Đọc to (tiếng Việt) Nhấn phát để bắt đầu

Ngày 17 tháng 1 năm 2021.

Chủ nhật cuối cùng cũng đến, nhanh đến mức tôi thậm chí còn chưa kịp tìm ra một lý do đủ hợp lý để hủy cuộc hẹn mà mình đã ngu ngốc đồng ý từ mấy ngày trước. Tôi đứng ở ga tàu điện, một tay chống lên chiếc nạng quen thuộc, tay còn lại nhét sâu vào túi áo khoác, cố giữ cho vẻ mặt của mình bình thản nhất có thể giữa dòng người liên tục đi qua trước mắt. Không khí buổi sáng lạnh đến mức mỗi lần thở ra đều để lại một làn khói trắng mỏng manh, còn những đường ray phía trước thì kéo dài hun hút dưới bầu trời xám nhạt, thỉnh thoảng lại vang lên tiếng kim loại va vào nhau từ một chuyến tàu vừa rời ga, khiến tôi càng cảm thấy rõ ràng rằng mình hoàn toàn có thể quay đầu trở về nhà ngay lúc này. Vậy đó mà tôi lại phải đứng đây chỉ vì một cuộc hẹn chết tiệt với tên khốn tóc trắng ấy.

Tôi liếc nhìn đồng hồ ở ga tàu lần nữa, rồi lập tức cau mày khi nhận ra mình đã nhìn nó không biết bao nhiêu lần kể từ lúc bước vào ga. Nếu Eliot đến muộn, tôi sẽ có lý do để mắng cậu ta, còn nếu cậu ta không đến, tôi cũng có thể đường hoàng quay về và coi như hôm nay chưa từng tồn tại và chửi cậu ta.

Tôi khẽ thở dài, nghiêng người dựa thêm một chút vào chiếc nạng rồi nhìn ra phía trước, nơi từng tốp người đang lần lượt bước lên tàu. Thật đáng ghét khi tôi lại nhớ rõ những gì Eliot đã nói hôm trước, nhớ cả cái vẻ mặt tự tin đến mức khiến người khác chỉ muốn đấm cho một cái của cậu ta khi nói rằng cuối tuần này nhất định phải đi cùng tôi, nhớ cả việc cậu ta chẳng cho tôi cơ hội từ chối tử tế mà cứ tự tiện quyết định mọi thứ như thể chuyện tôi có muốn đi hay không vốn chẳng quan trọng. Khi ấy tôi đã nghĩ rằng mình chỉ đồng ý vì muốn cậu ta im miệng, nhưng đến tận sáng nay, tôi vẫn thay quần áo, kiểm tra giờ tàu rồi chống nạng ra khỏi nhà đúng giờ.

Nghĩ đến đó, tôi lập tức khó chịu với chính mình. Có lẽ tôi chỉ không muốn thất hứa. Đúng, chỉ vậy thôi…

Tôi vừa tự tìm được một lời giải thích đủ hợp lý cho sự ngu ngốc của bản thân thì từ phía cầu thang bỗng vọng đến tiếng bước chân vội vã, lẫn trong âm thanh hỗn tạp của nhà ga. Tôi theo phản xạ ngẩng đầu lên, ngay khoảnh khắc nhìn thấy một bóng người quen thuộc đang xuất hiện giữa dòng người, tôi đã lập tức nhận ra mái tóc trắng nổi bật đến mức chẳng cần nhìn kỹ cũng biết là ai. Eliot đang bước xuống cầu thang, chiếc áo khoác tối màu hơi xộc xệch vì chạy vội, một tay còn đang chỉnh lại chiếc khăn quàng cổ, nhưng thứ khiến tôi muốn nổi cáu hơn cả là vẻ mặt của cậu ta hoàn toàn không có chút gì giống một người biết mình đã để người khác phải chờ. 

Eliot gần như chạy nốt quãng đường còn lại, đến khi đứng trước mặt tôi thì hơi thở đã có phần gấp gáp, vậy mà cái tên khốn ấy vẫn có thể nở một nụ cười ngây ngốc như thể chẳng có chuyện gì. Cậu ta cúi người, chống hai tay lên đầu gối, hít vào một hơi thật sâu rồi mới ngẩng lên nhìn tôi, mái tóc trắng vốn đã chẳng mấy khi chịu nằm yên lại càng rối tung vì gió, thế nhưng sự nhếch nhác này lại chẳng áp đi được vẻ ngoài nổi bần bật của cậu ta.

"Xin lỗi, xin lỗi, tôi đến muộn. Cậu chờ lâu chưa?"

Tôi nhìn cậu ta từ đầu đến chân, cố nén cảm giác muốn quay người bỏ đi ngay lập tức, rồi mới lạnh nhạt đáp: 

"Cậu còn biết mình đến muộn à?"

"Biết chứ. Hì hì…" 

Eliot cười, hoàn toàn không có vẻ gì là xấu hổ, thậm chí còn đưa tay lên vuốt lại mái tóc bị gió làm rối.

