Đọc to (tiếng Việt) Nhấn phát để bắt đầu
Mạt Niệm

Mười bảy người mất tích

Tấm linh khế ghi con số mười vạn linh thạch vẫn trải trên bàn từ đêm qua, dấu chu sa đỏ thẫm đã khô từ lâu. Chu Yên Vũ vốn định xem lại các điều khoản rồi cho cất đi nhưng đọc tới dòng cuối rồi nàng vẫn để nguyên nó trước mặt. Giấy tờ đã đủ, linh thạch cũng đã giao, từ nay muốn hỏi hắn điều gì nàng không cần phải qua tay ai nữa.

Chậm thêm một chút thì chưa chắc đã được như vậy. Những kẻ tranh giá với nàng đêm qua ai cũng có chỗ dựa sau lưng, chẳng ai chịu bỏ ra từng ấy tiền chỉ vì một lúc cao hứng. Nàng chưa biết họ cần gì ở hắn, lại càng không thể đợi họ mang hắn đi rồi mới bắt đầu tìm hiểu; vụ mất tích còn chưa rõ đầu đuôi mà đầu mối đã lọt vào tay người ngoài thì dù có tìm tới tận cửa cũng khó lòng hỏi được một câu.

Những điều ấy đêm qua nàng đều đã nghĩ tới. Sáng nay ngồi nghĩ lại, nàng vẫn thấy lạ ở chính mình. Tiếng xướng giá còn rõ bên tai, chiếc bảng giơ lên cũng còn rõ, riêng lúc quyết định trả mười vạn thì nàng nhớ mãi không ra mình đã bắt đầu từ đâu... Nàng đã cân nhắc tới con số ấy từ trước, hay phải tới khi nói ra mới biết mình sẵn lòng trả? Xưa nay việc gì nàng làm cũng có đầu có đuôi, lần này nàng có thể kể đủ mọi lý do cần giữ người, nhưng kể xong rồi vẫn không dám chắc đêm qua mình đã kịp nghĩ hết chừng ấy hay chưa, nên khoảng trống nhỏ ấy cứ khiến nàng không yên.

“Vương gia có ngồi nhìn thêm thì chợ ngầm cũng không trả lại tiền đâu.”

Khương Thiệu Lâm đã ngồi bên bàn từ lúc trà còn nóng. Nàng mải nghĩ, để anh đợi tới nguội cả chén mới sực nhớ bên cạnh còn có người.

“Ngươi tiếc tiền à?”

“Giờ có tiếc cũng muộn rồi. Ta chỉ không ngờ người ra giá ngay mà chẳng bàn với ta câu nào.”

“Để hắn rơi vào tay một trong ba phe kia, sau này muốn gặp cũng chưa chắc gặp được.”

“Ta có bảo người nên nhường đâu.” Thiệu Lâm nói. “Theo người bao năm, việc lớn việc nhỏ người đều hỏi ta một câu rồi mới định đoạt, đêm qua ta còn chưa kịp mở miệng thì người đã mua xong rồi. Mười vạn linh thạch đấy, Vương gia.”

Nàng có thể đáp rằng tình thế không cho phép chờ lâu, nhưng đêm qua Thiệu Lâm cũng ngồi ngay đó, những con số được xướng lên anh đều nghe cả; đem những điều ấy nói lại với anh cũng chẳng làm câu trả lời thỏa đáng hơn được chút nào.

“Người định thu xếp thế nào?” anh hỏi tiếp. “Bảy ngày nữa đã phải lên đường đi Thanh Sa. Chuyện Càn Vũ nghị hôn, người cũng nhận thay Nhị công chúa rồi, còn vụ mười bảy người kia thì chưa biết bao giờ mới tra xong.”

“Cứ chuẩn bị theo ngày đã định. Trước đó ta phải hỏi chuyện người vừa mua về đã.”

Trên tay Thiệu Lâm vẫn cầm quyển sổ thu chi của vương phủ. Yên Vũ chống cằm nhìn người đã ở bên mình hơn mười năm, thấy anh còn chăm chú dò từng dòng trong sổ thì không nhịn được cười:

“Ngươi vẫn tiếc tiền.”

“Ta còn phải ghi sổ.”

Tới lúc ấy nàng mới nghe ra anh đã trở lại cái giọng trêu chọc thường ngày, bèn hỏi thêm:

“Ngươi cho rằng ta mua vì gương mặt ấy à?”

“Nếu vậy thì ta dễ ghi hơn nhiều.”

“Ngươi định ghi thế nào?”

“Chi tiêu vì nhan sắc!”

Yên Vũ gấp tấm linh khế lại rồi đưa sang cho anh:

“Sửa thành công vụ.”


