người.
Ông Thuấn vừa nhúng giẻ vào xô nước, vừa lẩm bẩm chửi đổng đám loa phường đang ra rả bản tin về một ứng dụng di động mới nào đó, thì âm thanh của sự lười biếng và hời hợt ấy lao thẳng vào đời ông.
RẦM!!! XOẢNG! XOẢNG! RÀÀÀO!
Một âm thanh đinh tai nhức óc xé toạc buổi sáng yên tĩnh. Đống củi ông Thuấn cất công xếp vuông vức dọc bức tường rào bằng gạch nung đổ sập xuống làm bụi gỗ mù mịt bốc lên.
Từ trong đám mây bụi ấy, một chiếc Wave chiến màu xanh nằm chỏng chơ, bánh trước cắm ngập vào giữa đống củi. Phía dưới đất, một thằng nhóc chừng hai mươi tuổi đang rên la oai oái, hai tay ôm riết lấy cái ống chân phải.
Nó có một mái tóc nhuộm màu vàng khè chói lọi như phân trẻ con, bấm ba cái khuyên tròn trên vành tai trái, và mặc cái áo khoác xanh lá cây dạ quang có in logo của một hãng giao hàng công nghệ.
Ông Thuấn không vội vàng chạy lại đỡ. Bản năng quân trường dạy ông phải quan sát mục tiêu trước. Ông chống tay lên hông, tay kia lăm lăm cái giẻ ướt sũng nhễ nhại nước.
“Mày bị mù à?”
Thằng nhóc ngước lên, mặt tái mét nhăn nhó. Nó tháo cái mũ bảo hiểm vứt toẹt xuống đất. “Ôi cụ ơi, cụ để đống củi giữa đường thế này thì ai mà tránh cho kịp! Ôi cái chân của con...”
“Đường?” Ông Thuấn trợn mắt, ném phịch miếng giẻ xuống xô nước. “Mày mở to cái con mắt của mày ra xem mày đang nằm ở đâu? Đây là sân nhà tao! Cổng nhà tao! Cái ngõ này rẽ phải từ mười lăm mét trước rồi con ạ!”
“Nhưng... nhưng mà...” Thằng nhóc cuống cuồng lục lọi trong túi áo khoác, lôi ra một chiếc điện thoại thông minh màn hình vỡ nát thành những hình mạng nhện. Nó lấy ngón tay quẹt quẹt tuyệt vọng. “Rõ ràng trên Google Maps bảo ‘Đi thẳng năm mươi mét, điểm đến của bạn nằm bên phải’. Cái chấm xanh nó chỉ thẳng vào nhà ông đây này!”
Hai hàng lông mày điểm bạc của ông Thuấn xếch lên, gồ ghề và hung tợn.
Ông bước tới, những bước chân đầm đậm, vững chãi của một kẻ từng cuốc bộ vượt ngàn dặm Trường Sơn. Ông giật phăng cái điện thoại khỏi tay thằng nhóc, đưa nó lên ngang tầm mắt, rồi dí sát cái màn hình chi chít vết nứt vào mặt nó.
Ông Thuấn không cầm điện thoại. Ông cúi xuống nhìn cái chấm xanh trên màn hình, rồi nhìn cái cổng nhà mình.
“Cái chấm xanh ấy có biết ở đây có cổng không?”
“Bác nói thế thì... nó là bản đồ mà”.
“Bản đồ thì cũng phải vẽ cho người biết đi!”
Cậu thanh niên vừa đau vừa bực. “Bác không hiểu đâu. Bọn cháu chạy hàng, app chỉ thế nào thì đi thế ấy. Mỗi ngày mấy chục đơn, không nhìn app thì chết đói”.
Ông Thuấn hừ một tiếng. “Nhìn đường cũng không chết no được đâu”.
Cậu ta cứng họng. Một tay vẫn ôm cổ chân, tay kia nhặt cái điện thoại lên, thổi thổi vào màn hình như thể nếu thổi đủ lâu thì nó sẽ bớt vỡ.
Ông Thuấn thấy động tác ấy thì càng ngứa mắt. Cũng lạ. Người ta bây giờ ngã xe không kiểm tra chân trước, lại kiểm tra điện thoại trước.
“Xe cộ kiểu gì?” Ông hỏi.
“Xe cháu mượn của anh họ”.
“Thế thì chuẩn bị viết thư xin lỗi người ta đi”.
Cậu thanh niên nhìn cái xe, mặt tái thêm. “Ôi chết rồi...”
