Xứ Đồng Hoang
Cảnh báo
Quãng đường tới đó xa lắm. Xa hơn nhiều so với tôi vẫn tưởng như hồi còn bé. Khi bắt đầu lên xe khởi hành từ học viện bóng đá - cũng là chỗ ở thường xuyên của tôi - thì tôi lo lắng kinh khủng, không thể nào không rời mắt khỏi mặt đường, chờ đợi cho tới khi có thể bắt gặp ranh giới mờ ảo đưa tôi đến với thế giới xa xôi mà tôi từng đặt chân tới từ cái thuở còn say mê thả diều và đi chân trần trên thảm cỏ ấy.
Nhưng xe đi được một lúc, tôi bắt đầu mơ màng dần, và thả mình đưa theo tiếng xe hơi ù ù chạy, tôi thiếp đi lúc nào không hay.
Trong cơn mơ, tôi lại thấy mình ở nơi ấy. Đã lâu lắm rồi, tôi mới được gặp lại nó.
Xứ Đồng Hoang.
...
Có một xứ sở gọi là đồng hoang
Bát ngát mây đưa và gió lượn
Cùng hai sắc xanh hòa với đất
Với căn nhà nhỏ đằng xa xa.
...
“Này, dậy đi, đến nơi rồi.”
Tôi khẽ mở mắt, rồi nhìn về phía giọng nói phát ra ấy. Là mẹ tôi. Bà ấy cầm lái từ đầu tới giờ.
“Mấy giờ rồi mẹ...” Nói rồi tôi lại ngáp dài.
“Mười giờ bốn ba. Trưa rồi đấy. Nhanh nhanh ra sau xe mang mấy đồ vào nhà để còn phải làm cho xong công chuyện.” Bà nói với một tông giọng đều đều, đôi mắt gợn nếp nhăn nhìn thẳng vào tôi. Dường như ngoài khuôn miệng ra thì bà không có sự thay đổi nào trên gương mặt cả.
Vậy là tôi bước ra ngoài.
Ở trong xe, lúc tôi vừa tỉnh dậy, thì tôi cũng thấy mang máng được khung cảnh trước mắt. Nhưng thực sự thì không có gì ở đây làm tôi ngạc nhiên hay sợ hãi cho lắm. Chỉ là một căn nhà hai tầng với cấu trúc bốn mặt đối xứng đơn giản nằm ngay ngắn trên đồng cỏ bằng phẳng xanh tươi thôi mà.
Ngôi nhà vẫn như thế, vẫn một đống vết nứt tường và cái mái tôn sơn đỏ rỉ sét ấy, và vẫn cố chấp đứng vững mặc cho gió dần bào mòn đi những góc cạnh phi tự nhiên trên một thảo nguyên mênh mông tới tận chân trời.
Ngay cả bây giờ, gió vẫn khẽ khàng thổi.
Vẫn là cảm giác đó. Yên bình và hoài niệm đến kỳ lạ.
Bỗng tôi ngửi thấy mùi khói thuốc lá thoảng qua mũi. Quay đầu lại, tôi thấy ngay một người đàn ông, dáng người cao gầy, trông chỉ kém tuổi ông nội tôi đôi chút, miệng vừa giữ điếu thuốc, tay vừa bê đồ trong xe mang vào nhà.
Bắt gặp cái liếc mắt của mẹ tôi, tôi mới chợt nhớ ra việc mình phải làm và vội vàng mang nốt cái va li của mình vào bên trong.
Ông nội tôi vừa mất. Đó là lý do hai mẹ con tôi tới đây. Chỉ hai mẹ con thôi, chứ không còn ai khác.
Tôi nghe tin ấy có lẽ là từ lão. Lão là người đưa nhu yếu phẩm cho ông nội tôi, và đã thực hiện công việc này suốt năm năm nay. Và lão cũng là người cuối cùng tìm thấy ông đã qua đời. Một cái chết trong giấc ngủ. Một cái chết êm đềm và viên mãn cho người già. Hay là điều đó cũng đúng với bất kỳ ai khác với tư cách là một con người bình thường.
Ông nội tôi có phải là người bình thường không thì tôi không thực sự rõ. Thế giới ngày nay, càng ngày càng nhiều người mơ tưởng được sống một cuộc đời như ông. Và một cái chết như cái chết của ông.
Lão đưa nhu yếu phẩm đưa hai mẹ con tôi đứng vào vị trí ngay ngắn trước cỗ quan tài bằng gỗ ép rẻ tiền, được phủ lên bằng những bông hoa trắng. Những bông hoa xa lạ mà có lẽ ông còn chưa thấy chúng bao giờ. Nếu là một đám cỏ tươi thì có khi còn hợp hơn.
Rồi lão lật khăn che mặt trên quan tài ra, và tôi thấy đó là ông nội tôi, không khác gì mấy so với năm năm trước, đang nhắm mắt và khuôn mặt thanh thản, như thể đang trong một giấc ngủ trưa hè. Nhưng lần này, ông không bao giờ tỉnh dậy nữa. Ông cứ nằm đó thôi, không động đậy gì cả.
Tôi nhớ hồi xưa, ông nội thường hay bắt tôi ngủ trưa mặc dù tôi không thích. Và ông còn bắt cả cậu bạn thân của tôi cũng phải ngủ, như kiểu nó là cháu ruột của ông vậy. Chúng tôi - nghĩa là cả tôi và bạn thân tôi - thường xuyên trốn ông ra ngoài để tập bóng. Lúc ấy khuôn mặt ông cũng y hệt như vậy. Có chăng là nhiều nếp nhăn hơn thôi. Ông ngủ là ngủ thật chứ không theo kiểu nửa ngủ nửa tỉnh để canh chừng chúng tôi. Có đôi lúc, khi trời đã hoàng hôn, ông sẽ ngồi trên bãi cỏ và nhìn về phía những đám mây hồng rực xa xăm. Hồi ấy, tôi nhớ là nơi này có nhiều mây.
Nghĩ tới đây, tôi không sao nhìn tiếp được mặt ông. Cố xua đi ký ức ấy trong đầu, tôi quay sang phía mẹ, cố bắt chuyện gì đó.
Mẹ tôi nhìn trừng trừng vào ông nội tôi, mắt mở to và không chớp mắt.
Họng tôi cứng lại, không thể nói được gì nữa, chỉ biết quay đi và vờ nhìn hờ hững phía trước, thầm mong thủ tục này sớm qua đi. Cảm giác như nếu tôi nhìn mẹ thêm một lúc nữa, thì đôi mắt ấy sẽ hướng về phía tôi, với biểu cảm vẫn giữ y nguyên như vậy.