 Ba ngày trước, vừa tan buổi triều sớm, Yên Vũ đã cùng Thiệu Lâm đi thẳng tới một thôn nhỏ ngoại ô Nam thành, nơi người thứ mười bảy biến mất khi nồi cơm trên bếp còn chưa kịp chín.

Nàng nhấc chiếc vung nồi đất lên. Lớp cơm bên trên đã khô cứng, mấy hạt bên dưới còn sượng, dính cả vào đầu đôi đũa tre nàng vừa lấy trên kệ bếp xuống. Củi cháy dở vùi trong tro, chút hơi ấm còn sót lại không đủ hong khô vệt nước mưa trên tay nàng. Cạnh bếp có một chiếc bát con úp sẵn trên kệ, đôi đũa nhỏ gác ngang miệng bát. Người đứng bếp hôm ấy hẳn đã định nhấc nồi xuống ngay khi cơm cạn nước, xới cho con trước rồi mới tới phần mình, thế rồi nồi cơm cứ nằm đợi một người không trở về. Yên Vũ đặt đôi đũa về chỗ cũ, nghiêng chiếc vung tựa bên miệng nồi.

“Là ai phát hiện ra người nhà đã biến mất?”

Trưởng thôn đứng ngoài cửa, vừa nghe hỏi đã cúi người:

“Bẩm Vương gia, là đứa nhỏ nhà này. Nó chạy sang nhà bên gọi người, bảo cha đang nấu cơm trong bếp tự dưng không thấy đâu nữa. Lúc hàng xóm chạy qua thì lửa trong bếp vẫn còn cháy.”

Ông tránh sang một bên cho nàng bước ra. Dưới hiên nhà bên, một đứa nhỏ chừng năm tuổi ngồi trên bậc cửa, ngón tay cứ di di mãi một vệt bùn dưới đất. Người hàng xóm gọi nó vào trong, nó nghe lời nhích vào được một chút, ngồi chưa ấm chỗ đã lại ngoảnh ra nhìn về phía nhà mình. Từ bậc cửa ấy trông thẳng được sang gian bếp, nơi Yên Vũ vừa bước ra.

Hai căn nhà còn lại chỉ cách nhau một lối đất hẹp, trưởng thôn dẫn nàng sang lần lượt, tới cửa nhà nào cũng nép người nhường nàng vào trước. Căn thứ hai còn chén trà nguội để trên bàn, còn căn thứ ba có chiếc áo tơi treo bên cửa cứ rỉ nước mãi, đọng thành một vũng nhỏ trước thềm khiến nàng phải vén vạt áo tránh qua mới bước vào được.

Thiệu Lâm gập ô rồi theo nàng tới chiếc bàn kê giữa nhà. Mấy hạt muối dưới chân bàn đã ẩm, bết lại quanh những mảnh gốm vỡ. Yên Vũ ngồi xuống xem, còn anh mở tập hồ sơ ra tìm tới phần khám nghiệm, nơi quan phủ Nam thành đã ghi: Hiện trường có dấu hiệu giằng co, bát đĩa vỡ vụn.

Nàng nhặt hai mảnh lớn ghép lại với phần đáy bát. Những mảnh nhỏ còn lại nằm rải quanh chân bàn, chưa thấy mảnh nào thuộc về một chiếc bát thứ hai. Ghế vẫn kê ngay ngắn bên cạnh, giường chiếu sát vách cũng chẳng xô lệch chút nào.

“Trước khi quan phủ tới, đã có ai thu dọn chưa?”

“Bẩm, mấy người trong làng có vào tìm, nhưng không ai dám động tới đồ đạc.” Trưởng thôn sợ mình nhớ sót, ngoảnh ra gọi thêm một người làm ruộng đang đứng ngoài hiên. “Hôm ấy A Phúc tới đầu tiên, ngươi thưa với Vương gia đi.”

Người kia bước vào thưa:

“Bẩm Vương gia, tiểu nhân vừa đẩy cửa đã thấy cái bát vỡ dưới chân bàn. Tiểu nhân sợ động vào rồi quan phủ trách tội, nên cứ để nguyên đó tới lúc nha dịch xuống.”

Yên Vũ đứng dậy bên cạnh bàn, ướm thử chỗ người ngồi có thể vướng tay áo khi vội đứng lên.

“Đứng dậy vội cũng đủ làm rơi một cái bát. Chỉ dựa vào chừng này thì chưa nói được là có giằng co.”

Nàng đi tiếp ra cửa sau. Nền đất gần bậc cửa đã bị giẫm nát thành bùn, dấu giày chồng chéo lên nhau kéo xuống tận lối ra ao. Qua mấy lượt người đi tìm, lại thêm một đêm mưa, dấu cũ dẫu có còn cũng khó mà nhận ra được.

