Chương 10: Jane Doe


Một người tự nhận là đặc vụ của một tổ chức với cái tên kỳ lạ R.E.S.T tiếp cận

Thứ Bảy cuối tuần khởi đầu với một buổi sáng mát mẻ và cảnh bình minh tuyệt sắc, làm phấn chấn tinh thần vốn đã thoải mái của David. Ánh nắng xiên qua tấm rèm cửa sổ, vắt những đường thẳng dài qua một bức thư để mở trên bàn làm việc - lời hồi đáp của Letheia mà anh nhận được hồi chiều qua.

Không những chẳng có ca trực nào, anh còn có một cuộc gặp với cô vào chiều nay, và địa điểm cũng vô cùng đặc biệt: tại ngôi nhà mà cô sống.

David điểm lại những việc cần làm trước khi ra khỏi nhà, anh đổ đầy một tô thức ăn hạt cho mèo Leti, hứa với nó sẽ kể lại mọi việc anh làm trong ngày cho nó nghe. Kiểm tra lại cửa sổ, kéo nhẹ tấm rèm để ánh nắng vào phòng được nhiều nhất, bởi cô mèo thích nằm ườn sưởi nắng. Chỉnh trang lại trang phục và đầu tóc lần thứ năm, anh ra khỏi nhà với nụ cười trên mặt.

Gần chục phút đạp xe, David dừng lại trước phố Rumlow, anh cẩn thận để chiếc xe đạp xanh lam cũ kỹ vào nơi quy định. Khu phố này cấm mọi loại phương tiện giao thông, chỉ dành cho người đi bộ và là một trong những địa điểm mang lại kinh tế lớn nhất cho Maplebrook - một thị trấn nhỏ chủ yếu dựa vào du lịch để phát triển.

Phố Rumlow trải dài gần ba cây số, như một trục xương sống chạy dài từ Quảng trường Trung tâm của Maplebrook tới mạn đầu khu dân cư phía nam. Hai bên đường là những dãy nhà gạch đỏ và gỗ sơn trắng, mái dốc lợp ngói xám bạc vì mưa gió. Trên các bức tường còn hằn vết rêu loang, cửa sổ khung gỗ dày, có nơi treo rèm ren đã ngả màu vàng. Trước hiên nhiều cửa tiệm vẫn còn những biển hiệu gỗ lạc thời, chữ khắc tay mòn vẹt, đung đưa nhẹ dưới những sợi xích sắt đen.

Ban ngày, Rumlow là con phố ồn ào nhưng ấm áp, với nhịp sống chậm rãi đặc trưng của một thị trấn du lịch miền đông bắc nước Mỹ. Từng cụm khách du lịch thong thả bước dưới hàng cột điện cổ ven đường, dừng lại trước những cửa hàng nhỏ bán mật ong rừng, pho-mát thủ công, những tấm chăn len dệt tay hay những hộp gỗ sơn mài từ thế kỷ trước. Thỉnh thoảng, tiếng kèn harmonica hay guitar đường phố vang lên, hoà vào mùi bánh táo nướng lan tỏa từ tiệm bánh ở góc phố, làm con đường có cái chất gì đó thật bình dị và mộc mạc.

Nép trong lòng Rumlow là những tiệm đồ cũ và cửa hàng cầm đồ, chen giữa quán cà phê gia đình, quán ăn trưa nhỏ, những nơi tồn tại như chưa bao giờ thay đổi qua nhiều thế hệ. Không khó để bắt gặp hình ảnh những chiếc máy đánh chữ xước sẹo hay máy hát đĩa than, bày ngay ngắn sau những tấm kính phủ bụi. Tất cả như kể lại lịch sử thầm lặng của vùng đất này.

Ở góc ngã tư đầu phố, nơi Rumlow nối liền với đường chính là Harper’s Deli - quán ăn gia đình lâu đời mà dân bản địa vẫn lui tới. Đây cũng là nơi mà David mời Letheia bữa tối đầu tiên chỉ riêng hai người, anh vẫn tiếc nuối vì đó không phải là một tối trọn vẹn, bởi sự xuất hiện của những khách du lịch say xỉn và khiếm nhã.