"Nhưng cậu vẫn đứng đây chờ tôi, vậy nên tôi nghĩ mình vẫn còn cơ hội được tha thứ."

"Tôi đứng đây vì không tiện di chuyển thôi."

"Ừm, lý do ấy cũng được."

Cậu ta đáp nhẹ tênh, chẳng thèm tranh luận với tôi, rồi ánh mắt nhanh chóng rơi xuống chiếc ba lô đang vắt trên vai tôi. Chưa kịp để tôi hiểu cậu ta định làm gì, Eliot đã bước lại gần, đưa tay về phía quai cặp, động tác tự nhiên đến mức giống như chuyện giúp tôi mang đồ vốn đã trở thành một việc hiển nhiên giữa hai chúng tôi.

"Đưa tôi."

Tôi khựng lại… Bàn tay đang đưa ra trước mặt tôi vẫn còn quấn băng trắng, những lớp băng mới khiến các ngón tay trông cứng nhắc hơn bình thường, chẳng hiểu vì sao chỉ một cái nhìn ấy cũng đủ khiến tâm trạng vốn đang không vui của tôi lập tức trở nên nặng nề. Tôi kéo quai ba lô lại, tránh khỏi bàn tay cậu ta.

"Không cần."

Eliot chớp mắt, nhìn tôi như thể không hiểu.

"Đi đứng bất tiện, để tôi giúp cậu..."

"Đã bảo không cần rồi."

Tôi nói nhanh hơn mức cần thiết, rồi quay mặt đi trước khi cậu ta kịp nhìn ra vẻ khó chịu trong mắt mình. Tôi không muốn cậu ta giúp, càng không muốn nhìn thấy bàn tay quấn băng ấy thêm lần nào nữa, bởi mỗi khi nhìn thấy nó, trong đầu tôi lại xuất hiện hàng loạt câu hỏi, trong khi bản thân tôi cũng chẳng có quyền gì để quan tâm đến câu trả lời. Eliot im lặng vài giây, rồi cũng thu tay về, chỉ nhún vai một cái như thể chẳng để bụng. 

"Được thôi nhóc cứng đầu."

Tên khốn chết tiệt!

Chúng tôi nhanh chóng lên tàu trước khi chuyến tàu rời ga, may mắn thay, toa phía cuối vẫn còn một dãy ghế trống. Tôi chọn chỗ gần cửa sổ, còn Eliot ngồi xuống bên cạnh, hai vai gần như chạm vào nhau vì khoảng cách giữa những chiếc ghế vốn chẳng rộng rãi gì. Khi đoàn tàu bắt đầu chuyển bánh, khung cảnh bên ngoài lập tức chậm rãi trượt về phía sau, những tòa nhà quen thuộc của Berlin nối tiếp nhau hiện lên sau lớp kính phủ một tầng hơi mỏng, rồi dần dần nhường chỗ cho những con phố yên tĩnh hơn khi chúng tôi di chuyển về phía khu vực phía tây thành phố, nơi có bảo tàng nghệ thuật mà Eliot đã nhất quyết kéo tôi đến.

Tôi vốn nghĩ quãng đường này sẽ đủ yên tĩnh để tôi nghỉ ngơi một chút, nhưng hiển nhiên tôi đã đánh giá quá cao khả năng giữ im lặng của Eliot.

"Này, Lucas."

Tôi nhắm mắt.

"Đừng bắt chuyện với tôi."

"Tôi còn chưa nói gì mà."

"Nhưng tôi biết cậu định nói gì."

Eliot bật cười, rồi nghiêng người lại gần một chút. 

"Vậy thử đoán xem."

"Tôi không hứng thú chơi với cậu."

"Được thôi, vậy tôi hỏi thật." 

Cậu ta chống cằm lên tay, vẻ mặt nghiêm túc đến mức đáng ngờ.

"Nếu bây giờ chúng ta bị nhốt trong bảo tàng sau giờ đóng cửa, cậu sẽ chọn trốn trong phòng tranh hay tìm đường phá cửa?"

Tôi mở mắt nhìn cậu ta.

"Đây là câu hỏi gì vậy?"

"Câu hỏi quan trọng."

"Quan trọng với ai?"

"Với tôi."

Tôi im lặng vài giây rồi quay mặt về phía cửa sổ. 

"Tôi sẽ bỏ mặc cậu ở đó."

"Thật à?"

"Thật."

"Vậy nếu tôi bị một bức tượng cổ sống dậy đuổi theo thì sao?"

"Tôi sẽ chỉ đường cho nó."

Eliot bật cười đến mức vai rung lên, hoàn toàn không có ý định để tôi yên. Cậu ta bắt đầu bày ra đủ loại tình huống kỳ quặc, từ chuyện hai chúng tôi phải chọn một bức tượng để làm vũ khí cho đến chuyện nếu được mang một món đồ duy nhất trong bảo tàng về nhà thì tôi sẽ chọn gì, rồi chẳng hiểu bằng cách nào cuộc nói chuyện lại chuyển sang việc ai trong hai chúng tôi có khả năng sống sót lâu hơn nếu bị ném vào một bộ phim kinh dị. Tôi liên tục đáp lại bằng những thái độ cáu kỉnh, đôi lúc còn cố tình đưa ra những câu trả lời khiến cậu ta tức tối, nhưng Eliot chẳng những không khó chịu mà ngược lại còn cười đến mức khiến vài người ngồi gần đó phải quay sang nhìn.