“Chỗ này cũng có người mất tích sao?”

“Bẩm, là phu quân của thiếu phụ đang đứng ngoài sân kia. Sáng hôm qua hắn ra ao vớt bèo, chỉ một lát sau đã chỉ còn cây sào cắm dưới nước.”

Yên Vũ theo lối hẹp đi xuống ao. Thiệu Lâm vừa giương ô đã vội giữ nàng lại, vì ngay trước chân nàng là một vết nứt sâu cắt ngang lối đi. Mưa đã làm xói mòn cả mảng đất từ chỗ ấy trở xuống, kéo theo mấy bụi cỏ bên cạnh nghiêng hẳn về phía nước.

“Người đứng đây, để ta xuống.”

Anh trao ô cho nàng rồi vòng sang chỗ rễ tre bám chắc, chầm chậm bước xuống mảng đất sạt. Yên Vũ đứng trên bờ đọc lại lời khai của người vợ. Từ trong bếp, nàng ta còn nghe tiếng sào khuấy nước, tới khi chạy ra thì đã không thấy chồng mình đâu nữa. Mặt ao chỉ rộng chừng đó, bên kia lại là hàng rào tre thấp, người quanh đây hẳn đã thuộc từng lối đi, nhưng trong hồ sơ chẳng có lời khai nào nói đã trông thấy hắn rời khỏi ao.

Thiệu Lâm bước lên với bùn bám quá gấu áo, thấy nàng vẫn cầm bút đợi sẵn thì lắc đầu:

“Dưới ấy ngoài bùn ra chẳng còn gì, bờ bên kia cũng không thấy dấu vết.”

Lúc hai người trở lại, dưới mái hiên đã có thêm một ông lão lưng còng ngồi trên chiếc ghế thấp, đôi giày cỏ tháo ra hong bên cạnh vẫn còn nhỏ nước. Trưởng thôn bảo lão vừa ra bến sông hỏi tin về. Thấy Yên Vũ, lão vội xỏ chân vào đôi giày còn ướt, chống gối đứng dậy:

“Bẩm Vương gia, lão hỏi khắp lượt mấy người chèo đò, hỏi cả đám phu khuân hàng dưới bến, chẳng ai thấy những người ấy đi qua cả.”

Trưởng thôn đỡ lão ngồi xuống rồi quay sang nàng:

“Trong thôn, ngoài ruộng cũng đã tìm khắp cả. Bẩm Vương gia, người bỏ nhà mà đi thì còn có duyên cớ, đằng này…”

“Lần cuối lão gặp họ là khi nào?”

“Trương Nhị thì chính mắt lão trông thấy trưa hôm qua. Hắn vác cuốc đi ngang đây, còn chào lão một tiếng. Lão cúi nhặt bó củi, ngẩng lên đã không thấy đâu nữa. Cứ ngỡ hắn ghé vào nhà nào, ai ngờ cái cuốc lại nằm giữa đường kia…”

Lão chỉ về phía hàng rào, nơi chiếc cuốc dựng cạnh mấy bó củi khô:

“Lão nhặt về đấy chờ hắn tới lấy, đợi cả ngày cũng không thấy ai.”

“Có nghe ai gọi hắn không?”

“Bẩm Vương gia, lão không nghe ai gọi cả...”

“Còn những người khác? Trước khi mất tích, có ai dặn sẽ đi đâu hay hẹn gặp ai không?”

Trưởng thôn nhường chỗ cho mấy người đứng phía sau. Họ lần lượt kể lại, mỗi người nhớ được một chút, buổi sáng còn gặp nhau ngoài ruộng, buổi chiều hẹn sang mượn đồ, tới nơi gọi cửa mãi chẳng ai thưa. Thiệu Lâm hỏi lại ngày giờ rồi đối chiếu từng chuyện với lời khai đã chép. Cứ xong một chuyện, trưởng thôn lại trông sang Yên Vũ như chờ một lời phán định, nàng vẫn chưa có câu trả lời nào để đáp lại ông.

Người thiếu phụ ngoài sân tiến lại gần, như muốn hỏi điều gì rồi lại nhìn sang trưởng thôn. Ông thấy vậy liền đỡ lời:

“Bẩm Vương gia, dân làng chỉ mong tìm được người, nghe chuyện gì cũng ngỡ có dính dáng, thành ra lời nọ lẫn với lời kia. Mong Vương gia đừng trách...”

“Điều gì tận mắt thấy thì cứ nói với ta.”

Yên Vũ vừa khép tập hồ sơ thì đứa nhỏ đã rời bậc cửa từ lúc nào. Nó len qua mấy người lớn đứng dưới hiên, tới níu lấy vạt áo nàng.