“Được rồi. Người nhà hãy cùng tôi tiễn đưa ông về với đất, về với tổ tiên cội nguồn.”
Ba người chúng tôi khiêng quan tài ông và đi ra sau nhà. Ở đây thì cửa nào cũng là cửa chính, nhưng vì cửa bên kia đã đỗ xe rồi, nên chúng tôi đưa ông ra cửa bên này. Một cái hố lớn đã được đào sẵn, cùng với đám đất khá lớn bên cạnh. Nắng chói chang phủ lên cái hố, nằm trơ trọi giữa những đám cỏ dại xanh rì xung quanh. Có một đàn gà từ đâu tới, ngơ ngác nhìn cái hố đất dưới chân mình. Chắc là gà của ông. Trông có bảy con tất cả. Và chúng đều thuộc dạng lỡ cỡ còi cọc như nhau. Có khi chỉ mình tôi cũng đủ xơi hết nguyên một con.
Tôi không ngờ là lão đưa nhu yếu phẩm có thể chuẩn bị hết tất cả việc này, một cách chuyên nghiệp và chu đáo đến vậy. Từ quan tài, hoa, chủ trì đám tang, và nhất là đào một cái hố đủ để đặt một người nằm trong. Đoán gương mặt chắc cũng gần bảy mươi rồi chứ không ít.
Sau khi đưa quan tài vào trong và lấp đất lại, tôi hỏi lão đưa nhu yếu phẩm rằng vì sao mà không đặt bia mộ lên trên đó. Vậy là lão mới đưa một lá phong bì, nói là di chúc của ông tôi. Tôi lấy tờ giấy trong đó ra. Chỉ có ba đoạn làm nội dung chính:
- Cho cháu đích tôn kế thừa mảnh đất của tôi, còn gọi là Xứ Đồng Hoang.
-Tôi mong cháu sẽ bảo vệ Xứ Đồng Hoang và tiếp tục giữ gìn truyền thống của dòng tộc.
- Khi tôi qua đời, hãy mai táng tôi bằng cách chôn tôi trong lòng đất của Xứ Đồng Hoang này. Chỉ ghi danh tính của tôi lên chiếc áo mà tôi mặc khi qua đời. Không làm bia mộ ở trên. Và nhớ hãy lấp những đám cỏ xanh tươi lên đó. Khi tôi qua đời, tôi sẽ là một phần của Xứ Đồng Hoang này, cùng với các ông cha tổ tiên đời đời là một phần của quê hương đất tổ.
Mẹ tôi đi tới giật lấy tờ di chúc trên tay tôi, đọc lướt qua mấy giây rồi trả lại.
“Ta đi ăn rồi vừa ăn vừa nói chuyện. Có nhiều chuyện cần phải nói hơn là cào mấy mảnh cỏ vớ vẩn. Mất cả tiếng đồng hồ rồi.” Rồi bà bước vào nhà, ở đó có một bộ bàn ăn bằng gỗ, trên bàn để sẵn hộp thức ăn mà bà có lẽ mang theo từ nhà tới đây. Bỏ lại hai cái bóng đứng lặng thinh giữa buổi trưa nắng chói chang, bên cạnh một nấm mồ vừa được đắp lên vài miếng cỏ một cách vụng về và lộ liễu.
Thôi thì, một thời gian sau cỏ sẽ mọc đều mà.
Vừa ngồi vào bàn ăn, chưa kịp làm bất cứ một hành động gì thì mẹ tôi đã mở lời trước, không ngần ngại đi thẳng vào vấn đề. “Trước mắt, thủ tục đầu tiên đã xong xuôi rồi. Giờ mảnh đất là của con. Con biết mình phải làm gì rồi chứ?”
“Nhưng còn di chúc bảo là...” Tôi ngập ngừng, khẽ đưa mắt về phía lão đưa nhu yếu phẩm đang dọn dẹp phòng khách đầy cành hoa thừa sau lưng tôi. Lão hình như đang vờ không nghe thấy gì cả. Mà có khi cũng chẳng quan tâm.
“Ta đã làm hai trong ba nội dung rồi. Thế là đã quá khoan dung với tư cách là một người có huyết thống với con, nếu không bàn đến chuyện quá khứ ra.”
Tôi có cảm giác mọi chuyện đi nhanh hơn tôi tưởng. Tôi cứ nghĩ là hai mẹ con sẽ ở lại đêm nay. Từ đầu tới giờ, tôi vẫn chỉ chạy loanh quanh ở dưới phòng khách mà chưa thực sự được khám phá những căn phòng khác của ngôi nhà. Hơn nữa, tôi mang vali cũng là để có thể ở vài hôm nơi đây, vì đã lâu rồi tôi chưa về thăm quê.
Hơn cả thế, tôi muốn kiếm một nơi để có thể ở một mình, cắt đứt hoàn toàn liên lạc với thế giới bên ngoài. Tôi đã thầm ước điều này từ lâu lắm rồi.
“Nhưng con muốn suy nghĩ thêm...”
Một tiếng đập bàn rầm lên, phá tung không khí ngột ngạt xung quanh. Khẽ ngước mắt lên, tôi chợt thấy khuôn mặt mẹ đang phừng phừng giận dữ, mắt trợn lên, miệng thở hắt ra, chứ không còn vẻ vô cảm như trước.
“Còn suy nghĩ cái gì nữa!? Hay là mày vẫn còn vương vấn cái ngôi nhà quái gở này!? Bán nó mau lên, rồi đốt trụi cái nhà này đi. Cả buổi sáng lái xe tới đây là đã đủ để suy nghĩ rồi. Việc của mày khi tới đây quan trọng nhất chỉ có vậy thôi. Dự án đã bắt đầu chuẩn bị, và người ta đang chờ nốt một việc cuối cùng để khởi công là bán mảnh đất này đi cho họ thôi đấy.”
Rồi mẹ tôi giữ hai vai tôi, mặt đưa sát gần và giọng đột nhiên nhỏ nhẹ. “Hãy nhớ lại vì sao mà bố con mất. Mẹ không thể mất thêm bất kỳ một ai khác trong gia đình nữa. Mẹ hết chịu nổi nơi này rồi. Con phải hiểu cho cảm giác của mẹ chứ...”
Rồi đôi mắt bà dần rung lên, và bắt đầu ươn ướt như thể sắp khóc.
Đôi mắt ấy làm tôi nhớ tới buổi tối mà mẹ tôi đã nói với tôi rằng đừng bao giờ quay lại nhà của ông nội thêm một lần nào nữa. Kể từ đó cũng đã năm năm rồi.