"Chắc chắn tôi sống lâu hơn cậu."

"Tại sao?"

"Vì tôi không ngu ngốc và lắm mồm như cậu."

"Tự tin quá nhỉ?"

"Tôi nghĩ cậu sẽ chết đầu tiên."

"Vậy cậu sẽ nhớ tôi chứ?"

Tôi khựng lại một thoáng, nhưng Eliot đã lập tức cười phá lên như thể câu hỏi vừa rồi chẳng mang chút ý nghĩa nào.

"Đừng có nói những thứ kỳ quặc."

"Tôi chỉ hỏi thôi mà."

Tôi quay mặt ra cửa sổ, giả vờ không nghe thấy tiếng cười của cậu ta nữa. Thế rồi chẳng biết từ lúc nào, giọng Eliot bắt đầu thưa dần. Ban đầu tôi không để ý, bởi sau vài phút im lặng, tôi cứ nghĩ cậu ta cuối cùng cũng chịu ngậm miệng. Tôi thậm chí còn thấy nhẹ nhõm, cho đến khi sự yên tĩnh kéo dài lâu hơn bình thường, không còn tiếng trêu chọc, không còn những câu hỏi ngớ ngẩn, cũng chẳng còn tiếng cười cố tình chọc tức người khác. Tôi hơi nghiêng đầu, theo bản năng liếc sang bên cạnh và cảnh tượng trước mắt khiến tôi bất giác khựng lại. 

Eliot đã ngủ rồi!

Cậu ta ngồi dựa vào lưng ghế, đầu hơi nghiêng sang một bên, hàng mi dày rũ xuống, che đi đôi mắt vốn lúc nào cũng sáng lên vẻ tinh nghịch. Mái tóc trắng mềm mại rơi lộn xộn trên trán, vài sợi bị ánh nắng nhạt xuyên qua cửa kính nhuộm thành một màu gần như trong suốt, khiến gương mặt vốn đã quá mức nổi bật của cậu ta lúc này lại mang một vẻ yên tĩnh hoàn toàn xa lạ.

Tôi nhìn cậu ta thêm vài giây.Thật kỳ lạ? Bình thường Eliot lúc nào cũng như thể trong người có một nguồn năng lượng không bao giờ cạn, cứ phải nói, phải cười, phải chọc người khác nổi nóng mới chịu được, vậy mà lúc ngủ lại im lặng đến mức gần như biến thành một người khác vậy… Có chút đượm buồn! Chỉ còn lại một gương mặt trẻ tuổi đến mức tôi bỗng thấy xa lạ.

Tôi vốn chỉ định nhìn một chút rồi quay đi, nhưng chẳng hiểu vì sao ánh mắt lại cứ dừng mãi ở đó. Ánh sáng ngoài cửa sổ lướt qua từng tòa nhà, từng hàng cây, rồi chậm rãi trượt lên gương mặt Eliot theo nhịp chuyển động của đoàn tàu, tạo nên những mảng sáng tối thay đổi liên tục trên sống mũi thẳng và đường nét gương mặt sắc nét của cậu ta. Đặc biệt là góc nghiêng ấy. Tôi chưa từng để ý rằng Eliot có một góc nghiêng đẹp đến vậy.

Sống mũi thẳng tắp, đường quai hàm gọn gàng, hàng mi khép hờ đổ xuống một vệt bóng mỏng trên gò má, tất cả những đường nét vốn thường bị nụ cười ngạo nghễ và cái miệng không bao giờ chịu yên kia che lấp giờ đây lại hiện ra rõ ràng đến mức khiến tôi nhất thời quên mất phải nhìn đi chỗ khác.

Tôi đang làm gì vậy? Tôi quay mặt đi, cố tập trung vào cảnh vật bên ngoài cửa kính, nhưng chỉ vài giây sau ánh mắt lại vô thức trượt về phía cậu ta. Eliot vẫn ngủ, đầu hơi nghiêng theo chuyển động của tàu, hoàn toàn không biết rằng người ngồi bên cạnh đang nhìn mình lâu hơn mức cần thiết. Tôi nhanh chóng thu mắt lại, trong lòng tự tìm một lời giải thích đơn giản nhất. Chẳng qua là vì bình thường tên khốn này quá ồn ào, nên khi cậu ta im lặng, tôi thấy không quen mà thôi. Tôi tự nhủ trong lòng như vậy, rồi lại lén nhìn sang một lần nữa. 

Cơ mà Eliot đang giấu tôi điều gì đó… Tôi không rõ nó là gì, nhưng linh cảm tôi mách bảo, có chuyện gì đó đã xảy ra với cậu ta.