“Cha con có về ăn cơm không?”

Cả mái hiên đang rì rầm bỗng lặng đi. Người thiếu phụ đứng gần đó quay mặt ra phía sân, câu nàng ta chưa kịp hỏi ban nãy hẳn cũng chẳng khác câu này là bao.

Yên Vũ đưa hồ sơ cho Thiệu Lâm rồi quỳ một gối xuống trước mặt nó. Vệt bùn trên trán đứa nhỏ đã khô, nàng lấy khăn lau cho nó. Nó đứng yên cho nàng lau, tay vẫn nắm chặt áo nàng không buông, lau xong lại ngước lên hỏi:

“Người có thấy cha con ở đâu không?”

Cả buổi sáng tra hỏi khắp thôn, tới lúc này nàng lại không tìm ra lời nào để đáp. Dỗ rằng cha nó sắp về thì dễ, đứa nhỏ nghe vậy sẽ thôi hỏi, rồi ngày mai lại ra bậc cửa ngồi đợi. Yên Vũ không nỡ để nó đợi theo một lời hứa của mình, chỉ nhẹ nhàng nói:

“Là ta đến muộn.”

Nó nhìn nàng một lúc như chưa hiểu đến muộn là thế nào, rồi ngoái về phía nhà mình. Người hàng xóm chạy theo dỗ nó vào thay áo, gọi tới lần thứ hai nó mới chịu buông tay. Yên Vũ đứng dậy, trên vạt lụa vẫn còn in mấy dấu ngón tay bé xíu. Nàng hỏi trưởng thôn có nhà nào trông nom được đứa nhỏ trong lúc cha nó chưa về.

“Nhà Lưu đại nương ở đầu thôn lúc nào cũng có người, để lão sang thưa một tiếng.”

“Vậy nhờ lão thu xếp.”

Thiệu Lâm dặn thêm chuyện cơm nước cho đứa nhỏ, rồi hỏi trong những nhà có người mất tích còn nhà nào cần giúp đỡ. Trưởng thôn kể tên từng nhà, người trong thôn cũng mỗi người nhận một phần việc. Đợi có người sang đón đứa nhỏ đi rồi, Yên Vũ mới cùng anh rời khỏi đó. Lúc qua cổng, nàng còn dặn những căn nhà đã khám cứ để nguyên đồ đạc, có tin gì phải báo ngay về vương phủ.

Dưới hiên, người hàng xóm còn đang lục tìm áo khô cho đứa nhỏ. Nó đứng nghe một lúc rồi lầm lũi đi theo bờ tường trở về gian bếp nhà mình. Chiếc vung vẫn tựa bên miệng nồi, hở ra một khoảng. Nó rướn tay không tới, đành kéo chiếc ghế nhỏ dưới kệ bếp ra, trèo lên rồi dùng cả hai tay nâng vung đậy lại cho ngay ngắn, vì cha nó vẫn dặn cơm phải đậy vung thì mới giữ được ấm. Đậy xong, nó ngồi thụp xuống chiếc ghế cũ, hai tay ôm lấy đầu gối, cạnh chiếc bát con vẫn úp trên kệ.

Ngoài sân có tiếng người gọi nó sang ăn cơm. Đứa nhỏ nhìn đốm lửa tàn dưới bếp, miệng lẩm nhẩm tiếng được tiếng mất theo nhịp điệu của một bài đồng dao cũ:

Qua đồng, qua bãi, qua sông,

Chớ nhặt hòn đá nằm không giữa dòng.

Người đi quên nẻo quên đồng,

Chỉ con nước nhớ một dòng trăng xưa.

Trăng xưa còn đợi gió đưa,

Mây che lối cũ, người chưa trở về.

Ngủ đi con, ngủ cho tròn,

Đừng theo tiếng nước đầu non cuối ghềnh.


 Trên đường về kinh, Thiệu Lâm rút riêng một phần hồ sơ đưa sang cho Yên Vũ:

“Còn người ở nhà Tống Thanh Hà, chúng ta chưa gặp.”

Nàng mở tới phần lời khai. Lúc quan phủ tới, người nô lệ ấy vẫn ở trong nhà. Hắn khai khi ấy mình ở ngoài sân còn chủ nhân vào phòng, đợi một lúc không nghe động tĩnh gì hắn mới vào tìm thì đã không thấy nàng đâu nữa.

“Họ đã tra ra được gì?” Yên Vũ vừa đọc vừa hỏi.

“Viết cả trong đó, người đọc rồi sẽ thấy. Quan phủ giữ hắn ba ngày, giấy thì tốn mà lời khai chẳng thêm được dòng nào.”