Cậu cố nhổm dậy, nhưng vừa đặt chân xuống đã kêu lên, ngồi phịch lại. Cơn đau làm nước mắt nó ứa ra, mặt nhăn nhúm.
Ông Thuấn nhìn cổ chân phải của nó. Không gãy, có thể chỉ bị bong gân nhẹ, nhưng cách nó rống lên thì như vừa mất nửa thân người.
“Đừng có gào. Hàng xóm lại tưởng tôi đánh người”.
“Đau thật mà bác...”
“Đau thì thở đều vào”.
Cậu thanh niên hít vào một hơi, cố nhịn. Được khoảng ba giây, nó lại xuýt xoa. “Bác ơi, cháu xin lỗi vụ đống củi. Nhưng đơn này hỏa tốc…”
Thằng nhóc mếu máo, những giọt nước mắt ức chế bắt đầu rỉ ra. Nó không cãi nữa. Nó chống hai tay xuống đất, cố gắng lết lại gần cái thùng xốp cột sau yên xe máy. Thùng bị bật nắp, vài gói hàng rơi lả tả. Nó vớ lấy một cái túi zip ni-lông bọc giấy bọt khí.
“Thôi xong...” Nó nấc lên. “Bác ơi... xe cháu tàn rồi. Đơn này đơn hỏa tốc... Thuốc trợ tim của khách... Cháu mà không giao đến nhà A7 khu tập thể Thành Công trong ba mươi phút nữa thì... thì cháu có mà đền vỡ mặt... Tháng này cháu bị khóa app hai lần rồi...”
Nó ngồi bệt xuống đất, ôm cái bọc thuốc, khóc rống lên như một đứa trẻ bị giành mất kẹo. Nước mũi tèm lem trên khuôn mặt hốc hác, bợt bạt của dân tỉnh lẻ cày ca đêm.
Hai chữ “thuốc” và “hỏa tốc” đập mạnh vào thái dương ông Thuấn. Trong một khoảnh khắc, ông như nghe thấy tiếng rú rít của pháo sáng. Ông thấy lại cái vệt máu kéo dài trên mặt của thằng em, bàn tay nó dúi vào tay ông một cái ống đựng tài liệu. “Anh Thuấn, chạy đi, em chưa chết được đâu! Giao cho trạm trưởng. Chậm là toi cả đơn vị đó!”
Ông Thuấn cúi xuống, giật lấy cái gói ni-lông từ tay thằng nhóc ranh.
“Địa chỉ”.
Cậu thanh niên ngẩng lên.
“Dạ?”
“Khu Thành Công, nhà A7? Số bao nhiêu?” Ông gắt.
“Phòng 207... tầng 2...” Thằng nhóc ngơ ngác đáp, nước mũi vẫn thò lò.
Ông Thuấn quay ngoắt người, sải bước về phía hiên nhà. Ông giật cái túi bạc màu đứt một quai đang treo trên mắc áo, nhét tọt gói thuốc vào trong, vắt chéo qua vai.
“Bác định làm gì?” Thằng Tuấn hốt hoảng hỏi.
“Ngậm mồm và ngồi yên đó! Còn cựa cái chân kia là tao đập gãy nốt cho đều!”
Ông quay vào hiên, lấy chiếc túi dết màu bạc đã sờn ở góc, đứt một quai nhưng vẫn còn chắc. Ông nhét gói thuốc vào trong, cài khóa, vắt túi qua vai. Sau đó ông dựng chiếc Peugeot lên, kiểm tra nhanh phanh, chuông, bánh trước, bánh sau. Động tác gọn và khô, không có vẻ gì là hấp tấp.
Cậu thanh niên chống tay định bò dậy.
“Bác ơi, để cháu gọi người khác giao tiếp...”
“Gọi bằng cái gì? Cái màn hình tổ ong ấy à?”
“Nhưng bác đi xe đạp...” Nó định nói thêm gì đó, nhưng nhìn vẻ mặt của ông Thuấn, nó biết nó vừa nói một câu không nên nói.
Chiếc Peugeot lăn khỏi sân, đi qua cổng, qua con số 42 còn mùi sơn mới, rồi lao ra ngõ.