Khi tàu chậm dần rồi dừng hẳn ở ga tiếp theo, tôi gần như là người cuối cùng đứng dậy. Tiếng thông báo vang lên trên loa, lẫn với tiếng bước chân và những cuộc trò chuyện bằng đủ thứ giọng nói xung quanh khiến đầu óc tôi vốn còn lơ mơ sau giấc ngủ ngắn càng trở nên nặng nề. Eliot đã tỉnh từ lúc nào, cậu ta đứng bên cạnh ghế, một tay đeo cặp lên vai rồi quay lại nhìn tôi. Tôi vừa chống tay vào thành ghế để lấy thăng bằng thì cậu ta đã đưa tay sang đỡ lấy khuỷu tay tôi. 

Tôi tự đi được.” 

Tôi cau mày, cố rút tay lại, nhưng Eliot chẳng những không buông mà còn điều chỉnh cách đỡ để tôi có thể đứng vững hơn.

“Rồi rồi.” 

Cậu ta đáp tỉnh bơ, cái giọng điệu đáng ghét ấy lập tức khiến tôi muốn đạp cho cậu ta một cái, tiếc rằng cái chân bó bột của tôi hiện tại chẳng những không giúp ích được gì mà còn có nguy cơ khiến chính mình ngã xuống trước khi kịp chạm vào cậu ta. Tôi đành mặc kệ, để Eliot dìu mình theo dòng người đi ra khỏi toa tàu. Chúng tôi đi qua hành lang dài của nhà ga, ánh sáng trắng từ những dãy đèn trên trần hắt xuống nền đá sạch bóng, phản chiếu từng bước chân đang vội vã của người qua lại. Tôi không thích những nơi đông người. Không thích tiếng nói chuyện chồng chéo, tiếng bánh xe vali kéo trên nền đất, tiếng tàu chạy vọng lại từ những đường ray phía dưới, càng không thích cảm giác bị quá nhiều người vô tình lướt qua vai mà chẳng biết họ là ai. Nhưng hôm nay tôi không có cơ hội quay trở lại vùng yên tĩnh quen thuộc của mình. 

Eliot cứ thế đưa tôi ra khỏi ga, chậm rãi đến mức gần như cố tình điều chỉnh bước chân theo tôi. Có vài lần tôi cáu vì cậu ta đi quá chậm, nhưng mỗi khi tôi vừa định tự bước nhanh hơn, bàn tay đang giữ lấy cánh tay tôi lại lập tức siết nhẹ, buộc tôi phải dừng lại. 

“Đừng có kéo tôi như trẻ con.” Tôi lườm cậu ta. 

“Tôi đang đỡ cậu mà.” Cậu ta cười. 

Ra khỏi ga, tôi mới nhận ra nơi này hoàn toàn khác với con đường quen thuộc từ trường về nhà. Berlin hiện ra trước mắt tôi trong một buổi chiều mùa đông lạnh nhạt, bầu trời phủ một lớp mây xám nhạt, nhưng những con phố vẫn sáng lên bởi ánh đèn từ các cửa hàng, quán cà phê và những dãy cửa kính cao sát mặt đường. Chúng tôi đi qua vài con phố rộng, hai bên là những tòa nhà mang vẻ cổ kính với mặt tiền đá sáng màu, những ô cửa sổ cao và ban công sắt uốn cong, xen giữa đó là những công trình hiện đại bằng kính phản chiếu bầu trời mùa đông. Những hàng cây trơ cành đứng dọc vỉa hè, trên những cành khô còn sót lại vài mảng tuyết mỏng chưa tan hết. Tôi không nói gì, chỉ lặng lẽ quan sát mọi thứ trong khi Eliot từ khi lên xe đã tiếp chuyện với tài xế, đủ thể loại chuyện trên trời dưới đất… Đến lúc nhìn thấy tòa nhà trước mặt, tôi mới hiểu tại sao cậu ta nhất định kéo tôi đến tận đây. 

Bảo tàng nằm giữa một khu phố yên tĩnh hơn, phía trước là một khoảng sân rộng lát đá, những bậc thềm dẫn lên một công trình có mặt tiền trang nhã, những cột đá cao vươn lên dưới mái hiên rộng. Ánh sáng vàng dịu từ bên trong xuyên qua những ô cửa kính lớn, khiến toàn bộ tòa nhà nổi bật giữa sắc trời lạnh lẽo bên ngoài. Những đường nét kiến trúc cổ điển kết hợp với các mảng kính hiện đại tạo cho nó một vẻ đẹp rất khó gọi tên, vừa trang nghiêm vừa thanh lịch, giống như một nơi được tách riêng khỏi sự ồn ào của thành phố. Tôi đứng dưới chân bậc thềm, ngẩng đầu nhìn lên một lúc lâu. Đây là lần đầu tiên tôi đến một bảo tàng. Tôi từng nhìn thấy những bức tranh nổi tiếng qua sách giáo khoa, qua màn hình máy tính hoặc những trang web vô tình lướt qua, nhưng chưa từng nghĩ sẽ có ngày mình thật sự đứng trước một nơi như thế này. Và điều khó hiểu nhất là người đưa tôi đến đây lại là Eliot.