“Vâng... con sẽ bán mảnh đất đi và đốt trụi ngôi nhà này. Con vốn đã định như thế. Ý của con khi nói muốn suy nghĩ thêm, ấy là con muốn ở lại đây và hoàn thành thủ tục bán đất. Con cần tìm giấy tờ của ông và ở đây vài ngày để người ta tới nói chuyện mua bán. Dù sao thì nếu đi ra ngoài thì cũng khó nói về chuyện đất đai với cả thừa kế.”
Nghe vậy, mẹ tôi im lặng mấy giây nhìn tôi, rồi khẽ mỉm cười, hai tay bỏ ra khỏi vai tôi và tiếp tục bữa ăn còn dang dở.
“Vậy thì theo ý con. Mẹ sẽ về trước. Chừng nào xong xuôi thì con gọi điện để mẹ tới đón nhé.” Rồi ngay sau đó bà lại nhấn giọng từng câu từng chữ. “Nhưng nếu ở đây lâu quá rồi tự nhiên đổi ý, thì con biết là hậu quả sẽ như thế nào rồi đấy.
“Không chỉ số tiền bán đất xứng đáng được hưởng mà sự nghiệp cũng tổn hại không ít đâu. Mẹ chỉ muốn tốt cho con thôi. Con là con trai của mẹ nên hiểu ý mẹ mà, phải không nào?” Rồi bà lại mỉm cười dịu dàng nhìn tôi.
Hôm nay quả là một ngày hiếm hoi mà sắc mặt của mẹ thay đổi liên tục chỉ trong có vài phút. Những lúc như này, không nên tỏ ra trái ý mẹ là tốt nhất.
Cái ý định chính mà tôi quyết định ở lại đây cứ thế được giấu nhẹm trong lòng. Không một ai biết. Hoặc có chăng là nhìn từ bên ngoài, ý định đó quá nhỏ nhặt để mà nghi ngờ hay quan tâm.
***
Tôi đứng dựa lưng vào thành cửa, mắt dõi theo chiếc xe hơi màu đen, và cả chiếc xe ba gác đi theo sau xa dần, cho đến khi biến mất phía cuối chân trời. Lão đưa nhu yếu phẩm cũng về rồi. Lão về sau khi đưa cho tôi tờ giấy nhỏ ghi số điện thoại của lão, nói là lúc nào cần mua gì thì có thể liên lạc. Tôi đã nhét tờ giấy ấy vào túi quần.
Gió bỗng dưng giật mạnh, và rồi đám cỏ bị cán bởi chiếc xe lại dựng lên, không còn để lại chút dấu vết nào của nền văn minh nhân loại.
Trời đã bắt đầu chiều. Vẫn không có một gợn mây nào cả. Nhưng không khí dần mát hơn một chút. Gió vẫn thổi, mang theo mùi cỏ của Xứ Đồng Hoang đi khắp chính nó.
Tôi quay vào phòng khách và ngồi bệt lên cái ghế sô pha cũ mèm trước một màn hình ti vi lồi dày cộp, với lấy chiếc điều khiển trên cái bàn nhỏ trước mặt và bấm nút bật lên. Không có phản ứng gì cả. Phải đến khi tôi đi tới cái ti vi và bật nút nguồn trên đó, màn hình mới chịu sáng, và tiếng rè rè nghèn nghẹt từ cái loa vang lên. Đó là một trận World Cup đang phát trực tiếp.
Có thể, trong một tương lai nào đó khác, tôi không phải là người ngồi ở đây xem bóng đá, mà tôi mới chính là người ở trong cái ti vi kia. Ông nội tôi, và cả mẹ tôi nữa, sẽ dõi theo từng bước chạy, từng cú ghi bàn của tôi một cách đầy tự hào và vui sướng.
Còn cậu ta... tôi cũng chẳng biết nữa. Bạn thân hồi nhỏ của tôi ấy mà. Có khi nó không bao giờ xem bóng đá nữa.
Ngẩn ngơ nhìn xung quanh, tôi chỉ thấy phòng khách ngoài bốn thứ này ra, thì không còn gì khác. Tôi bỗng dưng thấy xung quanh hơi rộng ra một chút. Hay là do lúc đám tang, tôi thấy có nhiều đồ hơn nên thấy hơi chật. Chắc là thế.
Ngồi xem được một lúc, cả hai đội vẫn chỉ đưa qua đưa lại chứ không có bàn thắng nào, tâm trí tôi lại bắt đầu nghĩ mông lung. Giá như tôi lên sân đó, thì ít nhất cũng phải triển khai tấn công liên tục rồi, chưa bàn đến chuyện có thể ghi bàn hay không. Thể thao biểu diễn mà chỉ có như vậy thì chán chết. Thế mà cũng được đi World Cup hay sao.
Từ dưới sàn nhà, ánh nắng hắt qua cửa chính và cả cửa sổ gần đó dần chiếu vào màn hình ti vi, làm những con người và sân bóng trong đó mờ dần đi, cho tới khi mặt trời phản chiếu ngược trở lại vào mắt tôi. Nhíu mày và chớp mắt mấy cái, tôi với lấy cái điều khiển trên bàn và tắt nó đi, rồi mới nhớ ra là không tắt được. Vậy là tôi đứng phắt dậy, bỏ lại tiếng ồ ồ cổ vũ và cái giọng đều đều của bình luận viên trong đó, rồi bước cầu thang lên lầu.
Vẫn là hai phòng ngủ giống hệt nhau nằm hai bên và một cái ban công lớn có bộ bàn ghế nhỏ đối diện. Tôi mở cửa hai phòng ngủ trước, và chỉ thấy mỗi một cái giường và một cái tủ quần áo. Nhìn cái ga giường màu trắng sạch sẽ không tì vết nằm ngay ngắn trong bốn bức tường nứt nẻ mốc meo, tôi thầm tự nhắc nhở bản thân rằng nơi đây vẫn còn dấu hiệu cho thấy từng có người sinh sống chỉ vừa mới hôm qua, chứ không phải là một nơi hoang vu cô quạnh.
Ngả mình trên giường, tôi nhìn trân trân lên trần nhà. Chỉ là một cái trần nhà của một cái nhà xây lâu năm, chả có gì đặc biệt, nhưng tôi cứ nhìn mãi.
Khi ta không còn là trẻ con nữa, ta mới thấy một buổi chiều thư thả vào những hôm như này thật là một điều may mắn biết bao.