Ban đêm, Rumlow khoác lên vẻ đẹp khác, những ngọn đèn đường cao kiểu cổ bật sắng, rải ánh sáng vàng nhạt loang trên mặt gạch, in lên đó bóng dáng thuơ thớt dần của những vị du khách và những cánh cửa sổ khép hờ. Trong tĩnh lặng, cả con phố giống như một dải hồi ức còn sót lại từ thế kỷ 19, một sân khấu nơi thời gian chảy chậm, để những người biết tìm có thể nghe được tiếng thì thầm của quá khứ.

David đi bộ một đoạn theo đường chính của Rumlow, khoảng năm phút sau, anh dừng lại trước tiệm đồ cổ Bitt & Corste - một cửa tiệm mà từ lâu anh đã là khách quen. Với việc từng sửa chữa lại không ít món đồ hỏng hóc từng chỉ để làm vật trang trí, David đã giúp ông bà chủ tiệm thu về những khoản hời lớn mỗi lần mua đi bán lại.

Dĩ nhiên, sự hợp tác ấy không chỉ đến từ một phía, cũng có một số món đồ anh yêu thích được ông bà chủ bán lại với cái giá mà mọi nhà sưu tầm phải ghen tị. Cả anh và đôi vợ chồng già đều thể hiện sự yêu thích nét cổ kính của những tạo tác từ thế kỷ trước hay xa hơn nữa. Họ có thể ngồi nói với nhau hàng tiếng đồng hồ về một cái máy chiếu cũ, hay người xưa đã tài hoa thế nào trong Cách mạng Công nghiệp.

Thế nhưng hôm nay, anh chỉ ghé qua Bitt & Corste để chào hỏi, xem xét qua chiếc máy ảnh chân đứng già hơn tuổi của mình, trước khi đi sang cửa tiệm đối diện - đích đến thật sự của chuyến đi này - một cửa tiệm có tên Tiệm cầm đồ Ethan.

Tiệm cầm đồ Ethan khá nhỏ, cũng chẳng hề nổi bật so với các gian hàng xung quanh.  David từng ghé qua một lần, dù chưa từng mua bán, nhưng đủ giúp anh nhớ quầy hàng có những gì.

Đi qua bảng hiệu sơn đỏ đã bong tróc, bên trong tiệm thoang thoảng mùi gỗ ẩm và sắt rỉ. Những dãy tủ kính bày đủ thứ lặt vặt: đồng hồ, máy ảnh, vài cây guitar đứt dây. David chào ông chủ rồi bước thẳng tới kệ điện thoại.

Sau vài phút xem qua những model xước vỏ, pin phồng, anh dừng lại ở một chiếc Google Pixel 6a màu đen, ngoại hình còn khá mới. Anh cầm lên, xoay qua xoay lại trong tay, cảm giác chắc chắn - một món đồ vừa đúng yêu cầu anh đang tìm.

Trong lúc chờ ông chủ lấy sạc để thử máy, David tình cờ liếc vào tấm gương treo bên quầy. Ở góc phản chiếu, sau lưng anh, xuyên qua ô cửa sổ khung gỗ thông xỉn màu là bóng dáng một người khách du lịch với áo khoác sáng màu và chiếc máy ảnh đeo trước ngực.

Mọi chuyện sẽ chẳng có gì đáng bận tâm, nếu như vị khách ấy thực sự bận rộn săm soi những món đồ cổ ven phố, thay vì đứng yên cứng ngắc, ánh mắt hướng thẳng vào lưng anh chẳng rời. Hắn không hề ngắm nghía cửa hàng nào trên con phố, cũng chẳng đưa máy ảnh lên chụp lấy một tấm. Hắn thậm chí tỏ ra khó chịu và nhanh chóng đuổi đi một người bán hàng rong vừa ân cần hỏi han.

David giả vờ dửng dưng, hỏi thêm về vài chiếc điện thoại khác để câu giờ, đồng thời kín đáo quan sát.

“Lấy cho tôi cái này.”