Bên trong bảo tàng ấm hơn hẳn bên ngoài. Không khí mang theo mùi đặc trưng của những tòa nhà cũ, thoang thoảng mùi gỗ, đá lạnh và thứ mùi rất nhạt của sơn dầu. Trần nhà cao đến mức tiếng bước chân vang lên rồi tan dần giữa không gian rộng lớn. Những bức tường màu sáng kéo dài thành từng gian phòng nối tiếp nhau, trên đó treo những bức tranh với đủ kích thước, từ những tác phẩm nhỏ nằm gọn trong khung gỗ tối màu cho đến những bức tranh khổng lồ gần phủ kín cả một mảng tường. Ánh đèn được bố trí rất cẩn thận, không quá mạnh nhưng đủ để từng nét cọ, từng lớp màu trên bề mặt tranh hiện lên rõ ràng. Tôi đứng ở lối vào, nhất thời không biết nên nhìn về đâu. Có quá nhiều thứ để nhìn, nhưng chẳng thứ nào khiến tôi biết mình nên bắt đầu từ đâu. Eliot dường như nhận ra điều đó, cậu ta không kéo tôi đi ngay mà đứng bên cạnh, nhìn tôi một lúc rồi mới nói: 

“Đi từ từ thôi.”  

“Tôi có chạy được đâu.” 

“Có nhiều thứ để xem lắm, cứ từ từ mà xem thôi.”

“Thì sao chứ…”

 “Trông cậu đang nhìn mọi thứ như thể muốn quay đầu bỏ về.” 

Tôi im lặng, cậu ta nói đúng. Một phần trong tôi thật sự muốn quay về. Không phải vì nơi này xấu, mà ngược lại, chính vì nó quá xa lạ. Tôi không biết phải cư xử thế nào trong một không gian như thế này, không biết phải nhìn một bức tranh trong bao lâu, không biết phải nói gì nếu Eliot hỏi tôi thích tác phẩm nào, càng không hiểu tại sao cậu ta lại nghĩ tôi sẽ muốn đến đây. Những nơi xa lạ luôn khiến tôi cảm thấy như mình đang đứng trên một mặt đất không thuộc về mình, chỉ cần bước sai một bước là tất cả sẽ trở nên mất kiểm soát.

Eliot đưa tôi đến gian phòng đầu tiên, nơi treo những tác phẩm hội họa châu Âu từ nhiều thời kỳ khác nhau. Tôi chẳng hiểu mấy về nghệ thuật nên ban đầu chỉ nhìn lướt qua từng bức tranh. Có những bức vẽ phong cảnh mùa đông, những cánh rừng phủ tuyết trắng và những con đường nhỏ kéo dài về phía xa; có những bức chân dung với ánh mắt nghiêm nghị đến mức khiến tôi có cảm giác nhân vật trong tranh đang nhìn ngược lại mình; có cả những bức tranh tái hiện những căn phòng cổ với cửa sổ mở ra bầu trời xám và những chiếc bàn phủ khăn trắng. Eliot thì chẳng hề có vẻ sốt ruột, cậu ta đứng cạnh tôi, thỉnh thoảng chỉ vào một tác phẩm rồi nói vài câu về nó, lúc thì kể về thời kỳ nó được vẽ, lúc lại nói về cách ánh sáng được sử dụng để khiến một khuôn mặt trở nên nổi bật hơn trong tranh. Tôi nghe được một nửa, quên mất một nửa còn lại. Nhưng có một điều khiến tôi ngạc nhiên: Eliot thực sự hiểu về những thứ này. Tôi không nghĩ một người như cậu ta lại quan tâm đến nghệ thuật đến vậy, thế mà khi đứng trước những bức tranh, giọng cậu ta lại hoàn toàn khác. Cậu ta nói chậm, bình tĩnh và chăm chú đến mức tôi bất giác nhìn cậu ta nhiều hơn nhìn những bức tranh trước mặt.

Chúng tôi tiếp tục đi qua một gian phòng lớn với những tác phẩm điêu khắc bằng đá và đồng. Những pho tượng đứng im dưới ánh đèn, gương mặt và cơ thể được tạo nên từ những đường nét tinh tế đến mức tôi có thể nhìn thấy từng nếp gấp trên lớp vải đá cứng. Tôi dừng lại trước một pho tượng người phụ nữ đang cúi đầu, mái tóc dài buông xuống che một phần gương mặt. Có một thứ gì đó trong dáng đứng ấy khiến tôi chú ý. Không phải vẻ đẹp hoàn hảo của nó, mà là cảm giác cô độc toát ra từ tư thế hơi co lại, như thể người phụ nữ đang cố thu mình khỏi thế giới xung quanh. Tôi đứng đó lâu hơn dự định, Eliot không nói gì, cậu ta chỉ đứng cạnh tôi, một tay vẫn giữ lấy cánh tay tôi để tôi không phải dồn quá nhiều sức lên chân còn lại. Tôi không biết tại sao mình lại nhìn pho tượng lâu đến thế. Có lẽ bởi vì tôi hiểu cảm giác muốn thu mình lại. Hiểu cảm giác muốn biến mất khỏi tầm mắt của người khác, muốn có một nơi không ai bước vào được. Tôi quay đi trước khi Eliot kịp hỏi.