Đưa mắt về phía cửa sổ, ánh mặt trời lan vào phòng làm trong người tôi bắt đầu âm ỉ và nóng ran lên. Việc ấy đã là thói quen hằng ngày rồi. Cơ thể đang bắt đầu phản ứng với thói quen của tôi. Ngày nào tôi cũng luyện tập mà.
Nhưng lần này, tôi không sao ngăn mí mắt mình khép lại được.
Và cứ thế, trong khi đưa mình theo tiếng ồ ồ của chiếc ti vi dưới nhà chưa tắt, tôi dần dần thiếp đi lúc nào không hay.
...
“Chuyền đi! Tôi ở vị trí thuận lợi hơn! Để tôi ghi bàn!”
Ồn ào quá. Chỉ còn mấy phút nữa là hết giờ rồi.
Trên sân cỏ rộng lớn, tôi bứt tốc dẫn bóng, lách người lướt qua ba người đứng ngay trước gôn, xiên bóng ngay trước mặt tên tiền vệ cánh đội tôi đang la hét om sòm, và tôi đưa chân tung cú dứt điểm.
Ngay lập tức, thủ môn bên kia đã liều lĩnh chạy tới và đá bay quả bóng đi. Bóng bay nhanh và xa tới tận bên kia sân. Hàng thủ không kịp về lại, và tiền đạo bên đó đang đứng sẵn tung một cú dứt điểm từ xa cách khung thành đội tôi cỡ ba mươi mét. Thủ môn không kịp phản ứng. Bóng vào lưới. Tỉ số 1-0. Đội bạn lao vào ăn mừng. Tiếng còi kết thúc trận đấu vang lên.
“Thế là xong rồi. Hè này tha hồ ở nhà chơi chứ không cần phải đá bóng nữa. Đừng nghĩ bản thân là thiên tài thì có thể tự giải quyết hết một mình được. Mùa giải sau ngồi ghế dự bị là cái chắc.”
Rồi cậu ta bỏ đi. Xung quanh, đã có vài người đứng dụi dụi mắt, ôm nhau nói những lời an ủi.
Tôi vẫn còn nhớ, bốn năm trước, tôi đã cùng cậu ta, với một số người cùng tuổi nữa, ngồi ở hàng ghế dự bị và cổ vũ hết mình cho đội tuyển trên đấu trường World Cup.
Nếu khi ấy, tôi chuyền cho cậu ta, mọi chuyện có trở nên khác đi không?
Ai mà biết được chứ. Chắc gì nó đã làm ăn được. Khi ấy, nó lại đổ tội cho tôi là chuyền hỏng thôi.
Tâm trí tôi vẫn mãi ám ảnh đường bóng bay thật cao và thật nhanh, rồi chạm đất ở một nơi xa tựa chân trời, nơi một gã tiền đạo chờ sẵn đặt dấu chấm hết cho tất cả.
Khi ấy, bỗng dưng tôi lại nhớ tới nơi ấy. Lần đầu tiên, ở đó, tôi đã có thể một cú sút xa, thật xa và dõi theo nó tới khi chỉ còn là một chấm nhỏ xíu xiu.
Có một xứ sở gọi là đồng hoang
Bát ngát mây đưa và gió lượn
Cùng hai sắc xanh hòa với đất
Với căn nhà nhỏ đằng xa xa.
...
Tôi giật mình mở mắt. Vẫn là cái trần nhà ấy. Quang cảnh tối hơn trước làm tôi bỗng thấy hơi sợ. Ngoài tiếng tim đập và hơi thở dồn dập của bản thân, tôi không còn nghe thấy bất cứ âm thanh nào bên ngoài cả.
Ngồi dậy khỏi giường và đi về phía cửa sổ, tôi hướng mắt về phía cuối đường chân trời. Hoàng hôn sắp tắt. Chỉ còn một nửa hình cầu.
Tôi đi xuống nhà, bước tới cái ti vi dày cộp. Nó vẫn còn đang bật. Nhưng không phát ra tiếng nữa. Chỉ có màn hình bị nhiễu. Tôi tắt nút nguồn trên ti vi, rồi bước vào bếp mở tủ lạnh.
Không có gì gọi là thức ăn bên trong cả. Tôi cứ tưởng lão đưa nhu yếu phẩm đã chuẩn bị thức ăn vì hôm nay có đám tang.
Đóng cửa tủ lạnh lại, tôi bước ra ngoài. Cả bảy con gà chạy tới, đứng ngơ ngác nhìn tôi. Có vẻ như nó cũng đói và muốn xin thức ăn.
Tôi quay vào lục khắp căn bếp, rồi mới nhìn thấy một thùng đựng toàn gạo là gạo. Tôi lấy cái bát trong thùng, xúc một ít rồi ra ngoài rải ra cho đám gà ăn. Chúng mổ tục tục, rồi lại ngẩng đầu lên nhìn quanh với vẻ ngơ ngác, rồi lại cúi xuống mổ tục tục tiếp.
Không phải là tôi không nghĩ tới chuyện đó. Lúc ra ngoài, tay tôi đã cầm sẵn một con dao bầu.
Chỉ là gà thôi mà. Một con gà bình thường. Đói lắm rồi. Có là gà hay người thì cũng đều cần ăn để sống mà, phải không? Nghe nói là chỉ cần bắt lấy chân một con gà, đè cánh nó xuống đất và rồi một dao xiên qua cổ. Khi máu chảy hết, tức là chúng chết.
Tôi đã mường tượng được điều đó, cũng nhờ việc tôi đã tận mắt chứng kiến ông nội cắt tiết con gà từ hồi nhỏ. Khi ấy, ông đã gọi tôi túm giữ lấy đôi chân nó. Tôi cố giữ thật chặt, mắt cụp xuống, cho tới khi ông bảo tôi thả tay ra. Hai lòng bàn tay tôi đỏ lựng. Màu của máu ẩn dưới da.
Không nghĩ nhiều nữa, tôi túm ngay chân một con gà đang ăn gần đó và xốc ngược nó lên. Con gà kêu oai oái. Cả đám gà còn lại chạy tán loạn. Tay tôi vẫn cảm nhận được cái âm ấm trên cẳng chân của nó.
Lôi nó vào bờ tường, tôi làm theo quy trình mà mình không chắc là có đúng theo công thức hay không. Sau một hồi chật vật, tôi cũng cắt tiết được con gà và nó cũng lịm dần mà chết. Máu chảy thành dòng, thấm đẫm sắc đỏ một mảng cỏ xanh bên dưới. Khi hơi ấm ở cẳng chân nó rút dần, đôi cánh thôi không còn giãy giụa nữa, tôi mới thả nó ra, đứng nhìn nó một lúc và khẽ thở phào. Tôi quay sang những con gà còn lại, đang sải bước và mò mẫm những cái mỏ nhọn hoắt của chúng trên bãi cỏ mờ mờ ánh tà dương. Thỉnh thoảng, đầu chúng lại ngẩng lên và nhìn về phía chúng tôi. Rồi chúng lại cúi xuống dò dẫm tiếp. Hình như chúng chưa no thì phải.
