Đọc to (tiếng Việt) Nhấn phát để bắt đầu

 

Sử ký hay những câu truyện truyền kỳ sẽ không bao giờ có tên một thằng cai ngục cụt tay. Khốn nạn thay, đối với một kẻ đã cọ xát với ma quỷ ở tận cùng Huyết Ngục, đó lại là ân huệ tuyệt vời nhất mà cuộc đời này có thể ban phát.

- Chữ viết nguệch ngoạc trên một bức vách rêu phong ở làng quê nọ

Nắng tháng sáu đổ lửa xuống mặt đường cái quan, nung lớp đất nện khô khốc bốc lên một thứ mùi ngai ngái của bụi đường và cứt trâu khô.

Gần hai mươi năm trôi qua kể từ cái ngày bầu trời đất Nam thực sự là của người Nam. Đại Việt giờ đã thái bình. Cái chữ “thái bình” nghe thì nhẹ bẫng trên đầu môi đám quan văn trong triều, nhưng ở những miền quê ven đô này, nó được đánh vần bằng mùi rạ mới ủ mốc, bằng tiếng kẽo kẹt của xe cút kít thồ lúa, và bằng việc người nông dân gập lưng cắm mạ mà không còn phải nơm nớp ngoái đầu lại xem có toán lính mũ chóp nhọn nào vác đao đi thu sưu thuế hay không.

Vương Thông đã cuốn cờ rút chạy. Những cái hố chôn chung hàng vạn dân phu bị cỏ dại mọc lút đầu người, che giấu đi sự nhục nhã của một thời kỳ tăm tối.

Ngay tại ngã ba đường, nơi con lộ chính rẽ vào một vùng rừng núi phía Tây rậm rạp, có một cây đa cổ thụ. Rễ nó nổi cuộn lên mặt đất như những con trăn mốc meo, đan bện vào nhau tạo thành những hốc tối om. Dưới cái tán lá rợp bóng khổng lồ ấy, một quán nước chè xanh tuềnh toàng, rách nát đến mức có vứt ra giữa đường cũng chẳng thằng ăn trộm nào thèm nhặt, đang nép mình ngủ gà ngủ gật trong cái oi ả của buổi trưa.

Mái quán lợp bằng lá gồi đã ngả màu xám xịt, xơ xác, lủng vài lỗ to bằng cái rế, để lọt những vệt nắng xiên khoai chiếu thẳng xuống nền đất nện lồi lõm. Bày biện trong quán chẳng có gì ngoài ba cái chõng tre ọp ẹp, mọt ăn lăm nhăm rụng lả tả những mùn cưa vàng khè. Trên cái chõng chính giữa là một bộ đồ lề kiếm cơm mạt hạng: Chục cái bát sành sứt mẻ, một lọ thủy tinh đục ngầu đựng kẹo lạc dính bết vào nhau, một cái điếu cày bằng ống tre đã lên nước bóng lộn, và quan trọng nhất, một cái ấm tích ủ trong giỏ rơm lúc nào cũng bốc khói nghi ngút.

Chủ quán đang gục đầu ngủ gà ngủ gật bên cái chõng.

Người làng gọi lão là lão Chột. Đám trẻ con chăn trâu láo toét hơn thì gọi là ông “Rồng Đất”. Chẳng ai buồn hỏi tên thật, cũng chẳng ai nhớ lão dạt về cái ngã ba này từ bao giờ. Người già cản đản chỉ mang máng nhớ lại, vào cái năm vua Lê Thái Tổ lên ngôi, thiên hạ đại xá, người ta thấy một gã đàn ông gầy như bộ xương khô, rách rưới bốc mùi bùn thối, lảo đảo đi bộ từ phía rừng già ra. Gã quỵ ngã dưới gốc đa này, tưởng chết. Thế mà rồi gã sống, cắm cọc dựng lều, đun nước chè bán qua ngày, lầm lũi như một cái bóng.

Khách vãng lai lần đầu rẽ vào quán, nhìn thấy mặt lão chủ, mười người thì chín người giật mình đánh thót.

Lão già sụ. Cái tuổi có lẽ mới chớm năm mươi nhưng đã tàn tạ như một gốc cây bị sét đánh. Tóc lão bạc trắng như cước, lưa thưa vài mớ buộc vội thả sau gáy. Nửa bên phải khuôn mặt lão thì nhăn nheo, sạm đen vì nắng gió. Nửa bên trái là phần da thịt gồ ghề, lồi lõm những vệt sẹo sần sùi, đỏ au. Nó kéo dài từ thái dương, bò qua gò má, trườn xuống tận cổ. Con mắt trái của lão mất hẳn. Hốc mắt nhăn nhúm, sụp mí, chỉ còn lại một rãnh sâu hoắm đen ngòm. Mắt phải vẫn mở, nhưng con ngươi đục lờ, lúc nào cũng lờ đờ như người say.