Nhưng chuyến tham quan dường như vẫn chưa kết thúc. Cậu ta đưa tôi lên một tầng khác, nơi những bức tranh hiện đại được trưng bày trong một không gian rộng và sáng hơn. Có những tác phẩm sử dụng những mảng màu mạnh, những đường nét tưởng như hỗn loạn nhưng khi đứng từ xa lại tạo thành một hình ảnh hoàn chỉnh. Tôi nhìn một bức tranh trừu tượng rất lâu rồi cuối cùng không nhịn được mà hỏi: 

“Cái này rốt cuộc là cái gì?” Eliot bật cười. 

“Không biết.” Tôi quay phắt sang nhìn cậu ta. 

“Cậu không biết?” 

“Không.” 

“Vậy mà cứ tỏ ra mình như chuyên gia. Đúng là làm màu….” 

“Tôi chỉ nói những gì tôi biết thôi.” 

Cậu ta nhún vai, sau đó nhìn bức tranh một lúc rồi nói thêm:

“Không phải thứ gì cũng cần phải hiểu ngay.” 

Câu nói ấy chẳng hiểu sao lại khiến tôi khó chịu một cách kỳ lạ. Tôi vốn luôn muốn mọi thứ có lời giải thích rõ ràng. Một việc xảy ra phải có nguyên nhân, một người thay đổi phải có lý do, một hành động phải có mục đích. Thế nhưng Eliot lại luôn cho tôi cảm giác mơ hồ vô định.

Đến gần cuối buổi, chúng tôi dừng lại trước một khung cửa sổ lớn ở hành lang. Từ đây có thể nhìn xuống khu phố bên ngoài. Những mái nhà phủ một lớp tuyết mỏng, những chiếc xe chạy chậm trên con đường ướt ánh lên dưới ánh đèn, những người đi bộ co người trong áo khoác giữa cái lạnh của Berlin. Tôi đứng cạnh cửa kính, thở ra một hơi khiến mặt kính trước mặt mờ đi trong chốc lát. Tôi vẫn không hiểu nghệ thuật, vẫn không hiểu vì sao một số người có thể đứng hàng giờ trước một bức tranh, càng không hiểu tại sao Eliot lại nghĩ tôi sẽ thích chuyến đi này. Nhưng có lẽ điều khiến tôi bối rối hơn cả chính là việc tôi đã không ghét nó như mình tưởng.

Đúng lúc tôi định quay người rời khỏi khung cửa sổ, từ tầng dưới bỗng vọng lên một chuỗi âm thanh trong trẻo, ban đầu chỉ là vài nốt rời rạc rồi nhanh chóng nối liền thành một giai điệu mềm mại, len qua khoảng không rộng lớn của bảo tàng và vang lên dưới mái vòm cao. Tiếng piano! Âm thanh ấy không lớn, thậm chí giữa tiếng bước chân và những cuộc trò chuyện khe khẽ của khách tham quan, nó còn có phần mỏng manh, nhưng chính vì vậy mà nó càng khiến người ta dễ dàng chú ý. Những nốt đầu tiên mang theo một vẻ dịu dàng rất lạ, giống như những giọt nước rơi xuống mặt hồ đang phẳng lặng, sau đó giai điệu dần trở nên rõ ràng hơn, lúc chậm rãi, lúc ngân dài, từng âm thanh nối tiếp nhau một cách tự nhiên đến mức tôi có cảm giác người chơi không cần phải suy nghĩ về việc ngón tay tiếp theo sẽ đặt xuống phím nào. Tôi nhìn Eliot, cậu ta cũng đã quay đầu về phía cầu thang, nhưng không nói gì. 

“Xuống xem không?” 

Tôi hỏi, gần như chỉ vì tò mò. Eliot im lặng vài giây rồi mới đáp: 

“Ừ.” 