Lần đầu tiên trong đời, tôi đã thực sự giết một con gà.
Có thể có nhiều người nói rằng chẳng có gì đáng để nghĩ ngợi khi giết một con gà, nhất là giết để ăn, nhưng tôi nghĩ không hẳn chỉ đơn giản có vậy. Thực sự thì, tôi không muốn nghĩ chuyện mình vừa làm lại đơn giản đến mức chẳng có gì đáng để nói như thế.
Chết, tức là không còn động đậy nữa.
...
Vào bếp, tôi bật đèn lên và tiếp tục công việc của mình. Sau khi trần gà qua nước sôi và nhổ sạch lông, tôi lấy dao bổ đôi con gà theo chiều dọc, lấy sạch lòng mề của chúng ra và vứt đi. Tôi không thích ăn lòng mề, dù cho là bất kỳ bộ phận nào, kể cả tim của nó. Tôi bật bếp ga lên và bắc nước lên nồi. Tôi cũng vo gạo và nấu cơm ở bếp ga bên cạnh.
Gà luộc thôi, chẳng có màu mè gì cả. Tạm thời thì là như vậy. Dù sao thì tôi cũng không thấy bao nhiêu nguyên liệu để làm món khác. Chỉ có mấy hộp gia vị thì làm được cái gì. Cũng may là nước ở đây có thể lấy ra từ giếng khoan. Tôi không thể hiểu nổi ông nội tôi năm năm qua sống ra làm sao. Hay là do ông đưa nhu yếu phẩm dọn hết đi rồi nên không còn nữa. Chắc lão tưởng ở đây không còn ai ở nữa lão mới chất hết lên xe ba gác mang đi. Có khi vậy thật. Vì ông nội tôi ngày trước dù cho những món ăn ông nấu đều khá đơn giản nhưng vẫn rất ngon.
Trong khi chờ gà và cơm chín, tôi vét thêm một bát gạo và đi ra ngoài nhà. Lũ gà khi thấy tôi mở cửa thì bu lại, nhìn chằm chằm vào bát gạo tôi cầm trên tay. Quả nhiên là chúng vẫn còn đói, nên dù trời đã tối nhưng mắt chúng vẫn còn mở to lắm.
Tôi lại rải gạo trên mặt cỏ, lũ gà lại cúi xuống ăn với một kiểu lề thói như thường lệ. Hẳn từ lúc sinh ra, chúng vốn dĩ đã như thế. Với cái kiểu sống như thế mãi mãi cho tới khi chúng chết đi. Chúng có khi đã quên mất chủ cũ và một trong số đồng loại của chúng rồi.
Không, dù cho chúng có nhớ hay không nhớ thì có khác gì đâu chứ. Chúng đã hoàn toàn bị ràng buộc bởi ngôi nhà này, đó mới là điều quan trọng nhất.
Nghĩ vậy, tôi lại thấy trong lòng nhẹ nhàng hơn chút.
Vậy ra đây là cảm giác của một người bình thường nên có hay sao?
Ngước lên nhìn bầu trời đầy sao một lúc, rồi tôi lại đi vào nhà, chuẩn bị cho bữa tối.
...
Sau khi ăn xong(vị cũng tàm tạm), tôi dọn dẹp và lại ngồi trên ghế sô pha xem ti vi. Là một trận bóng khác. Trong trận này, tôi thấy đội đã giành chiến thắng trước đội tôi đấu với đội được xem là mạnh nhất ở thời điểm hiện tại. Nếu là một trận nhàm nhàm khác, có lẽ tôi sẽ chuyển kênh ngay. Nhưng lần này, tôi đã quyết định ngồi xem xem thế nào.
Như một lẽ đương nhiên, đội “được xem là mạnh nhất ở thời điểm hiện tại” thắng áp đảo. 7 - 0. Tôi ngồi ngẩn người ra đó, xem đội thua cuộc an ủi nhau, khóc lóc với nhau, cùng nhau đi về, rồi màn hình chuyển kênh. Riêng tên tiền đạo thì đứng chống tay nhìn về phía khung thành xa xăm.
Có khi đội tôi mà lên chắc cũng y như vậy thôi. Thiên tài cái gì mà thiên tài chứ. Tôi thừa biết chuyện đó, ngay từ khi xem một trận World Cup đúng nghĩa hồi còn nhỏ, ngay tại chính cái ti vi này đây. Chuyện quốc gia tôi tham dự vào bốn năm trước, đương nhiên đã bị loại ngay ở vòng bảng.
Chỉ là bây giờ, tôi mới có thể mường tượng ra một cách rõ ràng cái định nghĩa ấy rẻ mạt đối với tôi như thế nào.
Tắt ti vi, tôi lên lầu, đắp chăn và đi ngủ.
Như vậy là hết ngày đầu tiên.
***
Sáng hôm sau, tôi bắt đầu một ngày mới bằng việc thay máng nước cho đàn gà, cho chúng ăn và sau đó tôi lấy quần áo đi tắm ở tầng một. Quả nhiên là không có gì ở trong ngoài cái vòi nước và cái thùng. Vậy là tôi phải lục va li mãi mới tìm thấy mấy gói sữa tắm và dầu gội giấu đâu đó bên trong.
Không biết là tôi có ăn hơi nhiều hay không, mà mỗi bữa tôi đều chén hết nguyên một con gà, mỗi ngày ba bữa. Chắc tôi vốn là vận động viên, lại còn cao to nên như này cũng bình thường thôi. Với lại con gà còn gầy nữa.
Từ lần thứ hai, tôi đã quen hẳn với giai đoạn đầu của bước chuẩn bị thức ăn. Trong mắt tôi bây giờ, chúng chỉ như là một cục thịt di động không cần cấp đông và chờ đến lúc nào cần thì thu hoạch. Chẳng phải đó là cảm giác của một người bình thường nên có hay sao? Nên cách nhìn nhận như thế đương nhiên là bình thường. Điều tôi thấy không ổn lắm là cứ như này thì tôi ở được có ba ngày rồi về mất.
