Đọc to (tiếng Việt) Nhấn phát để bắt đầu
Lục bình trôi qua mùa nắng

CHƯƠNG 3: BÁNH BAO BÀ SÁU

Có một sự thật hiển nhiên mà đứa con nít chín tuổi nào ở làng này cũng biết, nếu bạn đang ôm một bụng tức tối với đứa bạn thân, cách giải tỏa nhanh nhất không phải là ngồi khóc một mình, mà là chạy ù ra chợ tìm cái gì đó thật thơm để hít hà cho bõ ghét.

Mùi chợ làng bao giờ cũng đón bạn từ rất xa. Đó là một mớ âm thanh và mùi vị quen thuộc của buổi chợ trưa miền sông nước. Mùi tanh của thau cá mè dội nước rột rẹt. Mùi mỡ hành phi cháy sém cạnh lò chuối nướng. Làn khói trấu un* vỏ bưởi lờ lững xua muỗi dưới chân mấy hàng sạp.

Chợ họp chồm hổm dọc theo một khúc sông uốn cong. Dưới bến, mấy chiếc ghe tam bản* chở dưa hấu, chuối sứ neo đậu san sát. Mạn ghe cọ vào nhau dập dềnh theo từng đợt sóng đục phù sa. Tiếng dao bổ dừa cồm cộp trên thớt gỗ dội vào vách tôn rộn rã. Tiếng mấy bà, mấy cô xóm trong mặc cả từng mớ rau muống, bó hành ồn ã cả một góc chợ.

Lòng chợ đông nghịt, nón lá nhấp nhô trước mặt, người nọ chen chúc người kia. Bạn len vào giữa lối đi hẹp. Mấy cô gánh hàng rong quẩy đôi đòn gánh kĩu kịt đi ngang, bạn phải co ro nép sát người vào sọt bắp cải để khỏi bị va quẹt. Chiếc dép xanh của mẹ dưới chân phải cứ chốc chốc lại tuột gót, quẹt một vệt dài lẹt xẹt trên mặt đất đỏ.

Bạn hếch mũi hít một hơi dài. Chiếc xửng nhôm hấp bánh bao của bà Sáu kia rồi, nó ở ngay góc chợ, nép dưới bóng mát sum suê của cây me già.

Chỗ bà Sáu ngồi chỉ vừa một cái chõng* tre con kê sát mép đường. Trên mặt chõng đặt cái bếp dầu hỏa đỏ lòm. Chiếc xửng nhôm ba tầng to tướng đặt bên trên sôi sùng sục, hai bên quai cầm đã cháy đen thui vì khói. Nắp vung nhôm hé mở một mép cho hơi nước bốc lên nghi ngút, cuộn theo mùi bột mì ủ men ngọt dịu, nồng mùi tiêu sọ xay lẫn trong nhân thịt nấm mèo* và củ sắn.

Bạn bước lại sát mép chõng tre, đưa tay ôm bụng.

Bà Sáu trạc ngoài sáu mươi, lưng còng rạp xuống, hai gò má nhăn nheo như vỏ cây trâm bầu. Cặp kính lão trễ xuống tận chóp mũi, miệng bỏm bẻm nhai miếng trầu đỏ. Đôi bàn tay gầy guộc đầy đồi mồi của bà đang cầm chiếc kẹp tre thoăn thoắt gắp bánh từ xửng ra cái mẹt* lót lá chuối tươi. Chiếc bánh trắng muốt, tròn vo, chính giữa chấm một nốt phẩm đỏ au như đồng tiền con nít.

Bạn bám mấy ngón tay vào gióng tre của mặt chõng, rướn người lên.

“Bà Sáu!”

Đôi kẹp tre trên tay bà Sáu vẫn gắp chiếc bánh thứ hai đặt sang cạnh mép mẹt lá chuối. Khói nóng từ xửng phả ra trắng đục trước mặt bà.

Chắc tai bà bị cái máy xay dừa nạo bên cạnh làm điếc đặc rồi! Cái máy nổ xình xịch từng chặp, tiếng xích sắt quay rào rào đinh tai nhức óc thế kia, người già lãng tai như bà nghe sao thấu.

Nghĩ vậy, bạn hít một hơi thật sâu, dồn hết sức hét to qua làn khói.

“Bà Sáu ơi! Bữa nay con hổng có tiền mang theo!”

Bạn vừa nói vừa miết mạnh ngón chân cái bên chiếc dép đỏ mòn vẹt xuống rãnh đất dưới chân.

“Bà cho con chịu* một cái bánh nhỏ thôi nghen! Chút nữa mẹ con cấy lúa xong ghé chợ ngang đây, mẹ trả tiền cho bà liền!”

Bà Sáu bỗng khựng tay lại. Đôi kẹp tre kẹp hờ vành bánh chợt buông lỏng ra, làm chiếc bánh bao rơi đánh bịch xuống mặt lá chuối.