Tiếng xôn xao của một đám trẻ con cắt cỏ vang lên ngoài bìa ruộng. Lão Chột choàng tỉnh. Lão ngáp một cái rõ to, để lộ hàm răng ố vàng, khạc một bãi nước bọt xuống gốc cây rồi với tay lấy cái ấm tích.

Bàn tay phải của lão gân guốc, chai sần, nắm lấy quai ấm. Còn bên trái...

Từ dưới ống tay áo nâu sồng xắn lửng, một mỏm cụt thò ra. Cánh tay trái của lão đã bị cắt cụt quá khuỷu. Vết cắt không phẳng lì, cũng không được khâu vá tử tế. Nó túm lại thành một cục thịt tròn vo, nhăn nhúm, lớp da sẹo bên ngoài bóng nhẫy, co kéo căng bần bật.

Lão không hề tỏ ra vướng víu với sự tàn phế ấy. Trái lại, cái mỏm thịt cụt ngủn đó tì đè lên nắp ấm tích một cách thành thục, nhịp nhàng phối hợp với tay phải rót ra năm sáu bát nước chè đặc sánh, xanh lè, bốc hơi nghi ngút mà không sánh ra ngoài một giọt nào.

“Vào đây lũ quỷ sứ”, lão rống lên, giọng khàn đặc như có người xát cát vào cuống họng. “Nắng vỡ đầu ra còn phơi xác ngoài đấy”.

Đám trẻ trâu ào vào quán như bầy ong vỡ tổ. Đứa cởi trần trùng trục phơi cái lưng đen cháy, đứa mặc yếm nâu vá chằng vá đụp rách tả tơi. Chúng tranh nhau ngồi lên mấy cái chõng tre kêu cọt kẹt, chộp lấy những bát nước chè nóng rẫy, thổi phù phù rồi tu ừng ực.

Lão Chột lôi từ dưới gầm chõng ra một rổ khoai lang nướng than hoa, mùi mật chảy ra cháy xem xém thơm lừng. Lão quẳng rổ khoai lên bàn.

“Ăn đi rồi cút. Chật chỗ khách của tao”. Lão nói thế, nhưng miệng lại cười móm mém, hiền khô, làm lộ ra vẻ tưng tửng, bất cần đời của một kẻ đã chẳng còn gì trên đời để mà sợ mất. Tiền nước lão thu bằng ba đồng kẽm rỉ, nhưng tiền khoai thì lão “đãi”, ngày nào cũng thế.

“Kể tiếp đi ông Rồng Đất!” Thằng cu Sứt, mũi thò lò xanh lè, vừa nhai khoai vừa đập tay xuống chõng tre. “Cái đoạn con Rồng dưới vực ấy! Nó đánh nhau với thằng sư hói thế nào?”

Lão Chột với tay lấy cái điếu cày, nhồi một vê thuốc lào to bằng đầu ngón tay cái, châm mồi lửa rồi kéo một hơi dài. Tiếng nước sòng sọc vang lên giòn giã. Lão ngửa cổ, phả một đám khói đặc quánh lên mái nhà tranh, lim dim con mắt còn lại.

“Thì nó đánh nhau chứ thế nào nữa”, lão bắt đầu kể, giọng tâng tâng, bàn tay phải vừa khua múa, cái mỏm cụt bên trái cũng giật giật minh họa. “Thằng sư áo đen... à không, thằng yêu quái đầu trọc áo đen thả ra mười tám cái sọ người bay lơ lửng. Sọ nào sọ nấy phun lửa xanh lè. Thế là con Rồng nhà mình bực mình...”

Lão ngừng lại, chồm người tới trước, hạ giọng rền rĩ làm đám trẻ con nín thở.

“Nó gầm một cái! Ràoooooo! To bằng mười cái sấm sét gộp lại. Rồi nó quật cái đuôi một phát, vỡ nát cái cột đồng to bằng ba cái đình làng. Bọn yêu quái chết không kịp ngáp. Xong rồi nó bay vút lên trời, thân nó bằng ánh sáng cơ mà, tỏa ra sáng lòa cả một góc rừng. Nhờ cái vía của nó bay về phù hộ vua Lê, mà vua Lê mới đánh đuổi được giặc Minh sút quần chạy về phương Bắc đấy. Chứ không thì giờ chúng mày lấy đâu ra khoai mà ăn!”

Đám trẻ nuốt từng lời, mắt tròn xoe, mồm há hốc. Dưới tán đa râm mát, hình ảnh một con Rồng thần thánh ánh sáng, vùng lên từ bùn lầy đánh tan yêu ma hiện ra lung linh, bi tráng như một giấc mơ cổ tích. Chúng vỗ tay rào rào.