Ngày thứ hai này, tôi không mở ti vi lên xem nữa. Tôi cứ ngồi thẩn thơ ở cái ban công trên lầu nhìn ra bên ngoài thôi. Ngoài việc phát hiện tấm pin năng lượng mặt trời hàng cổ vẫn còn trên mái nhà thì ngày hôm nay không có gì đặc biệt. Lũ gà thì đã biến đi đâu mất. Lúc chưa đến bữa ăn thì chúng cứ như ngủ mất xác ở xó xỉnh nào đó rồi. Nên quanh đi quẩn lại, chỉ có mình tôi với tôi.
Ngồi được lúc, và khi thấy mặt trời đã quá nửa buổi chiều, tôi mới chợt nhớ ra là mình có số của ông đưa nhu yếu phẩm. Nghĩ lại thì nếu như không có lão này, chắc ông nội tôi sẽ không trụ nổi ở đây mà tiếp tục với cái cung cách sống lập dị của mình nổi một tháng mất.
Vậy là tôi đi xuống nhà lục tìm tờ giấy ghi số điện thoại trong đống quần áo cũ rồi gọi cho lão.
Được một khoảng thời gian khá dài thì lão tới nơi. Đúng như tôi yêu cầu, lão đưa cho tôi một can dầu hỏa, một cái bật lửa và một bao thuốc lá. Còn thức ăn thì tôi nghĩ là thôi, còn bốn con gà mà. Tức là hết tối nay và ngày mai, khi chúng vào hết trong bụng tôi, thì tôi sẽ về. Nghĩa là sáng hôm kia.
Ngồi trên thềm cửa, tôi bắt đầu bóc bao thuốc lá ra, đặt một điếu trên hai đầu ngón tay mình. Tay tôi đang run, run từ lúc cầm vào bao thuốc rồi, nhưng chúng vẫn ngoan ngoãn tuân theo ý chí của tôi.
Tôi biết, tôi hoàn toàn biết mình là ai, và bản thân đang làm cái gì.
Xoẹt xoẹt.
Điếu thuốc đã cháy. Tôi khẽ hút vào, nhưng rồi lại sặc ngay lập tức. Tôi lại cho lên miệng làm lại. Rồi tôi lại sặc. Mắt tôi đỏ hoe, và miệng tôi bắt đầu tiết nước bọt.
Thôi, vứt quách cái trò này cho xong.
“Cậu làm sai rồi. Cậu phải hút vào phổi, thay vì nuốt ực vào bụng. Dễ sặc lắm. Rồi thở nhẹ ra. Cứ như thế, cậu sẽ có thể phát huy công dụng của nó.” Lão đưa nhu yếu phẩm ngồi bên cạnh tôi, nói rồi làm mẫu. Khói thuốc của lão theo gió hắt vào mặt tôi.
Vậy là tôi cũng làm theo, và dần dần trong người tôi dâng lên một cảm giác dễ chịu.
Khói bay theo gió, tan biến vào hư vô. Chúng như thể còn đem theo gì đó ngoài khói nữa mà trong lòng tôi bỗng dưng thấy thật nhẹ nhàng.
Tôi với lấy can dầu hỏa gần đó, và hỏi lão đưa nhu yếu phẩm rằng chừng này có thể đốt cháy hết một căn nhà to như cái nhà này không. Lão bảo có, nếu như rải đều, nhưng cái cốt của nhà thì vẫn sẽ còn y nguyên, vì đây là nhà gạch mà, tất nhiên rồi.
Nghe vậy, tôi lại rít một hơi, thở khói ra và nhìn chăm chăm vào lão. Lão chỉ nhìn về phía chân trời xa xăm.
Hôm nay trời có nhiều mây, lại còn đang hoàng hôn nữa, nên sắc hồng rực của nó lại làm tôi mê mẩn nhìn ngắm nó mãi, cho tới khi ông già ngồi bên cạnh tôi đứng dậy và lên xe ba gác đi về.
Tôi dõi theo chiếc xe ấy cho tới khi nó chìm dần xuống đường chân trời. Điếu thuốc đã tàn từ lúc nào không hay.
Và tôi chợt nghĩ, ồ, thì ra Trái Đất thực sự có hình cầu. Mảnh đất này khoanh một vùng thật rộng, và như vậy, trong cái nhìn chủ quan của bản thân, ta có thể cảm giác rằng ta đang sở hữu cả thế giới.
Một thế giới chỉ còn một mình tôi.
Sau đó tôi đứng dậy, bước vào bếp và cầm con dao bầu lên.
Tối hôm ấy, tôi đi dạo xung quanh ngôi nhà, ngắm nhìn mọi thứ trong tầm mắt trong khi nhâm nhi một điếu thuốc, rồi khi thuốc tàn, tôi mới bước vào phòng đi ngủ.
***
Qua ngày thứ ba, tôi dậy sớm hơn mọi hôm và ngồi ngắm đường chân trời dần sáng lên trên ban công tầng hai. Mây hôm nay đã ngớt đi một chút so với hôm qua, nhưng thế cũng đủ để bầu trời pha được nhiều màu sắc khác nhau so với vẻ đơn sắc tẻ nhạt như hôm tôi mới tới đây.
Việc ngắm thời tiết và mấy đám mây đã trở thành điều quan tâm duy nhất của tôi trong buổi sáng sớm này. Vì còn việc đó ra thì còn làm gì được chứ? Vả lại, tôi cũng không muốn ăn sáng quá sớm.
Khẽ rít điếu thuốc trên tay, tôi bắt đầu nghĩ ngợi lung tung. Chủ yếu là chuyện ngày xưa ở nơi này thôi.
Vì đã năm năm rồi, tôi mới trở lại nơi đây mà.
...
“Con gọi cấp cứu chưa!?”
“Con gọi từ nửa tiếng trước rồi! Mẹ biết mẹ hỏi con câu đấy nhiều lần lắm rồi mà!”
“Không có cách gì khác à? Giục họ đi mau lên!”
“Con đã nói là trường hợp khẩn cấp rồi. Với lại... họ bảo là không được đụng vào nạn nhân. Nhất là khi ở trong trường hợp như thế này...”
“Chết tiệt! Ông xem con trai ông giờ thành ra như nào chỉ bởi cái ý muốn ích kỷ của ông đi này!”
Mẹ tôi quay qua phía ông nội tôi và thốt ra những lời chửi rủa cay nghiệt nhất mà bà ấy có thể nghĩ tới. Trong khi đó, tôi đứng thần người bên cạnh bố tôi, đang nằm sõng soài trên mặt đất, cái đầu ngoẹo về một bên như thể sắp tách ra làm đôi, và duy nhất một thứ còn động đậy là đôi mắt sợ hãi đảo liên tục nhìn lên bầu trời, nhìn mẹ, nhìn ông nội và nhìn tôi. Mẹ tôi nói với tôi rằng bố đã trượt chân trên mái nhà và ngã đập đầu xuống đất.