Thanh toán và bước ra khỏi cửa tiệm, anh quyết định không lấy xe ngay mà đi bộ vào sâu hơn trong con phố, đồng nghĩa với việc đi ngang qua vị khách du lịch đáng ngờ.

Thoáng một ánh nhìn chớp lẹ, David nhận thấy hắn đi một đôi giày da đen bóng với đế cứng, chẳng hề ăn nhập với bộ đồ đang mặc, cũng không phải lựa chọn tối ưu cho những cuốc đi bộ dài trong Rumlow.

Ngay khi anh cách vài bước, hắn đã quay người di chuyển bám theo sau, giữ khoảng cách chừng hai mét. Dù con phố khá đông người qua lại do đúng thời điểm cuối tuần, David nhận ra hắn bám theo với tốc độ ngang bằng, quyết không để lạc mất mục tiêu.

Cũng chỉ hai phút sau đó, thêm một vị khách du lịch đáng ngờ khác xuất hiện, mặc áo có cùng hoạ tiết với tên trước, như thể cả hai mua đồ tại cùng một cửa tiệm.

Rất nhanh, David nhận ra đã có ba người bám theo sau. Anh tự hỏi liệu có phải bọn họ theo anh từ tận nhà tới đây, bởi chẳng thể nào họ biết trước anh sẽ đi đâu.

Một loạt câu hỏi nảy ra trong đầu: Những người này là ai vậy? Là cảnh sát mặc thường phục? Là người của Chính phủ đang tìm kiếm mèo tím Leti? Hay… bên nào đó liên quan đến việc mọi người chẳng ai nhớ điều gì đã thật sự xảy ra tại Quảng trường Trung tâm?

Vẫn giữ nguyên tốc độ, David bất ngờ rẽ sang con đường nhỏ giao cắt với phố chính Rumlow, nơi tức thì có một đoàn khách du lịch ồn ào đi qua. Lợi dụng dòng người, David đoán có lẽ anh đã cắt đuôi được mấy kẻ đeo bám, thì bất ngờ sóng bước bên anh là một người đàn ông Châu Á, mặc áo choàng kaki phủ đến tận gót chân.

Ông ta chỉ cao đến vai David, nhưng sải chân vẫn đủ dài để bắt kịp và song hành với anh. Anh nhìn thoáng qua, mặt ông ta đã có nếp nhăn, tóc điểm chút bạc được chải chuốt cẩn thận. Khuôn mặt ông toát lên sự hiểu biết và thông thái, David đoán chừng ông ta khoảng 50 tuổi.

“Xin chào anh, David.”

Người đàn ông bắt chuyện, gương mặt thư giãn và thoải mái như đang chào hỏi một người bạn. Bàn tay giơ tay ra nhưng không được hồi đáp.

“Chà, cậu không bất ngờ khi tôi biết tên cậu sao?”

David vẫn im lặng và bước đi. Phía sau anh, ba vị khách du lịch bị cắt đuôi lúc trước cũng đã xuất hiện trở lại.

“Xin tự giới thiệu, tôi là Alex, một đặc vụ đến từ R.E.S.T.”

R.E.S.T - một cái tên xa lạ, David chưa từng nghe qua. Không có vẻ gì là giống các cơ quan hành pháp, nhưng chắc hẳn phải là một tổ chức có ảnh hưởng, đủ nguồn lực để cho nhiều người bám theo anh đến vậy.

Đi thêm chục bước, David đột ngột dừng lại tại trung tâm phố Rumlow, nơi được quy hoạch thành một quảng trường nhỏ - điểm giao cắt với các tuyến đường phụ. Hành động của anh khá bất ngờ so với dự tính của người đàn ông Châu Á, khiến ông ta lệch nhịp một bước.

“Ông là ai, và ông muốn gì?”

“Tôi là Alex, đặc vụ của R.E.S.T”, ông ta nhắc lại lần nữa, bàn tay vẫn đưa ra một cách lịch sự. David miễn cưỡng bắt tay.