Đọc hết trang, Yên Vũ nói ngay:

“Dùng truyền tống trận sang phường Tây. Ta muốn tới nhà người này.”

“Còn một quãng ngắn thôi, đi xe vẫn kịp.” Thiệu Lâm đặt mấy tờ hồ sơ còn lại xuống bên nàng. “Ngày nào người cũng phải dùng thuốc, xe đã có sẵn, cần gì phải hao thêm linh lực.”

“Ta chịu được.”

“Vậy càng nên giữ sức. Người còn định tra án tới tối kia mà?”

Anh đã nhắc tới thuốc thì nàng biết có cãi thêm cũng chẳng được gì, đành thuận theo bước lên chiếc xe ngựa đã chờ sẵn ở cổng Nam thành. Thiệu Lâm dặn phu xe đổi đường, bánh xe vừa rẽ ở đầu phố thì nàng cũng đã đọc tới những trang còn lại.

Xe dừng trước căn nhà hai tầng Tống Thanh Hà từng ở, gã nha dịch giữ chìa khóa đã đứng đợi sẵn, vừa mở cửa vừa bẩm:

“Bẩm Vương gia, đây là nhà người mất tích thứ mười ba. Đồ đạc đã kê khai đủ vào sổ, từ lúc niêm phong tới giờ chưa chuyển đi thứ gì.”

“Tống Thanh Hà,” Yên Vũ nhắc lại. “Người mất tích có tên. Ta không muốn cuối cùng chỉ còn lại con số.”

Gã vội vâng dạ rồi dâng bản kê khai lên. Yên Vũ hỏi chỗ ở của chủ nhà và người nô lệ xong thì bảo gã lui ra đợi dưới hiên.

Bên cửa sổ kê một chiếc bàn ghi sổ hàng, trên mặt còn một xấp đơn mua lụa chặn dưới thỏi chặn giấy. Nàng xem qua mấy tờ, thấy có cả ngày hẹn giao hàng cho khách, vài món vẫn chưa kịp gạch tên. Trong ngăn kéo còn ít tiền lẻ, nằm cạnh tờ linh khế mua nô lệ lập từ hơn ba tháng trước.

Thiệu Lâm đối chiếu ngày tháng với bản chép mang theo. Thanh Hà mất tích đã nửa tháng, năm nay hai mươi bốn tuổi, chưa thành thân, mua người nô lệ kia ba tháng trước khi mất tích. Hai mươi bốn năm của một người, quan phủ chép lại được chừng ấy dòng; mấy cuộn lụa còn trong kho thì cuộn nào cũng được ghi riêng một dòng, đủ cả màu vải lẫn số thước. Yên Vũ đọc tới đó rồi giở sang trang khác.

Trên bàn còn một tờ giấy viết dở dang, nét chữ thanh mảnh, viết tới giữa trang thì dừng lại. Yên Vũ nhấc tờ giấy khỏi mấy cánh lan khô rụng từ chiếc bình bên cạnh, xem cả mặt sau rồi mới đặt lại chỗ cũ. Người viết những dòng này hẳn đã định quay lại viết tiếp.

“Gian bếp ở phía này,” Thiệu Lâm nói.

Chiếc bàn ăn kê gần cửa, trên chỉ có một chiếc bát gốm thô, bên cạnh lại đặt tới hai đôi đũa tre. Yên Vũ xem qua rồi mở tủ bếp. Bên trong có một chiếc chén uống nước đã cũ, miệng chén rạn chân chim đôi chỗ, còn chiếc bên cạnh thì vẫn mới, lòng chén trắng tinh chưa có vết ố nào. Nàng đặt chiếc chén về chỗ cũ mà không nói gì. Khoảng im lặng đầu tiên rơi xuống, mang theo một sự lệch pha mơ hồ trong nếp sống vốn dĩ phải rạch ròi tôn ti của một chủ một tớ.

“Trong nhà còn ai khác ở không?”

“Hàng xóm khai chỉ có nàng ấy và người nô lệ.”

Nàng đóng tủ bếp rồi cùng anh ra hành lang. Phòng người nô lệ nằm ở cuối dãy, cửa khép hờ. Trong phòng có tấm chăn bông dày xếp gọn ở đầu giường, áo khoác treo trên giá, bàn ghế gỗ thông kê sát vách. Yên Vũ kéo ngăn bàn ra thì thấy bên trong trống trơn, trên mặt bàn cũng chỉ có một chiếc nghiên mực đã khô.

So với mấy căn nhà ngoài thôn ban sáng, chỗ này giống một gian phòng vừa được dọn sẵn chờ người tới hơn là nơi đã có người sống suốt ba tháng.

“Lúc đưa người đi, họ có cho hắn mang theo đồ đạc không?”