“Ông nói phét! Ông toàn bịa chuyện lừa trẻ con!”

Một giọng nói the thé, đanh đá và đầy vẻ trịch thượng đột ngột vang lên, chọc thủng cái không khí kỳ ảo của quán nước.

Đám trẻ trâu tản ra. Đứng ở mép chõng là thằng Triển, con trai độc đinh của ông đồ cuối làng. Nó trạc mười tuổi, quần áo sạch sẽ tươm tất, mặc áo dài the thâm, đầu quấn khăn nhiễu, chân đi guốc mộc. Khác hẳn với cái vẻ lem luốc của lũ bạn chăn trâu, thằng Triển toát ra một vẻ “bề trên” của kẻ được học chữ thánh hiền từ trong trứng.

Nó chắp hai tay sau lưng, hất hàm nhìn lão Chột bằng nửa con mắt, cái môi trề ra khinh khỉnh.

“Thầy con dạy, sử sách triều đình ghi chép rõ ràng. Đức Thái Tổ Cao Hoàng Đế dấy binh khởi nghĩa ở Lam Sơn, được lòng trời thấu tỏ. Trời ban cho thanh gươm thần Thuận Thiên. Thần Kim Quy nổi lên ở hồ Tả Vọng dâng kiếm báu, hào quang sáng rực cả một khúc sông. Lưỡi gươm chém giặc Minh như chém chuối, đi đến đâu cỏ cây cúi rạp, giặc tan đến đó. Chân mạng đế vương thì mới có sấm chớp đùng đùng, rồng bay phượng múa”.

Thằng bé chỉ ngón tay trỏ thẳng vào mặt lão già.

“Giấy trắng mực đen người ta chép rành rành ra đấy. Làm gì có chuyện Rồng nào bị nhốt dưới cống rãnh bùn lầy? Lại càng không có cái lý một con Rồng bị thương lại được thả ra bởi một thằng lính canh ngục nào đó như lời ông kể! Thầy con bảo, những kẻ quê mùa, mù chữ như ông toàn bịa chuyện ma quỷ bậy bạ để phỉ báng triều đình. Nghe chuyện của ông là hỏng cả đầu óc!”

Lũ trẻ trâu đang say sưa nghe chuyện bỗng khựng lại. Gió chiều nào che chiều ấy, cái oai của chữ nghĩa thánh hiền làm chúng chùn bước. Vài đứa bắt đầu xì xào:

“Ờ... ông đồ nói thì chắc là đúng rồi. Rùa Vàng dâng kiếm mới oai chứ. Ở ao cạnh nhà tao đầy rùa đấy, u tao bảo là con cháu của Rùa Vàng...”

“Làm gì có chuyện Rồng nằm dưới bùn bẩn chết đi được. Ông toàn nói phét”.

Bàn tay phải của lão Chột đang nắm cái điếu cày bỗng siết chặt lại. Các khớp ngón tay tấy trắng.

Nụ cười tưng tửng trên môi lão đóng băng trong nửa cái chớp mắt. Lão không tức giận vì bị một thằng oắt con xỉa xói vào mặt. Lão khựng lại, bởi vì đúng khoảnh khắc thằng bé thốt ra chữ “hèn hạ” và “cống rãnh”, một cơn đau khủng khiếp đến từ thứ không còn tồn tại đột ngột xé toạc màng nhĩ lão.

Từ cái mỏm cụt nhẵn thín bên tay trái, lão bỗng cảm nhận được một cách rõ mồn một sự hiện diện của một cánh tay. Một cánh tay khổng lồ, nặng trịch, bọc trong lớp vảy đen nhánh, đang bốc cháy ngùn ngụt bằng thứ lửa hỏa ngục. Lão cảm nhận được móng vuốt của mình đang bóp nát xương sọ của lũ xác binh. Lão ngửi thấy mùi máu tươi xịt thẳng vào mặt mình, mặn chát và nóng rẫy.

Hồ Tả Vọng thơ mộng ư? Rùa Vàng đội gươm sáng lóa ư?

Không phải!

Thứ lão thấy, thứ găm vào linh hồn lão suốt gần hai mươi năm qua, là một cái hố khổng lồ đỏ quạch màu máu khô. Lão thấy thân hình tàn tạ của Long Quân bị đóng đinh chi chít dưới mạch nước ngầm ô uế. Lão thấy lão - một thằng cai ngục ăn cứt đái của giặc để sống qua ngày - đang tự cắn đứt động mạch của mình để hiến máu cho một mảnh vảy. Lão nhớ cái cảm giác ruột gan đứt đoạn khi mười tám sợi xích xuyên qua tủy sống. Lão nhớ đôi mắt Mây, con ranh rừng rú rách nát, đã truyền cho lão sự sống cuối cùng giữa vũng bùn tanh tưởi ấy.