Bằng một cái gật đầu nhẹ của Alex, ba người đeo bám anh tức tốc rời khỏi quảng trường, lẫn vào đám đông khách du lịch. David đoán là họ chia nhau ra canh các ngả, có thể là để ngăn chặn nếu anh hành động liều lĩnh hay tìm cách bỏ chạy.

“Tôi chưa từng nghe thấy cái tên R.E.S.T bao giờ. Chính xác thì ông thuộc cơ quan nào vậy?”

Alex mìm cười, tỏ ra thân thiện.

“Chúng tôi không thuộc cơ quan nào mà anh biết đâu. Trên thực tế thì chúng tôi còn chẳng tồn tại cơ.”

Thấy ánh nhìn khó hiểu của David, Alex liền cho tay vào túi áo, hành động này khiến anh cảnh giác và lùi lại một bước. Mỉm cười, ông ta lôi ra một chiếc ví đen dày, khẽ lật nắp ví da, để lộ một huy hiệu tròn ánh lên dưới ánh sáng vàng nhạt. Nền vàng rực bao phủ toàn bộ, nổi bật chính giữa là một con mắt đen được khắc gọn trong hình chiếc khiên, xuyên dọc từ trên xuống là mũi kiếm thẳng đứng - vừa như thanh gươm bảo hộ, vừa như lưỡi dao sẵn sàng kết liễu.

Xung quanh viền ngoài là hàng chữ đen đậm:

R.E.S.T ở phía trên cùng, còn phía dưới chạy vòng tròn là bốn từ khóa: Research - Experiment - Secure - Terminate. Tất cả đều được khắc sắc nét, viền nổi nhẹ khiến ánh sáng hắt ra loang lổ theo từng nét chữ.

Dưới cùng, uốn lượn theo phù hiệu ấy là dòng chữ nhỏ, in nghiêng.

Memento Aeternum.

David nhìn chằm chằm vào dòng chữ bé nhỏ ấy. Nó chẳng hề nổi bật so với tổng thể phù hiệu mà nó được khắc lên, thậm chí anh chẳng biết ý nghĩa là gì. Thế nhưng, có gì đó trong anh bị xáo động, đầu anh nhói lên một cơn đau nhẹ.

Cố gắng giữ mặt không biến sắc, không để lộ biến chuyển gì, anh nói:

“Thứ này chẳng chứng minh được gì cả.”

Không rõ vì sao, anh cảm thấy tấm huy hiệu cũng khá quen thuộc. Alex phá lên cười đắc thắng với nhận xét ấy.

“Đúng thế đấy! Tôi cũng nói với họ rồi mà, tạo ra mấy cái huy hiệu để làm gì khi người ta chẳng biết mình là ai cơ chứ? Nhưng mà, anh biết đấy, quy trình ấy mà.”

David không mỉm cười hay phản ứng lại.

“Vậy là các ông thuộc một tổ chức khoa học à?”

Alex cất lại ví vào túi trong.

“Chúng tôi làm nhiều thứ lắm, trong đó chắc chắn có nghiên cứu và thí nghiệm. Nhưng chúng tôi còn làm các việc khác nữa. Bao gồm cả bảo vệ và, thậm chí là tiêu trừ một số thứ.”

Dừng lại chừng một hai giây để suy xét câu từ, ông ta nói như để khẳng định:

“Chúng tôi chuyên xử lý những vấn đề không ai biết. Anh có thể nói là chúng tôi bảo vệ thế giới này.”

“Bảo vệ thế giới này?”

Đôi mắt ông ta sáng lên khi David thắc mắc, như thể thợ săn bắt được con mồi, Alex khẽ nghiêng đầu về phía anh, làm bộ như để những du khách đang đi qua hai người không thể nghe thấy.

“Khỏi những thứ cũng không tồn tại. Như cái thứ anh thấy ở đài phun nước, chỗ Quảng trường Trung tâm ấy.”

David không đáp lại cái nháy mắt cũng như gợi nhắc của Alex về vụ việc. Dù không thể hiện ra mặt, nhưng trong đầu anh chạy hàng loạt kịch bản và câu hỏi. Người đàn ông trước mặt anh có đáng tin? R.E.S.T có phải là cơ quan đã tẩy não, khiến mọi người quên đi chuyện gì đã xảy ra? Ông ta biết rõ về cái thứ tại đài phun nước đến đâu? Bọn họ có nhắm tới Letheia không?