Chúng tôi chậm rãi đi xuống tầng dưới, lần này tôi là người chủ động bước nhanh hơn một chút dù Eliot vẫn phải giữ lấy cánh tay tôi để tôi không mất thăng bằng. Càng xuống gần, tiếng đàn càng rõ. Đến khi vừa bước khỏi cầu thang, tôi lập tức nhìn thấy một đám đông đang đứng quây thành vòng tròn ở khoảng sảnh rộng giữa bảo tàng. Ở chính giữa vòng người ấy là một cây đại dương cầm màu đen bóng, vốn có lẽ được đặt ở đó như một phần của không gian trưng bày, và một cô bé khoảng chín, mười tuổi đang ngồi trước nó. Mái tóc nâu được buộc gọn sau gáy, đôi chân nhỏ còn chưa chạm hẳn xuống sàn, phải hơi nhón lên mỗi khi chuyển sang bàn đạp, nhưng hai bàn tay lại di chuyển trên phím đàn với sự tự tin hoàn toàn không tương xứng với vóc dáng nhỏ bé ấy. Cô bé đang chơi bản Clair de Lune của Debussy. Tôi từng nghe giai điệu ấy vài lần qua điện thoại, nhưng chưa bao giờ nghe trực tiếp như thế này. Trong không gian cao rộng của bảo tàng, từng nốt nhạc dường như được kéo dài hơn, ánh lên giữa những bức tường đá và những tác phẩm nghệ thuật xung quanh, có lúc gần như tan vào tiếng gió rất nhẹ ngoài cửa kính, có lúc lại nổi bật lên đến mức khiến cả sảnh đường im phăng phắc. Những người vừa rồi còn trò chuyện cũng dần hạ thấp giọng, vài người đưa điện thoại lên quay lại, nhưng phần lớn chỉ đứng yên lặng lắng nghe. Tôi cũng không ngoại lệ, bất giác quên mất mình đã định rời khỏi đây từ lúc nào, chỉ nhìn cô bé trước mắt với một cảm giác kinh ngạc khó diễn tả. Tôi chẳng phải người hiểu biết về âm nhạc, càng không đủ khả năng nhận xét cô bé chơi đúng kỹ thuật đến đâu, nhưng tôi có thể cảm nhận được sự tự nhiên trong từng chuyển động của cô bé. Không có vẻ căng thẳng, không có sự phô trương, cũng chẳng có ý định chứng minh điều gì với những người xung quanh. Cô bé chỉ đơn giản là chơi đàn, hoàn toàn chìm vào giai điệu trước mặt, giống như thế giới xung quanh đã biến mất từ lâu. Tôi bất giác nghĩ, một đứa trẻ nhỏ như vậy mà có thể khiến cả một căn phòng rộng lớn im lặng chỉ bằng những ngón tay của mình, quả thực đáng nể. Nếu là tôi ở tuổi đó, có lẽ tôi còn chẳng đủ kiên nhẫn để ngồi yên trước một cây đàn lâu đến vậy.

Bản nhạc dần đi đến đoạn cuối, những nốt đàn thưa hơn, nhẹ hơn, như thể âm thanh đang chậm rãi lùi khỏi căn phòng thay vì thật sự kết thúc. Cô bé giữ phím cuối cùng thêm một thoáng rồi mới nhấc tay lên. Một khoảng im lặng ngắn ngủi xuất hiện trước khi tiếng vỗ tay vang lên từ bốn phía. Không quá ồn ào, cô bé hơi cúi đầu, đôi tai đỏ lên vì ngượng. Tôi cũng vỗ tay theo mọi người, khóe môi vô thức nhếch lên một chút. Có lẽ đây là lần đầu tiên tôi thật sự thấy thoải mái khi đứng giữa một nơi đông người như vậy. Nhưng chỉ vài giây sau, tôi nhận ra có điều gì đó không đúng. Eliot không vỗ tay, tôi quay sang nhìn cậu ta theo phản xạ, ban đầu chỉ định xem cậu ta có đang làm gì, nhưng ngay khi ánh mắt chạm vào gương mặt ấy, tôi lập tức khựng lại. Eliot đang nhìn cô bé.. Không, chính xác hơn, cậu ta đang nhìn cây đàn piano trước mặt cô bé, nhưng ánh mắt ấy hoàn toàn khác với vẻ thích thú hoặc tò mò của những người xung quanh. Đôi mắt vốn luôn mang theo một chút ý cười của cậu ta lúc này tối xuống một cách kỳ lạ, sâu đến mức gần như không còn nhìn thấy chút ánh sáng nào. Gương mặt Eliot căng cứng, đường quai hàm hơi siết lại, môi mím thành một đường thẳng. Tôi nhìn xuống tay cậu ta và ngay lập tức nhận ra điều khiến mình sửng sốt hơn cả. Hai bàn tay vẫn còn quấn băng trắng đặt bên cạnh người đang khẽ run lên. Không phải một chuyển động lớn, chỉ là những ngón tay run rất nhẹ, gần như không thể nhận ra nếu không đứng đủ gần, nhưng tôi nhìn thấy. Tôi chắc chắn mình đã nhìn thấy.

Trong khoảnh khắc ấy, một cảm giác lạnh lẽo chạy dọc sống lưng tôi, hoàn toàn không liên quan đến thời tiết bên ngoài. Tôi chưa từng thấy Eliot như vậy, cậu ta luôn là người khiến người khác không đoán được mình đang nghĩ gì, bởi cậu ta lúc nào cũng có thể dùng một nụ cười hoặc một câu nói đùa để phủ lên mọi thứ. Nhưng lúc này, chẳng có nụ cười nào cả. Cậu ta giống như vừa bị kéo trở về một nơi nào đó rất xa, một nơi mà tôi không thể nhìn thấy. Tôi không biết cô bé kia đã gợi cho cậu ta nhớ đến điều gì, cũng không hiểu tại sao chỉ một bản nhạc piano lại có thể khiến sắc mặt cậu ta thay đổi đến vậy.

