Chương 1
Trong cái buồng tối tăm, u ám, gần khu phòng của đám hầu hạ tiện, từng tiếng khóc thút thít xen lẫn tiếng cười man dại của một người con gái cứ văng vẳng không ngừng:
- Hứcc… Hi hi… Mẹ… Mẹ ơi… Th…Thục Trinh đẹp không? Hi hi.
Dưới nền gạch tàu lạnh lẽo, có một cô gái đầu tóc xoã tung đang nằm đó. Hai tay nàng ta không ngừng phủi sạch vết dơ trên tấm ảnh trắng đen đã hoen ố từ lâu, phủi cả vết bụi đang che đi nụ cười hiền từ trên gương mặt của một người phụ nữ. Cứ yên được một lúc, cô gái ấy lại cười rồi lại khóc, rõ ràng chẳng khác gì một người điên! Bọn hầu trong nhà này nói cô ta điên thật, bởi đâu có người thường nào ăn chung cơm với lũ chuột hôi hám. Nhưng bọn nó sai rồi! Cái thứ cơm chảy nước bốc mùi kia đến con chuột sắp chết đói còn chê, huống chi là chịu ăn. Nói đó là thức ăn, là thức ăn của con gái nhà hội đồng lại càng chẳng ai dám tin. Cái cô tiểu thư xinh đẹp trứ danh ngày nào giờ lại hoá điên hoá dại sau cái chết của mẹ nàng ta.
Nói đến việc mẹ cô Trinh mất thì phải kể đến khoảng một tháng trước. Vào một đêm tĩnh mịch, không trăng cũng chẳng sao, tưởng rằng cả cái nhà ông hội đã chìm vào cơn mê thì bỗng từ phòng của Bà Cả cất lên tiếng hét thất thanh:
- Áaaaaaa… Con ơi…
Gần đó, trong một gian phòng khác, giọng của một người phụ nữ chua ngoa ré lên, là giọng của Bà Ba:
- Con Thị đâu? Mày đi coi có chuyện gì mà nửa đêm còn la hét!
Nghe vậy, ả hầu tên Thị vốn đang nằm ngoài cửa liền vội vàng đáp lời, rồi lật đật cầm theo cái đèn dầu mà đi về phía phòng Bà Cả.
Tiếng lao xao bàn tán ngày một rõ ràng hơn, còn cách một khoảng, Thị đã thấy đám người hầu đứng xúm lại trước phòng bà cả. Thấy có điều bất thường, Thị bất giác đi nhanh hơn. Gần đến nơi, giọng ả cất lên lanh lảnh:
- Nửa đêm nửa hôm, tụi bây không ngủ mà xúm lại đây làm gì?
Trong đám hầu đang đứng, có một người lắp bắp, vừa nói vừa chỉ tay vào phòng Bà Cả:
- Bà… Bà Cả… hình như, hình như điên rồi!
Nghe lời nói đó, Thị lại muốn quát cho tụi này một trận nhưng không hiểu sao mắt ả lại động trước, hướng vào phía cánh cửa đang nửa mở. Con ngươi ả co lại, hiện lên hình bóng một người phụ nữ đang lê lết bò trườn trên sàn, hai tay bà ta thì không ngừng mò mẫm trong bóng tối như đang tìm kiếm một thứ gì đó. Chốc chốc, từ miệng bà ta lại thốt lên mấy lời không đầu không đuôi:
- Con… Con của mẹ, con đang ở đâu?
Kể ra thì đây cũng là một câu chuyện buồn! Mới không lâu trước đây, Bà Cả này vừa mất đi cái thai mà bà ta còn chưa biết đương mang. Nghe ông thầy lang nói là do bà đã gần tứ tuần, lại thêm ăn uống không chừng mực nên mới dẫn đến sẩy thai. Cũng từ vụ đó, bà cả ngày đêm u uất, rồi dần dần suy sụp tinh thần. Không bao lâu sau, cả cái nhà này đã đồn ầm lên rằng bà ta bị điên.
Chuyện xảy ra ngoài mặt là vậy, còn bên trong có khuất tất gì hay không thì có trời mới biết. Dù gì thì cái nhà lớn này lâu nay vốn cũng chẳng sạch sẽ! Còn Thị, dù nó cùng bà ba có mấy phần nghi ngờ nhưng không chứng cũng chẳng cớ thì cũng chẳng làm được gì. Mặc dù vậy, nó cùng chủ nó còn nhớ rằng bà cả trước nay vốn hiền từ, đối xử với cả hai luôn khoan dung hết mực, ít nhất còn chưa để họ phải chịu khổ trong nhà này. Cho nên, lúc này Thị mới khàn giọng nói với bọn người ở:
- Bây còn đứng đó làm gì? Còn không mau lại đỡ bà dậy!