Bà ngước mắt lên. Nhưng cặp kính lão của bà lại ngó thẳng về khoảng trống tít ngoài cổng đình, xuyên qua đỉnh đầu bạn như thể đang canh chừng bóng ai đằng xa. Ánh mắt bà dừng lại ở đó rất lâu, không chớp.

Gió ngoài sông thổi thốc vào lòng chợ. Mấy cành me trên đầu khẽ rùng mình, trút một vạt lá nhỏ li ti xuống mặt chõng tre.

Bà Sáu rụt cổ lại, đôi vai khẽ run lên một cái, tay đưa lên xoa vội sau gáy.

“Trời đất... trưa trờ trưa trật mà ớn lạnh sống lưng...”

Bà lẩm bẩm một mình, giọng khàn khàn như tro bếp.

Bà ngó nghiêng chung quanh một vòng, từ rổ ớt hiểm đỏ rực của bà bán rau đối diện sang tới mấy xâu bắp nếp treo toòng teng mé bờ rào. Rồi bà với tay lấy chiếc quạt nan rách mép để cạnh ấm chè tươi, phẩy loạn xạ mấy cái xua đám bụi trần ngay trước mặt chõng.

Ngọn gió từ cái quạt nan phẩy trúng ngực bạn, nghe nồng mùi tre phơi cháy nắng.

Bà già này lãng tai thiệt rồi, mắt mũi kèm nhem có thấy ai đứng trước mặt đâu! Bạn nhón gót chân lên, nhoài hẳn nửa người qua mép chõng tre, kê sát mặt vào mép xửng nhôm nghi ngút khói.

“Bà Sáu! Con bé con mẹ Năm ngoài bến đò nè! Cho con lấy trước một cái bánh bao nha bà!”

Bà Sáu vẫn ngồi im thin thít. Tay bà dừng hẳn chiếc quạt nan, đôi mắt dán chặt vào chiếc chén mẻ đựng tăm tre trên mặt chõng. Bà chép miệng một cái rõ to, lủi thủi kéo góc chiếc khăn rằn trên vai xuống quẹt vội giọt mồ hôi đang rịn nơi sống mũi.

Bạn đứng ngẩn người. Cơn bực mình ban sáng với con Lan trào ngược trở lại, xen lẫn nỗi tủi thân cồn cào. Cái làng này hôm nay mắc chứng gì kỳ cục vậy không biết? Mẹ thì đứng trơ trơ dòm nước sông, con Lan làm mặt lạnh điếc lác, giờ tới bà Sáu cũng ngó lơ như bạn là người vô hình!

Bụng bạn lại réo lên một tràng dài. Chiếc bánh bao tròn căng béo múp nằm ngay trên mép rổ lá chuối, nốt phẩm đỏ tròn xoe như đang mời gọi. Vỏ bánh mịn màng bốc hơi nghi ngút, mùi thịt xào tiêu ngòn ngọt xộc thẳng vào mũi làm bạn ứa cả nước miếng.

Ở xóm, con nít đi chợ giùm người lớn vẫn hay bốc trước cái kẹo cắn nửa trái ổi, lát nữa mẹ ra trả tiền thì có mất mát đồng nào đâu! Bạn thầm tính trong bụng rồi nhanh nhảu thò bàn tay nhỏ xíu ra, định bụng bốc lấy một góc chiếc bánh nóng hổi.

Nào ngờ, lúc ngón tay bạn vừa vươn tới sát mép rổ, bà Sáu đột ngột chồm người tới! Chiếc khăn rằn sọc vuông trên tay bà vung ra, phủ chụp kín mít lên cả rổ bánh bao.

Góc khăn rằn bay vun vút, sượt qua sát mu bàn tay bạn.

Bạn giật nảy mình, vội vàng rụt tay lại.

Chiếc bánh đã lọt thỏm dưới lớp vải rằn xám xịt.

“Dẹp... dẹp hàng sớm cho rồi!”

Bà Sáu lẩm bẩm càu nhàu, hai bàn tay luống cuống vơ đống đũa tre trút đánh rột vào ống bơ sữa bò.

“Gom về cúng vái ông Địa nén nhang chớ thấy hổng êm... Động quá chừng...”

Bà với lấy cái nắp vung nhôm đậy sập lên miệng chiếc xửng, va vào nhau đánh “choang” một tiếng chói tai.

Khói ngưng bặt. Mùi bột mì thơm lựng bị gió xua đi mất tăm, chỉ còn mùi dầu hỏa hăng nồng xộc thẳng vào cuống họng.

Bà Sáu còng lưng cúi rạp người xuống, run rẩy kéo cái thùng gỗ dưới gầm chõng tre ra, lúi húi dọn dẹp cơi trầu* hũ mỡ. Mặt bà tái mét, hai đầu gối run lập cập. Bà cài cái then cửa thùng nghe “cạch” một tiếng mà chẳng buồn ngẩng lên ngó lấy nửa vòng chợ.