Nửa tiếng sau, xe cứu thương mới chạy tới.
Nhưng lúc này, bố tôi đã ngừng thở, đôi mắt không còn lay động nữa.
Tôi còn nhớ là bạn thân tôi cũng ở đó. Từng chút, từng chút một, tôi tận mắt thấy bố tôi hơi thở dần yếu đi và mắt dần trở nên vô hồn. Vào vài phút trước khi lìa đời, bố tôi thay vì nhìn tôi, nhìn mẹ, nhìn ông nội hay là nhìn vào bất kỳ một ai khác, thì ông lại nhìn lên trên bầu trời, mặc cho trời xanh biếc làm mắt ông chảy nước.
Ông ấy đã bảo với tôi rằng, sau khi lắp xong sẽ đá với tôi vài quả.
Ông ấy cũng thích bóng đá lắm. Chính ông đã mua quả bóng đầu tiên cho tôi và dẫn tôi tới Xứ Đồng Hoang này. Để rồi nhờ đó, tôi đã có được kỹ thuật để có thể sút một cú thật xa, mặc cho đôi chân khẳng khiu hồi ấy đỏ rát đến mức có màu hơi tím bầm.
Nhưng sau tất cả, bố tôi vẫn chỉ là một thợ sửa nhà bình thường có niềm yêu thích bóng đá hơn người bình thường một chút. Bố ở ngoài thành phố làm việc, lập gia đình, và mỗi dịp rảnh lại về thăm nơi đây. Bố tôi gọi nó là quê hương.
Ngày hôm ấy, hai đứa chúng tôi vừa bước sang tuổi mười lăm.
Trong khi được mẹ lái xe của bố đưa về, cậu ta đã cho tôi mượn bờ vai. Mẹ tôi hình như có thấy, nhưng bà không nói gì cả.
Từ sau ngày hôm đó, mọi thứ thay đổi hoàn toàn. Vốn dĩ, lý do mà cả nhà - kể cả mẹ tôi - đi tới Xứ Đồng Hoang, cũng là vì tôi mới giành được một suất vào học viện bóng đá, và cả sinh nhật của tôi - của hai đứa chúng tôi - nữa. Mà nghĩ lại thì, mấy cái đó thì tổ chức ở nhà cũng được thôi, nhưng mà ông nội lại hay tin nên cũng muốn chúc mừng tôi, tiện thể(có lẽ cái này là quan trọng nhất) bảo bố tôi lên lắp cái tấm pin năng lượng mặt trời lên mái nhà cho ông. Ông bảo nếu cứ mang thùng pin dự phòng thì phiền lắm.
Bạn thân tôi thì cũng thi vào học viện bóng đá, nhưng trượt. Thật là kỳ lạ, vì cậu ta đá giỏi hơn tôi một bậc, tôi phải thừa nhận vậy. Cái lần cậu ta cho tôi mượn bờ vai ấy, chắc chỉ đơn giản là thấy tội nghiệp và muốn chiều theo cái ý muốn ích kỷ của tôi vì tình bạn lâu năm mà thôi. Tôi những tưởng rằng cậu ta có tình cảm đặc biệt nào đó với tôi, hơn hẳn là kiểu bạn thân thông thường, nhưng rốt cuộc, tôi đã lầm.
Bởi sau hôm đó, cậu ta không còn đá bóng nữa.
Đã nhiều lần tôi rủ cậu ta ra sân bóng, nhưng cậu ta chỉ toàn từ chối thôi. Khi tôi hỏi lý do, cậu ta chỉ im lặng, hoặc là bảo mình lười lắm. Cậu ta bắt đầu vẽ. Vẽ đủ thứ. Cứ như thể là cậu ta có dự định thi vào trường mĩ thuật vậy. Cứ mãi vài tháng như thế, cho tới khi tôi đã mất hết kiên nhẫn, và khi nhìn thấy một bức tranh vẽ hai mảng màu xanh lá và xanh da trời đối xứng ngang nhau, tôi đã không thể chịu nổi nữa mà lỡ thốt ra một câu mà tôi đã phải dằn vặt mãi suốt khoảng thời gian sau này, kể cả hiện tại.
“Thôi nào, mày đừng có vẽ vời mấy thứ vớ vẩn viển vông đó nữa. Vẽ thì phải tập từ nhỏ chứ. Mày nghĩ bây giờ mới bắt đầu tập vẽ thì mày có thể làm được gì sao? Được mấy tháng rồi, và kể cả một đứa như tao cũng biết là mày không có tài năng trong lĩnh vực này. Ra ngoài vận động và làm cái gì đó thực tế đi.”
“Thế thì việc mỗi ngày hành xác bằng bóng đá thì có khác gì à!? Và tại sao tao phải làm những gì người khác cho là có tài năng thay vì làm những gì mà tao thích!?”
Vậy là từ đó, tình bạn từ những năm tiểu học của chúng tôi kết thúc. Cậu ta, từ nhỏ đã rất giỏi bóng đá rồi, nhiều lần còn theo tôi tới Xứ Đồng Hoang. Hồi đó, có một sân bóng tự tạo, với khung thành làm bằng hai cái cây gỗ khẳng khiu, và đường kẻ sân thì được vẽ lên bằng lọ sơn trắng mà chúng tôi tiết kiệm tiền mấy tháng mới mua được.
Thảm cỏ ở đó, dường như còn đẹp như một sân bóng đá quốc gia vậy. Đất thì thật bằng, mà cỏ thì độ cao cũng thật vừa vặn. Như thể đã có ai đó cắt cỏ cho nơi này, nhưng ông nội tôi lại bảo rằng nó vốn sinh ra đã như thế và sẽ chỉ mãi mãi thấp như thế thôi.
Tình bạn của hai chúng tôi được nuôi dưỡng ở Xứ Đồng Hoang. Cũng có thể nói rằng, nơi đây là nơi duy nhất có thể lưu giữ những kỷ niệm ấy và làm cho nó sống lại một cách sinh động nhất trong trí óc tôi, khi mà mọi thứ xung quanh tôi đều đã thay đổi. Thậm chí là bây giờ, tôi không thể hình dung cụ thể mặt mũi cậu ta ra sao. Nhưng có một điều mà tôi biết rõ rằng, chỉ cần được gặp lại cậu ta thôi, thì tôi sẽ nhớ ngay lập tức, kể cả khi cậu ta chìm lẫn trong một ngã tư thành phố hàng ngàn người qua lại.