Ban đầu, tụi này còn hơi do dự, nhưng nghe Thị thúc dục mấy lần thì cũng ráng tiến lên mà đỡ bà lên giường. Chỉ là đỡ người tỉnh thì dễ, còn như người điên lại vừa vùng vẫy vừa la hét thì hai ba con ở cũng chật vật một hồi mới đỡ được Bà Cả lên giường.
Xong xuôi, con Thị lại nhìn vào phòng một lần nữa rồi mới khép lại cửa phòng, sau đó quay sang nói:
- Giải tán! Giải tán! Ở đây làm gì nữa?
Ngừng một chút, như nhớ lại cái gì, Thị lại bồi thêm một câu:
- Nhớ là có nghe động tĩnh gì thì phải đi qua ngó coi bà, không được để bà dưới sàn như vậy.
Trở về phòng Bà Ba, Thị khẽ thuật lại mọi chuyện. Nghe xong, Bà Ba trầm ngâm rồi vội nói:
- Thị, hôm trước tao kêu mày nhờ người báo cho Ông Hội với cô hai Trinh trên Sài thành, sao đến nay chưa nghe tin gì?
Con Thị nghe vậy hơi lo lắng trả lời:
- Hôm con gửi thư đi có gặp con Sen trước cổng, nó nói tiện đường nên… nên giành gửi thư giùm con.
Bà Ba lạnh người, ngồi xuống trên giường:
- Trời ơi là trời! Sao mày dại dữ vậy Thị?
- Sáng mai, sáng mai mày đi gửi thư một lần nữa! Không thì, không kịp mất.
Thế là sáng hôm sau, trời còn chưa sáng hẳn, con Thị đã vội vàng lên chợ huyện để gửi thư. Chỉ là nó không biết rằng mọi chuyện đã quá muộn rồi.
Buổi sáng đó, như thường lệ thì một ả hầu bưng đồ ăn sáng vào phòng cho bà cả. Đến nơi, thấy cửa khép hờ, ả cũng lờ đi mà đẩy cửa bước vào. Chỉ là, khi vừa bước vào, mâm đồ ăn trên tay ả đã rơi loảng xoảng xuống đất, liền sau đó là tiếng la hét thảm thiết của ả ta.
Nghe tiếng đó, mấy đứa hầu khác chạy đến thì thấy ả ta đang lê lết bò ra khỏi phòng, trên gương mặt đầy rẫy sự sợ hãi. Người con hầu này run lên liên hồi, ai hỏi gì nó cũng chỉ lắc đầu nguầy nguậy. Không hỏi ra được gì, mấy người ở khác mới bước vào phòng thì chứng kiến một cảnh tượng kinh hoàng.
Bà cả đã chết, chết đến không thể chết hơn! Giữa gian phòng u ám, thi thể cứng đơ của bà ta treo lơ lửng trên xà nhà. Đến khi cơn gió lạ thổi vào, cái xác này lại đung đưa, mà đưa nhẹ nhàng lắm, con nít nhìn sơ qua còn phải nghĩ bà đang chơi trò xích đu, còn nhìn kỹ thì… người lớn còn phải ré khóc. Hỡi ơi, gương mặt ngày nào còn cao sang, hiền từ thì giờ đây lại hoá thành dị dạng, chỉ còn chừa lại nỗi đau giằng xé cùng sự phẫn nộ tột cùng. Từ sâu trong ánh mắt vô hồn đang trợn trừng trừng kia là chút ánh sáng cuối cùng còn sót lại, như thể bà ta vẫn nhìn thấy, vẫn chằm chằm nhìn vào một người nào đó đang ở trước mắt đây. Ánh mắt ấy thấu tận tâm can, đến mức chẳng ai dám nhìn thẳng vào bà lần thứ hai mà chỉ dám cúi mắt nhìn xuống. Và chính cái cúi nhìn đó đã để tất cả đều thấy, thấy ngay dưới mũi chân xám xanh kia là một chiếc ghế gỗ đang ngã lăn lóc. Rồi thế là mặc nhiên, ai ai thấy cảnh này cũng đều cho rằng bà cả là chết do tự tử.
Chuyện rùm beng nhanh chóng đến tay mấy bà chủ còn ở trong nhà. Cùng lúc là bà hai cùng bà ba đi qua. Còn bà tư thì đương mang thai, không ai dám để bà xem cái cảnh khủng khiếp này. Đứng trước cửa phòng, Bà Ba vừa nhìn khung cảnh bên trong, vừa nắm chặt tay con Chi mà run rẩy. Còn đang trong cơn hốt hoảng thì đã nghe bên cạnh tiếng Bà Hai khóc lóc vang lên:
- Chị Cả, sao chị lại dại dột như vậy, chị đi rồi cái nhà này biết làm sao?
Vừa nói, bà ta vừa lấy tay lau mấy giọt nước mắt vươn dài trên má, lại liên tục nói mấy lời buồn khổ không khác gì người mất là người thân của bà ta. Cứ vậy mà một hồi qua đi, Bà Hai vừa khóc vừa được đỡ về phòng. Bà Ba thì lại nhìn cảnh tượng trong phòng thêm một lần cuối rồi mới thơ thẩn đi về phòng của mình.