Thiệu Lâm đón lấy bản kê khai, xem tiếp tới phần bàn giao:

“Không ghi. Trong này chỉ kê tài sản của chủ nhà.”

Ở gian ngoài, giấy viết dở còn để lẫn với sổ hàng, tiền lẻ vẫn nằm trong ngăn kéo, còn trên chiếc bàn này đến một mẩu giấy thừa cũng không có. Yên Vũ đẩy ngăn bàn vào:

“Căn phòng này trống quá.”

Nàng mở lại phần lời khai cũ, chỉ cho Thiệu Lâm đoạn mình đã để ý lúc ngồi trên xe. Viên lục sự hỏi chủ nhân đối đãi với hắn ra sao, hắn đáp: “Nàng từng đọc sách.” Người hỏi nhắc lại câu hỏi thì hắn vẫn nói không nhớ. Hỏi Thanh Hà thích ăn gì, hay lui tới những đâu, hắn lại đáp không biết. Tới chỗ hỏi ba tháng qua hắn sống cùng nàng thế nào thì phần ghi lời đáp bỏ trống.

Ba tháng ở chung một mái nhà, điều hắn còn giữ lại được về người chủ của mình là một câu ấy. Yên Vũ nhớ tới tờ giấy viết dở ở gian ngoài, nét chữ thanh mảnh dừng lại giữa trang, rồi đọc hết trang sau và quay lại đọc từ đầu hồ sơ. Suốt mấy lượt hỏi, người lấy lời khai chỉ gọi hắn là “ngươi”, những dòng ghi bên lề cũng không đề tên.

“Hắn tên gì?” Yên Vũ chợt quay sang hỏi.

Thiệu Lâm tìm ra tờ trích lục danh tính kẹp trong hồ sơ Hình bộ. Giữa trang có một ô đề hai chữ Tên gọi, bên trong bỏ trắng. Anh đưa nàng xem rồi hỏi:

“Trên linh khế mua bán có ghi không?”

Yên Vũ mang hồ sơ trở ra gian ngoài, lấy tờ khế còn để cạnh tiền lẻ trong ngăn bàn đặt bên tờ trích lục. Tên người bán, tên Tống Thanh Hà cùng ngày lập khế đều đủ cả, riêng người được mua chỉ ghi vỏn vẹn: một nô lệ. Ban nãy nàng vừa bắt gã nha dịch gọi Thanh Hà bằng tên, giờ tới người này thì đến một cái tên để gọi cũng không có.

“Có khi người lập khế chỉ chép theo giấy cũ,” Thiệu Lâm xem cả mặt sau tờ linh khế rồi nói. “Phải xem những lần chuyển chủ trước mới biết được.”

Yên Vũ kẹp tờ trích lục và tờ linh khế vào xấp hồ sơ. Nàng nhớ tới những người ngoài thôn sáng nay, ai cũng chỉ kể được lần cuối gặp nhau ngoài đường hay bên ao, còn người này đã sống cùng Thanh Hà suốt ba tháng.

“Ta muốn gặp hắn.”

“Quan phủ đã hỏi ba ngày,” Thiệu Lâm nói. “Nếu hắn thật sự không nhớ gì, e rằng người cũng khó hỏi thêm.”

“Phải gặp mới biết hắn còn nhớ được tới đâu.”

“Hoặc hắn nhớ cả, có điều không muốn nói. Ba ngày ngồi trước quan phủ mà lời khai vẫn trắng như thế, ta nghĩ không phải chỉ vì quên.”

“Vậy chúng ta lại càng phải gặp.”


Về tới phủ, Yên Vũ chỉ định thay áo rồi lại đi ngay nên xe vẫn để đợi ngoài cổng. Người hầu mang áo mới vào thư phòng rồi đỡ lấy chiếc áo nàng vừa cởi ra, mấy dấu ngón tay bé xíu trên vạt lụa đã khô thành màu đất nhạt. Theo sau là một thị nữ bưng đĩa điểm tâm:

“Bẩm Vương gia, Nhị công chúa đã chuẩn bị từ sáng, còn dặn phải làm bớt ngọt để Vương gia dùng được thêm vài miếng.”

Yên Vũ vừa mở lời khai ra, nghe vậy liền dọn chỗ trên bàn cho đĩa bánh. Lần trước Tịnh Dao ngồi ăn cùng, nàng chỉ thuận miệng nói mình không thích đồ ngọt, không ngờ muội ấy vẫn còn nhớ. Bánh quả thật nhạt hơn mọi khi, nàng ăn hết một miếng rồi cầm thêm miếng nữa. Người hầu nhân lúc ấy bẩm rằng thuốc hôm nay đã hâm xong, nàng ừ một tiếng cho qua, mắt vẫn không rời hồ sơ. Đọc chưa hết trang thì Thiệu Lâm đã bước vào, nhận lấy khay thuốc đặt ngay cạnh đĩa bánh:

“Hôm nay có thêm cam thảo.”