Bạn đứng chết trân, lùi vội ra sau hai bước, mặt nóng bừng vì xấu hổ.

Chết rồi, chắc tại bạn hư quá! Người ta buôn bán đầu ngày đang lúc ế ẩm, mình chưa có tiền mà cứ đứng lấp ló đòi ăn chịu, lại còn tính táy máy thò tay bốc trộm bánh lúc người lớn chưa cho phép! Mẹ dặn trăm lần rồi, buôn bán kỵ nhất đứa nào đứng ám vía, táy máy làm hư hàng thì người ta giận là phải. Thảo nào bà Sáu bực mình tới mức run cả tay chân, dẹp tiệm ngang xương như vậy!

Bạn bặm môi, hai tai đỏ ửng lên, lí nhí thanh minh.

“Thôi... con hổng lấy nữa đâu bà ơi...”

Nhưng bà Sáu vẫn lúi húi sau tấm phên tre, tiếng then cài lách cách át mất lời bạn.

Bạn tiu nghỉu quay lưng, lủi thủi bước ra khỏi bóng râm cây me già. Cái bụng vẫn réo nho nhỏ, nhưng chân bạn chẳng buồn nán lại nữa. Bạn đưa mu bàn tay quẹt ngang mũi một cái, cúi gằm mặt bước thẳng ra khỏi cổng chợ.

Bàn chân lọt thỏm trong chiếc dép xanh to bè, cứ lết đi nặng trịch trên nền đất đỏ đang nẻ toác ra từng mảng cong queo như vảy cá. Lúc này bạn chỉ muốn đi một mạch về nhà. Bạn muốn chạy ra mép nước kéo tay áo mẹ, méch chuyện sáng nay cái Lan vô cớ giận hờn, rồi méch cả chuyện bạn lỡ tay làm bà Sáu giận dỗi dẹp hàng. Mẹ thể nào cũng nhéo tai bạn mắng yêu là đồ táy máy háu ăn, rồi lục trong chạn bát cho bạn củ khoai mì luộc chấm muối mè còn sót lại từ sáng sớm.

Mặt trời đứng ngọ dội nắng chang chang xuống con đường vắng ngắt. Bạn cứ thế cắm cúi bước đi, lầm lũi đội cái nắng rát da rát thịt băng qua từng vạt đất hầm hập hơi nóng về nhà...

CHÚ THÍCH:

*Chõng: Giường nhỏ, thấp và hẹp đóng bằng tre hoặc nứa, người quê hay kê ngoài hiên hay góc chợ để ngồi nghỉ, bày biện hàng xén.

*Nấm mèo: Mộc nhĩ; loại nấm mọc trên thân gỗ mục, tai nấm dai giòn, ngâm nở xắt vụn làm nhân bánh bao hoặc chả giò.

*Mẹt: Đồ đan bằng nan tre vót nhẵn, dáng dẹt và nông lòng, có cạp tròn chắc chắn, dùng để bưng bê hoặc bày biện thức ăn bán ở chợ.

*Ăn chịu: Mua hàng nhưng khất nợ lại, hứa sẽ trả tiền vào một dịp khác sau đó.

*Un (hun): Đốt ủ cho ngún cháy từ từ, không bùng lên thành ngọn lửa để tạo ra nhiều khói. Người dân quê thường un trấu, lá cây ẩm, hoặc vỏ bưởi để lấy khói xua đuổi muỗi và côn trùng.

*Ghe tam bản: Còn gọi là xuồng ba lá/ghe ba lá, loại thuyền nhỏ rất phổ biến ở vùng sông nước miền Nam. Ban đầu, ghe thường được đóng ghép từ ba tấm ván gỗ (một tấm làm đáy và hai tấm làm mạn hai bên), dùng để đi lại hoặc chở hàng hóa, nông sản trên sông rạch.

*Cơi trầu: Vật dụng nhỏ (thường làm bằng gỗ, đồng hoặc đan bằng tre/mây) có nắp đậy, bên trong chia ngăn dùng để đựng trầu, cau, hộp vôi, dao bổ cau... Đây là vật bất ly thân của các bà, các cụ ăn trầu ngày xưa. 

*Phên tre (hoặc tấm phên tre): Tấm mành được đan mộc mạc bằng các nan tre, lạt tre chẻ mỏng đan chéo vào nhau. Ở các vùng quê xưa, phên tre thường được dựng lên để làm vách ngăn, làm cửa che chắn tạm thời, che nắng che mưa hoặc lót để phơi đồ (như phơi cá, phơi bánh tráng...). 

Bình luận đoạn văn

Bình luận

Trả lời bình luận

Chỉnh sửa bình luận

Thiết lập văn bản

Xem trước

Nội dung sẽ hiển thị như thế này

Chọn font chữ

Cỡ chữ

12px 30px