Sự im lặng của David vô tình lại trở thành đáp án mà Alex tìm kiếm.

“Vậy đúng là anh vẫn còn nhớ mọi thứ nhỉ?”

“Các ông muốn gì? Dù tôi có nói gì thì cũng chẳng ai tin đâu.” David không phủ nhận, bởi chẳng có lý do để anh làm vậy, nhất là khi đối phương đã nắm rõ tình hình.

“Quả đúng như vậy,” đặc vụ Alex trả lời, ông ta bất ngờ vì sự điềm tĩnh của David. Không giấu nỏi sự tò mò, người đàn ông Châu Á tiếp tục.

“Tôi chỉ thắc mắc một điều, làm sao mà anh vẫn nhớ? Đáng lẽ đó là chuyện không thể xảy ra. Chính xác thì anh là ai vậy?”

Anh chỉ khẽ mỉm cười.

“Tôi là David A. Renner, Kỹ thuật viên đang công tác tại Toà nhà Di sản văn tự Vermont. Nhưng những thứ này chắc ông đã biết rồi, đọc lại hồ sơ tôi đi.”

Alex nhướn mày, ông ta mỉm cười trước lời châm chọc.

“Tôi đọc rồi, David à. Tôi cũng biết về việc anh mất trí nhớ sau một vụ tai nạn. Nhưng bật mí cho anh biết này, từng mất đi ký ức chẳng liên quan gì tới việc anh vẫn nhớ về sinh vật kia.”

Thoáng chút thay đổi trên nét mặt anh cũng đủ để Alex nắm bắt được, như một con cáo già khôn ngoan, ông ta tiếp tục.

“Tôi làm được nhiều thứ hơn là che giấu sự thật về một sinh vật vốn không tồn tại. Tôi có thể giúp anh, nếu như anh có thể giúp tôi. Có qua, có lại.”

“Ý ông là sao?”

“Tôi cần anh giúp tìm một người.”

“Tìm người? Chẳng phải các ông đã tìm thấy tôi rất dễ dàng sao?”

Alex gật gù, đồng ý với nhận xét của anh.

“Hồ sơ cảnh sát ghi chép về một Jane Doe có mặt tại hiện trường, tại ‘trung tâm vụ nổ đường dẫn khí đốt’, chắc anh hiểu ý tôi” - đặc vụ Alex ra dấu tay trong ngoặc kép, ông tiếp tục. “Trong hồ sơ cũng cho biết anh ở gần đó nhất. Anh cũng là người duy nhất ký ức không bị bóp méo… Hẳn anh phải nhớ điều gì đó?”

Ông ta chưa tìm ra cô ấy!

Lần đầu tiên trong đời David thầm cảm ơn cung cách làm việc có phần lỏng lẻo đến mức sơ sài của cảnh sát Maplebrook. Thậm chí họ còn chẳng ghi nhận lại các câu trả lời của anh lúc lấy lời khai ở bệnh viện. Bởi nếu có, thì người đàn ông trước mặt anh đã biết cả hai làm việc tại cùng một nơi, từng hẹn gặp nhau vài lần rồi.

David cũng hiểu Jane Doe là gì - một thuật ngữ của cảnh sát để chỉ những người phụ nữ chưa xác định được danh tính. Linh tính mách bảo rằng ‘đặc vụ Alex’ đang trao đổi với anh không hề đơn giản, và hẳn ông ta nghi ngờ anh có mối liên hệ với Jane Doe.

“Vậy… cái cô Jane Doe này thì có vai trò gì?”

Alex suy ngẫm vài giây như thể cân nhắc điều gì đó, giọng trở nên nghiêm nghị hơn.

“Tôi tin cô ta là mục tiêu của sinh vật này. Tôi không thể cho anh biết gì hơn, nhưng tôi có dự cảm rằng cô ta cũng giống anh, vẫn nhớ về sinh vật ấy.”