Nghe giọng ấy, Yên Vũ biết mình không đọc thêm được chữ nào nữa nên đành đưa tay nhận chén. Thuốc vẫn đắng như mọi hôm, mới uống một ngụm nàng đã nhíu mày hỏi cam thảo nằm ở chỗ nào, làm Thiệu Lâm bật cười:

“Lương dược khổ khẩu. Ta có bảo là hết đắng đâu?”

Biết không tránh được, nàng nhắm mắt uống cạn. Đặt chén xuống, thấy ống quốc thư mạ vàng nằm cạnh hồ sơ, nàng mới nhớ sáng nay lúc mình bước ra giữa điện, Thiệu Lâm vẫn đứng bên cột. Anh đã xin phụ hoàng cho nàng nghỉ một ngày, còn nàng thì tới một bữa cơm trong phủ cũng định để sau.

“A Lâm, nếu thật phải gả sang Càn Vũ…” Yên Vũ chợt nói, “có lẽ ngươi sẽ nhẹ nhõm hơn, khỏi phải ngày nào cũng ép ta uống thuốc.”

“Người sang đó thì bệnh cũ cũng chịu ở lại Minh Nguyệt sao?”

Yên Vũ bật cười vì cái giọng chẳng kiêng nể ai ấy. Thiệu Lâm đưa chén không cho người hầu mang ra, đợi tới khi trong phòng chỉ còn hai người mới rút tờ quốc thư khỏi ống:

“Người nhận đi thay Nhị công chúa, ta hiểu. Nhưng chuyến này nếu chỉ lo chuyện hôn sự thì ta nghĩ chưa đủ.”

Bức thư được trải ra giữa hai người. Yên Vũ đã nghe sứ giả đọc nó trước triều, những lời đề nghị bang giao và những câu xưng tụng đức hạnh vương nữ đều hết mực đúng phép. Đọc tới chỗ nhắc thái tử Vũ Khải Dương, nàng tra ngược lên tìm tên người được cầu thân, trong thư lại không hề có.

“Càn Vũ không chọn ai cụ thể,” Thiệu Lâm nói. “Không đặt điều kiện, cũng chẳng giục hồi âm. Cầu thân thế này trông giống một cái cớ hơn.”

“Nói tiếp đi.”

“Nếu thật lòng muốn liên hôn thì gặp mặt chẳng có gì lạ, lạ là họ lại chọn Thanh Sa.”

Ngoài hiên, nước mưa vẫn nhỏ từng giọt xuống thềm. Trong điện sáng nay, các quan tranh nhau bàn ai nên đi, tới lúc phụ hoàng sắp gọi tên Tịnh Dao thì nàng chỉ còn nghĩ được tới việc bước ra. Từ nhỏ nàng đã nghe quá nhiều lần rằng Chu Huyền Vương phải mạnh hơn người khác một chút, phải gánh thêm một chút, càng không được để người ngoài thấy mình yếu đi.

Những lời ấy chưa bao giờ khiến nàng oán trách phụ hoàng. Nếu đổi lại là nàng ngồi trên ngai, có lẽ nàng cũng sẽ chọn như thế, vì sách xưa đã dạy lợi khí của một nước không thể đem phô cho người ngoài, huống hồ là đem gửi sang nước khác. Còn người suýt bị gọi tên hôm nay mới mười bảy tuổi, chưa từng rời khỏi kinh thành, mùa đông nào cũng phải nằm trong phòng kín suốt ba tháng, ngắm tuyết qua lớp giấy dán cửa sổ. Yên Vũ nhìn đĩa bánh muội ấy gửi sang rồi nhìn ống quốc thư mạ vàng bên cạnh, nghĩ dẫu phải đi thay bao nhiêu lần nàng cũng không tiếc.

“Ta chỉ nhận đi gặp, chưa nói sẽ nhận lời cầu thân,” nàng nói.

“Ta biết. Chỉ e tới đó rồi, những người đang chờ người lại muốn hiểu khác.” Thiệu Lâm nhìn nàng. “Người vẫn muốn đi sao?”

“Ta muốn biết thứ gì đáng để Càn Vũ phải đi một vòng lớn như thế.”

“Vậy người cứ dồn tâm trí vào chuyện ấy, nhớ ăn cho đủ bữa. Người nô lệ nhà Tống Thanh Hà, để ta đi gặp trước.”