Chết người là chuyện lớn nên không ai dám giấu giếm, ngay buổi sáng đó đã có người đánh điện, báo tin cho Ông Hội. Tin trả về cũng đến rất nhanh, chỉ là lời người trong đó khiến người ta không khỏi chạnh lòng. Theo lời Ông Hội, Bà Cả tự tử chết là bại hoại gia phong, làm ô uế cái danh tiếng của nhà này nên tất nhiên không được chôn vào đền mộ của họ này. Lại sợ tiếng xấu đồn xa nên chuyện làm đám cũng phải bỏ qua, không cần cúng kiếng gì mà cứ chọn đại một cái hòm rồi chôn ở đâu đó cũng được. Về phần ông ta, nghe nói là còn bận việc ở Sài thành không về được, nên là mọi việc trong nhà cứ để bà hai lo vậy.
Âu cũng là để người ra đi được yên lòng, Bà Hai cũng ráng lấy tiền túi ra sắm sửa cho Bà Cả một cái hòm loại tốt. Chỗ chôn thì được chọn hơi xa nhà nhưng mồ mả thì cũng coi như là êm xuôi, dù kém xa so với nơi yên giấc của nhà quyền thế nhưng cũng hơn hẳn so với chỗ chôn của bọn thường dân. Bà ta còn để nguyên vòng vàng trang sức lúc sinh thời của Bà Cả theo chôn cùng để trọn tiếng hiền từ.
Người mới chết buổi sáng thì đến chạng vạng đã được chôn cất xong, mọi thứ làm gọn gàng như đúng lời Ông Hội căn dặn. Nhưng điều tiếng có che cũng chẳng hết, mới chẳng bao lâu mà xứ đó ai cũng biết Bà Hội chết do tự tử.
Đến nửa đêm hôm đó, Thục Trinh, người con gái duy nhất của Bà Cả mới về đến nơi. Dù trên mặt vươn lắm mỏi mệt vì cả ngày dài đi xe nhưng nàng vẫn vội vã lao ngay ra mộ của mẹ mình. Đến nơi, Cô Hai nhà hội đồng lại chết trân mà nương theo ánh đèn nhìn lại. Chỉ thấy, cái mồ mới đắp đã bị ai đó đào hỏng lên. Nắp hòm sơn son bị cạy mở ra, để lộ một khoảng đủ để người ta ghé mắt nhìn vào. Tiến đến gần hơn, ánh mắt cô Trinh nhìn vào gương mặt của xác chết. Lập tức, cô nhìn thấy đôi mắt trợn trừng của mẹ mình cùng nét thống khổ khôn nguôi. Không biết từ lúc nào, nước mắt cô tuôn rơi như châu lăn, từng dòng từng dòng ấm nóng lã chã không ngừng. Thục Trinh khóc không thành tiếng rồi đưa tay đặt lên đôi bàn tay lạnh cứng của mẹ mình như muốn níu kéo lại từng khoảng thời gian lúc bà còn sống.
Bỗng đôi tay vốn cứng đờ của xác chết như chợt động, bấu chặt lấy đôi tay cô Trinh. Đôi mắt kia lại càng mở to nhìn thẳng vào đứa con trước mặt, rõ ràng là muốn nói nhưng chẳng thể. Thục Trinh giật mình, theo quán tính muốn thu tay lại nhưng tình yêu dành cho người mẹ lại chiến thắng nỗi sợ lúc này. Cô gào lên một tiếng như xé tận tâm can, chồm lên ôm lấy mẹ mình mà nức nở. Một người sống cứ thế ôm chặt một xác chết cho đến khi bóng tối dần lui.
Lúc này, Cô Hai Trinh mấy lần cố khép đôi mắt người chết lại nhưng chẳng thể, cuối cùng phải dùng khăn liệm mà che đi gương mặt ấy rồi cho người một lần nữa lắp lại cái mả này. Đứng nhìn từng vạt đất dần phủ kín nắp hòm, gương mặt cô gái giờ đây đã không còn nước mắt mà chỉ còn sót lại sự u uất và chút ít hoang mang nơi đáy mắt. Dễ hiểu thôi, người ta mất mẹ là vì bệnh tật, vì tai nạn; còn cô mất mẹ là vì bà tự tử. Một người hiền lành, dịu dàng, dù ngần ấy năm không được chồng đoái hoài tới vẫn nhẫn nhục sống tốt để nuôi cô khôn lớn, làm sao có thể tự kết thúc cuộc đời mình một cách vô lý như vậy? Chẳng lẽ cớ sự lại đổ hết cho hai chữ “bệnh điên”? Ai mà tin được cái chuyện người điên lại biết thắt nút dây thừng để tự tử? Ấy vậy mà vẫn có người tin, lại còn là người chồng, người cha danh giá của cái nhà này cơ đấy.