Câu trả lời của Alex lại càng khiến David tò mò, làm thế nào mà ông ta có thể khẳng định chắc chắn vậy? Làm sao ông ta biết chỉ anh và Letheia đều còn nguyên ký ức?

“Dựa vào đâu mà ông nghĩ vậy?”

Alex không trả lời, chỉ nhún vai im lặng. David hiểu rằng sẽ chẳng thể moi thêm được thông tin nào hữu ích hơn.

“Nếu tôi tìm người này… Đổi lại thì tôi được gì?”

“Chà, anh có thể có bất kể thứ gì anh muốn. Tiền bạc hay một công việc mới. Cũng có thể là chính những ký ức quý giá anh đã mất chăng?”

Đặc vụ Alex nhìn thẳng với mắt anh, và anh lập tức hiểu ra tất cả những điều ông ta nói - ông ta có thể làm được. David tự hỏi, giới hạn của họ tới đâu, khi mà đủ khả năng thay đổi ký ức của hàng chục người, thao túng tin tức truyền thông, và giờ đây còn hứa hẹn khôi phục lại những ký ức đã mất.

“Và người phụ nữ này… Ông sẽ làm gì với cô ấy?”

“Tôi… Chúng tôi bảo vệ cô ấy,” sự ngập ngừng dù chưa đến nửa giây của Alex không qua được David, “chẳng phải tự nhiên mà nó xuất hiện như thế. Chúng tôi muốn biết mục đích của nó là gì, tại sao nhắm vào cô ta.”

David không hoàn toàn tin tưởng những lời này. Rõ ràng ông ta đang che giấu điều gì đó.

“Đây là số điện thoại của tôi, liên lạc cho tôi khi anh nhớ ra điều gì, hoặc khi tìm ra cô gái ấy nhé.”

Alex đưa cho anh một tấm thẻ trắng xoá chẳng có lấy một ký tự. David tay cầm thẻ, anh xem xét và nhận ra chỉ khi nhìn hơi nghiêng, tấm thẻ mới lộ ra một dãy số được in rất mờ.

Thông minh đấy - anh thầm nghĩ.

Cả hai tạm biệt nhau một cách lịch sự, David tiếp tục đi về phía trước, dự tính sẽ đi hết con phố Rumlow rồi mới rẽ sang đường khác để quay về bãi đỗ xe. Anh muốn dám chắc không có kẻ nào lại bám theo mình.

Về phần Alex, một trong các đặc vụ cải trang nhanh chóng đến bên ông, thì thầm vào tai điều gì đó. Alex khẽ cau mày tỏ vẻ không vui chút nào.

“Tạm thời bám theo anh ta. Nhớ giữ khoảng cách đấy.”

Người kia gật đầu, nhanh chóng hoà vào dòng người và biến mất.

Khi chắc chắn chỉ còn lại một mình, đặc vụ người Châu Á mới lấy ra một chiếc điện thoại, ông ta mở lên một video đã xem cả chục lần: loạt hành động của một người đàn ông, lao thân mình một cách đầy dũng cảm về phía cô gái đang bay lơ lửng trước đài phun nước.

Người đàn ông trong video thành công đỡ lấy cô gái khi cả hai rơi xuống. Anh ta ôm lấy cô, lay và gọi. Thật kỳ lạ làm sao, trong mọi khung cảnh, không thể nào bắt được mặt của cô gái ấy. Tại nơi đáng lẽ là gương mặt, trong mọi video và hình ảnh đã thu thập luôn cho ra một kết quả: những điểm nhiễu nghiêm trọng che mờ, không thể xoá bỏ hay khôi phục.

Alex tặc lưỡi, ông ta nhét chiếc điện thoại vào túi, gãi cằm.

“Rốt cuộc thì… Cô là ai vậy, Jane Doe?”

0

Hãy là người bình luận đầu tiên nhé!

Bình luận

Chưa có bình luận
Preview Settings

Try It Real Time

Layout Type
    • LTR
    • RTL
    • Box
Sidebar Type
Sidebar Icon
Unlimited Color
Light layout
Dark Layout
Mix Layout