“Eliot?” Tôi gọi khẽ.

Không có phản ứng.

Tôi gọi lần thứ hai, lần này lớn hơn một chút. Cậu ta chớp mắt, như thể vừa tỉnh khỏi một giấc mơ, rồi quay sang nhìn tôi. Chỉ trong một thoáng rất ngắn, tôi tưởng mình nhìn thấy thứ gì đó trong mắt cậu ta mà tôi chưa từng thấy trước đây. Nó có chụt sợ hãi! Nhưng chỉ một giây sau, tất cả biến mất. Eliot cong môi cười, một nụ cười rất quen thuộc nhưng lại gượng gạo đến mức khiến tôi càng cảm thấy bất an.

“Gì vậy?” Cậu ta hỏi.

Cô bé đã rời khỏi cây đàn, tiếng vỗ tay dần thưa rồi tan vào những cuộc trò chuyện trở lại. Mọi người bắt đầu tản ra, không gian xung quanh dần trở về vẻ yên tĩnh ban đầu. Tôi vẫn đứng nguyên tại chỗ nhìn Eliot, nhìn gương mặt đã trở lại vẻ bình thường nhưng vẫn còn sót lại một chút căng thẳng nơi khóe mắt. Tôi không biết Eliot đang giấu tôi chuyện gì. Nhưng lần đầu tiên, tôi chắc chắn một điều rằng chuyện ấy nghiêm trọng hơn rất nhiều so với những gì cậu ta vẫn cố làm ra vẻ.

“Chúng ta về thôi.” 

Tôi nói, mắt vẫn còn dừng lại trên bóng lưng Eliot khi cậu ta đang chuẩn bị rời khỏi khu vực cây đàn. 

“Ờ, được rồi.” 

Eliot đáp, giọng nhẹ bẫng như thể vài phút trước chẳng hề có chuyện gì xảy ra. Chúng tôi rời khỏi bảo tàng khi trời đã sẫm màu, nhưng trên suốt quãng đường trở về tôi không hỏi thêm bất cứ điều gì. Eliot cũng không chủ động nhắc đến chuyện đó. Cậu ta lại trở về dáng vẻ thường ngày, vẫn nói những câu chẳng đâu vào đâu, thỉnh thoảng còn cố chọc cho tôi nổi cáu, như thể chỉ cần nói đủ nhiều thì có thể lấp kín khoảng im lặng giữa chúng tôi. Tôi cũng không vạch trần cậu ta. Có lẽ bởi tôi biết, nếu Eliot thật sự muốn nói, cậu ta đã nói từ lâu rồi.

Đêm đó, tôi nằm trên giường rất lâu mà không ngủ được. Căn phòng tối om, chỉ có ánh sáng nhợt nhạt từ ngọn đèn ngoài đường len qua khe rèm, kéo một vệt mờ trên sàn nhà. Tôi xoay người sang bên này rồi lại quay sang bên kia, kéo chăn lên rồi lại đá xuống, nhưng đầu óc chẳng chịu yên. Cứ mỗi khi nhắm mắt, hình ảnh trong bảo tàng lại hiện ra. Cô bé ngồi trước cây đàn, những ngón tay nhỏ bé lướt qua từng phím, tiếng đàn vang lên giữa không gian rộng lớn, những người đứng xung quanh im lặng lắng nghe... rồi gương mặt Eliot xuất hiện ngay sau đó. Ánh mắt tối xuống, quai hàm căng cứng, đôi tay băng bó khẽ run lên. Tôi càng cố không nghĩ đến, hình ảnh ấy lại càng trở nên rõ ràng hơn.

Tôi trở mình, nhìn trần nhà. Rốt cuộc cậu ta đã nhìn thấy gì trong cây đàn đó? Hay đúng hơn, cậu ta đã nhớ đến chuyện gì? Tôi không nghĩ chỉ một bản nhạc có thể khiến một người thay đổi như vậy nếu nó chẳng liên quan đến điều gì đặc biệt. Eliot không phải kiểu người dễ dàng để cảm xúc lộ ra ngoài. Ngay cả khi đôi tay bị thương, cậu ta vẫn cố làm như chẳng có gì đáng kể. Vậy mà chỉ trong vài phút ngắn ngủi, trước một cây đàn piano, tất cả những thứ ấy gần như biến mất.

Tôi kéo chăn lên quá vai, cố ép bản thân ngủ, nhưng trong đầu vẫn quanh quẩn một câu hỏi mà tôi không muốn thừa nhận rằng mình thật sự muốn có câu trả lời: rốt cuộc Eliot đã trải qua chuyện gì? 



Bình luận đoạn văn

Bình luận

Trả lời bình luận

Chỉnh sửa bình luận

Thiết lập văn bản

Xem trước

Nội dung sẽ hiển thị như thế này

Chọn font chữ

Cỡ chữ

12px 30px