Giờ đây, tôi lại thấy ghen tị với cậu ta. Nếu hồi ấy tôi bỏ bóng đá, chắc sẽ chẳng thiệt gì. Nhưng nếu bỏ bây giờ, tôi cũng không biết mình sẽ đi về đâu nữa.
Hay là... ở lại đây luôn nhỉ?
Vẫn còn một dòng di chúc của ông nội chưa được toại nguyện.
Có lẽ lối sống kỳ quặc của ông nội tôi, và cả dòng tộc tôi nữa, không đến mức bất khả tri như mẹ tôi vẫn thường hay nói.
Trên thế giới này, cũng có những người làm lụng cả đời để đến lúc được thư thả trong cái bình yên bất tận này kia mà.
Sống một cuộc đời không ai nhớ tới, và bị lãng quên trước cả khi cái chết cận kề.
“Cùng với các ông cha tổ tiên đời đời là một phần của quê hương đất tổ.”
Vớ vẩn. Chỉ là mảnh đất rộng đến nỗi không một ai dám bán đi để đến một nơi khác thôi. Cuối cùng thì, nơi này sau nhiều thế hệ, nó đã trở thành một nghĩa địa tập thể. Cái tên Xứ Đồng Hoang, có lẽ đã được đặt tên bởi một hài cốt vô danh nào đó ẩn bên dưới lớp cỏ xanh tươi mơn mởn này. Và cả cái bài thơ bốn dòng dở tệ ấy nữa. Thế mà cứ tưởng mình sáng tác được cái gì ghê gớm lắm, rồi truyền lại cho con cháu này kia.
Người ta gọi đây là tận cùng của sự tầm thường. Như những lũ gà ngu xuẩn kia, sống với một lề thói bất biến kể từ lúc sinh ra, rồi cho đến khi cái chết ập tới, cũng không thể nhận thức được hoàn toàn sự vô nghĩa của cuộc đời mà ta đã sống là gì. Ngay cả sự hối tiếc có lẽ cũng là một khái niệm mơ hồ trong đầu những kẻ sắp chết ấy.
Vì lẽ đó, tôi đã cố gắng nỗ lực với toàn bộ thể chất, trí óc và tinh thần của mình. Chỉ khi được lưu dấu ấn của mình vào trong dòng chảy lịch sử, chỉ khi cống hiến hết mình cho cuộc đời và xã hội, ta mới cảm thấy mình thực sự được sống.
Vậy nên, lãng phí thời gian vào thứ mà bản thân không có tài năng, thì thật là vô nghĩa.
Và lại càng vô nghĩa hơn khi tiêu phí cuộc đời mình vào việc ngắm trời ngắm mây mà không làm bất cứ một thứ gì thực chất cả.
Tôi vẫn còn muốn nán lại đây thêm mấy ngày nữa, nhưng dường như tôi không thể nào lấy cớ thêm được nữa rồi.
Đường chân trời vẫn không hiện diện bất kỳ một bóng hình nào cả. Tôi đã mong rằng có một ai đó, một ai đó mà không phải là mẹ tôi, không phải là những công nhân thực hiện dự án, xuất hiện ở đường chân trời này, và đến với tôi, nói chuyện với tôi, và nghe tôi nói chuyện.
Kể cả chỉ im lặng và ngồi vẽ cũng được.
Trước khi ngôi nhà này bị phá đi và Xứ Đồng Hoang biến thành một cánh đồng quạt gió nhân tạo.
Tại sao... trên đời này lại có một người có thể sống một mình trong suốt năm năm chứ.
Năm lần của ba trăm sáu lăm ngày, lại còn cộng thêm một ngày nhuận nữa. Quả nhiên là không hề tầm thường mà.
Vậy mà tôi cứ nghĩ rằng vì có cậu bạn thân thường xuyên về đây thăm ông, nên ông mới có thể tồn tại lâu đến như thế trong cái thế giới bao la bất tận này.
Xứ Đồng Hoang.
...
Mặt trời đã lên cao. Nắng bắt đầu gắt hơn. Tôi đứng trước cửa nhà, rít từng hơi thuốc để lấn át đi mùi dầu hỏa thấm đẫm khắp ngôi nhà. Chiếc va li nằm ngay ngắn dưới chân tôi, trên thảm cỏ thấp êm ái xanh rờn.
Hai ngón tay tôi kẹp vào điếu thuốc, và ném nó vào bãi dầu hỏa lênh láng. Lửa bắt đầu cháy lên. Rồi nó bùng lên dữ dội, tiếng lách tách ngân lên vui tai. Khói bắt đầu tỏa ra, và có vài tiếng đổ vỡ trong nhà.
Lũ gà, khi này còn hai con, chạy nhao nháo khỏi căn nhà. Còn một con nữa, tôi đã biết điều đó ngay khi tiếng đổ vỡ trong nhà cất lên. Nó đang gào lên trong đám lửa cháy, mà nơi âm thanh nó phát ra lại là ở cái thùng gạo mà tôi cố ý mở nắp khi tưới dầu xung quanh nơi đó, khi mà một con gà lẻn vào trong. Tôi đã định cho nó ăn no trước khi trả chúng về với tự do, nhưng hình như là tôi quên mất là nó vẫn đang mổ gạo ở đó rồi. Mà dù sao thì, đó cũng chẳng phải là một chuyện gì đáng nói. Chỉ là ở nơi này tẻ nhạt tới mức một chuyện vặt vãnh nhất cũng đáng để bàn luận thôi. Cũng giống như tôi yêu quý biết bao cái giường êm ái mà mình đã nằm ngủ hai đêm nay, nhưng rồi cũng phải đến lúc tạm biệt nó vậy.
Lửa vẫn còn cháy mạnh. Nhưng nắng đã bắt đầu lên cao rồi.
Tôi quay đi, tay xách chiếc va li nằm dưới đất lên và đi về phía ngược lại căn nhà.
Đương nhiên, tôi đã lấy hết giấy tờ của ông, và cũng đã gọi cho mẹ đi đón tôi rồi. Sẽ chẳng có gì thay đổi cả. Làm gì có lý do gì mà tôi phải thay đổi đâu.
Hôm nay, cỏ như tươi hơn, và những đám mây trắng muốt bồng bềnh trôi trên nền trời xanh ngắt. Và hôm nay, gió vẫn khẽ khàng thổi. Tôi cứ nhìn đăm đăm vào đường chân trời thẳng tắp phía trước, chân bước đều đều về phía khoảng không xa xôi vô định ấy.