Mấy cây số đâm xuyên qua cái thành phố hơn tám triệu dân đang kẹt cứng giữa giờ cao điểm sáng Chủ Nhật. Ông Thuấn đánh tay lái, quẹo trái vào một con hẻm chỉ vừa đủ hai chiếc xe máy tránh nhau. Đi hết hẻm, ông luồn qua khoảng sân chung của một khu tập thể cũ kỹ, nơi những tấm chăn chiên đang phơi che rợp cả ánh nắng. Ông đạp qua chợ cóc. Bánh xe lách giữa hai thau cá rô đang quẫy nước. Một bà bán rau kéo vội rổ rau muống lại, miệng mắng:
“Bác Thuấn đi đâu mà như giặc đuổi thế?”
“Có việc”.
“Việc gì?”
“Việc không phải của bà”.
Bà bán rau cười khì. Bà quen ông rồi. Người trong ngõ ai cũng quen cách ông Thuấn nói chuyện như thể mỗi câu đều phải được mài cạnh trước khi ném ra ngoài.
Qua hết chợ, ông cắt ngang khoảng sân chung của một dãy nhà tập thể. Những tấm chăn bông phơi thấp, mùi xà phòng ẩm lẫn với mùi nước mưa đọng. Ông cúi người tránh một cái áo sơ mi đang nhỏ nước, nghiêng tay lái qua một chiếc xe đạp trẻ con, rồi luồn ra con đường phía sau. Mọi động tác đều chính xác, tiết kiệm, không đẹp mắt nhưng hiệu quả.
Những con đường này được định vị rõ nét trong đầu ông, bằng những ký ức không bao giờ phai nhạt của một kẻ đã dành cả thanh xuân để thuộc nằm lòng từng bụi cây, hòn đá của đại ngàn. Ông Thuấn đạp xe, cơ đùi căng cứng, lồng ngực phập phồng hít bầu không khí ngột ngạt của thành phố.
“Mở đường! Tránh ra!” Ông hét lớn khi lách qua một chiếc xe rác đang chắn ngang ngã tư hẹp.
Hai mươi hai phút.
Chiếc Peugeot phanh két một tiếng sắc lẹm trước cầu thang tối thui của dãy nhà A7 tập thể Thành Công. Ông xách túi dết, ba bước gộp làm một lao lên cầu thang gạch mẻ, vượt qua những bức tường quét vôi vàng ố đầy vết dán tờ rơi khoan cắt bê tông.
Phòng 207. Cửa sắt xếp hé mở. Tiếng rên rỉ yếu ớt vọng ra. Ông Thuấn đẩy cửa bước vào. Một bà cụ da bọc xương đang nằm thoi thóp trên chiếc giường gấp, tay ôm lấy ngực trái. Bên cạnh là cô con gái đang cuống cuồng bấm điện thoại định gọi cấp cứu.
“Thuốc đây”. Ông Thuấn ném phịch cái gói thuốc lên bàn nước.
Cô con gái giật bắn mình, vội vàng xé gói hàng, lấy vỉ thuốc nhét một viên vào miệng bà cụ, rồi cho uống ngụm nước ấm. Vài phút sau, lồng ngực bà cụ dịu lại, hơi thở bớt đứt quãng. Cô con gái quay sang, hai tay chắp lại vào nhau, rơm rớm nước mắt. “Trời Phật ơi... May quá... Cháu định gọi cấp cứu rồi. Ơ nhưng mà... bác là...” Cô ngớ người khi nhận ra người giao hàng là một ông già gân guốc, khuôn mặt cộc cằn với những vết sẹo tăm rỗ chằng chịt, vai đeo cái túi bạt thời chiến tranh.
Ông Thuấn không đáp lời. Nhiệm vụ xong là xong. Không có chỗ cho những lời cám ơn hay tán gẫu. Ông quay lưng, bước xuống cầu thang, bỏ lại ánh nhìn đầy kinh ngạc của người phụ nữ.
Gió bấc quất vào mặt lạnh buốt. Ông Thuấn lên xe đạp thủng thẳng đạp về. Đi qua một tiệm sửa xe máy đầu ngõ, ông tạt vào, ném cho tay thợ sửa xe cuộn tiền lẻ nhàu nhĩ. “Vào số 42 ngõ 114, khênh cái xe Wave rách ở đống củi ra sửa cho tôi”.
Anh thợ nhìn cuộn tiền, rồi nhìn ông.
“Của nhà bác à?”
“Của một thằng trời đánh”.
Anh thợ cười.
“Vâng. Thằng nào thế bác?”
“Cứ về nhà tôi là thấy nó đang dặt dẹo cạnh đống củi ấy!” Ông quay người định đi, nhưng nói với lại: “Đừng lấy đắt quá, nó không có tiền đâu”.