Những chỗ bỏ trắng trong lời khai, nàng đã cùng anh xem hết ở nhà Thanh Hà. Dù muốn dù không, Yên Vũ cũng phải nhận là Thiệu Lâm nói đúng, lúc này còn ôm cùng lúc quá nhiều việc thì chẳng việc nào xong cho trọn vẹn. Nàng lấy lệnh bài ngọc đen trao cho anh cùng phần hồ sơ:

“Cả những lần chuyển chủ trước nữa. Có tin gì thì về báo ta.”

“Ta sẽ hỏi.”

Người hầu cầm ô đã chờ sẵn ngoài hiên. Yên Vũ cho xe đưa Thiệu Lâm đi rồi giữ quản gia lại thu xếp việc tiếp sứ thần. Lão vừa hỏi tới cơm chiều, nàng đã gật đầu cho qua như mọi lần, bữa của mình thế nào cũng được; tới khi lão ra gần tới cửa, nàng mới gọi với theo:

“Để phần cho A Lâm.”


 Thiệu Lâm tới ngục lúc bữa cơm chiều mới chia được một lượt. Qua cánh cửa hẹp, anh gặp viên cai ngục già đang ôm chồng bát trở ra, sau lưng lão còn có người gọi với theo nhờ nhắn về nhà lấy thêm chăn.

Vừa trông thấy lệnh bài Chu Huyền Vương phủ, viên cai ngục đã vội giao chồng bát cho người bên cạnh rồi khom mình mời anh vào gian trực. Lão dọn tấm áo ướt vắt trên ghế để nhường chỗ, đợi anh ngồi yên rồi mới chắp tay hỏi có việc gì sai bảo.

“Người nô lệ ở nhà Tống Thanh Hà giờ ở đâu?” Thiệu Lâm hỏi.

“Bẩm Khương đại nhân, hắn đã bị chuyển đi hơn mười ngày rồi.”

“Chuyển đi đâu?”

“Bẩm, sang chợ ngầm Nam thành ạ. Hỏi ba ngày không ra gì, nhà họ Tống lại không còn ai thân thích, bên trên có lệnh đưa đi chờ thanh lý. Đại nhân muốn gặp thì e phải tới chợ ngầm…”

Sổ giao nhận được đem tới. Thiệu Lâm tìm đúng ngày, xem tên người lĩnh nhận và nơi đưa đến. Giấy tờ chuyển chủ cũ cũng đã giao đi cả, ở đây không còn gì để tra nữa.

“Đã qua phiên bán chưa?”

“Bẩm, chưa ạ. Tối ngày kia mới mở phiên cuối tháng.”

Anh vừa trả sổ thì một người coi ngục khác trở ra, đặt một chiếc bát còn đầy cạnh thùng cơm. Cơm bên trên vẫn nguyên, rau cũng chưa ai động đũa. Làm thầy thuốc bao năm, trông thấy một bát cơm bị bỏ nguyên như thế, việc đầu tiên anh nghĩ tới là người trong kia đang bệnh.

“Trong này có người ốm à?”

“Không phải đâu đại nhân. Thỉnh thoảng lại có kẻ chê cơm trong này khô cứng ấy mà, cơm nhà mang vào thì ăn sạch, có chê gì đâu.” Lão đưa bát cho gã coi ngục đứng cạnh. “Người nô lệ nhà họ Tống kia cũng bỏ cơm. Hôm đầu tiểu nhân còn tưởng hắn sợ có độc, hôm sau đổi bát khác, lấy cơm nóng cho, vậy mà mang ra vẫn còn nguyên.”

“Cả ba ngày đều thế à?”

“Vâng. Đêm đi tuần qua cũng chỉ thấy hắn ngồi ở góc buồng giam, hỏi cần gì thì không mở miệng câu nào. Tiểu nhân chưa gặp ai lạ như thế…”

“Hắn có nhờ lão chuyển lời cho ai không?”

“Cũng không ạ. Tiểu nhân còn tưởng hắn giận chuyện bị giữ lại nên nhịn ăn để đòi gì đó. Canh ngục hai mươi năm nay, ai vào đây mà chẳng xin một thứ? Có kẻ biết mình không được tha rồi cũng chỉ mong gửi được một lời về nhà.”

Từ trong lối đi lại có người gọi xin thêm cơm. Viên cai ngục phất tay bảo người bên cạnh đi lấy, rồi nói nốt câu còn dở dang:

“Riêng cái tên nô lệ ấy thì chẳng xin gì cả.”

Bình luận đoạn văn

Bình luận

Trả lời bình luận

Chỉnh sửa bình luận

Thiết lập văn bản

Xem trước

Nội dung sẽ hiển thị như thế này

Chọn font chữ

Cỡ chữ

12px 30px