Đó là sự thật. Chỉ có những kẻ ở dưới đáy bùn, những con chó săn tuyệt vọng cắn nát gông cùm để đổi lấy một hơi thở tự do cho mảnh đất này.

Lão chột từ từ cúi xuống nhìn cái mỏm cụt của mình. Cơn đau ảo ảnh rút đi, để lại một khoảng trống hoác lạnh lẽo.

Lão vẫn nhớ như in khoảnh khắc Cột đồng sụp đổ. Linh khí bùng nổ, quét sạch vùng đất chết. Mây dùng rễ cây kéo cả hai văng lên đỉnh núi khi mặt trời vừa ló rạng.

Thức tưởng mọi chuyện đã kết thúc. Hắn nằm trên cỏ non, nhìn ngọn lửa đen trên cánh tay trái từ từ thu lại, lớp vảy rút sâu vào dưới da, chỉ để lại một vết sẹo hình vảy rồng bóng loáng.

Nhưng hắn đã lầm. Lầm to.

Sức mạnh của Thần không phải là món đồ mượn xong là trả. Việc dùng tay trần đánh nát cột đồng, hấp thụ sức mạnh phá hủy của pháp khí tà ác hàng ngàn năm, đã khiến mảnh vảy rồng bị ô nhiễm.

***

Đêm hôm đó, trong cái hang đá lạnh lẽo, Thức tỉnh giấc bởi một cơn co giật kinh hoàng.

Cánh tay trái của hắn phình to gấp ba lần. Những cái vảy đen bóng lúc sáng giờ chuyển sang màu xám ngoét của xác chết trương phềnh. Từ dưới các kẽ vảy, một thứ mủ vàng khè sền sệt rỉ ra, bốc mùi hôi thối tột cùng. Những đường gân đen sì như những con rắn rết bắt đầu trườn dọc lên bả vai, bò lên nửa khuôn mặt trái, cắm rễ vào con mắt trái của hắn.

Mảnh vảy rồng, sau khi hoàn thành sứ mệnh, đã biến thành một khối ung nhọt tà ác. Nó thèm khát nhục thể. Nó muốn nuốt chửng nhân tính của thằng cai ngục để tái sinh thành một thứ ác long mất trí.

Trong cơn đau đớn xé tủy, Thức gầm rú, đập cánh tay trái vào vách đá đến vỡ vụn cả đá tảng, nhưng lớp vảy không sứt mẻ. Tiếng của lũ quỷ hồn phương Bắc trong cột đồng vang vọng trong đầu hắn, réo rắt đòi lấy mạng hắn. Con mắt trái của hắn phồng rộp, nổ tung, máu đen tuôn xối xả.

Hắn đang mất dần ý thức. Sự hoang dại, khát máu bắt đầu xâm chiếm bộ não. Hắn quay sang nhìn Mây đang co rúm trong góc hang, ánh mắt hổ phách của con bé hằn lên sự sợ hãi. Hắn nhận ra, chỉ một khắc nữa thôi, hắn sẽ lao vào xé xác con bé cắn nuốt.

“Mây...” Thức thều thào, máu và mủ trào ra từ khóe miệng. Hắn dùng cánh tay phải, khó nhọc rút thanh đao bị gãy lưỡi mà hắn nhặt được trên đường thoát thân, ném về phía chân con bé.

Mây run lẩy bẩy, nhặt thanh đao nặng trịch lên.

“Chặt mẹ nó đi...”

Thức rít qua kẽ răng, lết tới, kê bắp tay trái của mình lên một phiến đá nhô ra. Hắn ngước nhìn con bé bằng con mắt phải.

“Tao đã hứa với cụ Hạc... hứa với bà già ở nhà... sống phải làm người... Tao không làm quái vật nữa... Chặt mau!”

Mây khóc. Nước mắt lã chã rơi trên lưỡi đao gãy. Nhưng nó hiểu. Nó là con của núi rừng, nó hiểu quy luật sinh tử tàn khốc của sự sinh tồn. Nếu để cái ung nhọt lan đến tim, Thức sẽ chết, hoặc tồi tệ hơn là biến thành quỷ ma.

Nó nín thở, cắn nát môi dưới, vung thanh đao sứt mẻ lên cao.

PHẬP!

Không đứt. Xương rồng cứng hơn thép luyện. Thức gào lên một tiếng chói lói, nhưng không rụt tay lại. Hắn bặm môi, cắn chặt một hòn đá cuội đến gãy cả răng.

“Lại!” Hắn gầm lên.

Mây nhắm nghiền mắt, vung đao chém nhát thứ hai. Rồi nhát thứ ba. Nhát thứ tư...

Máu xịt ra tung tóe, tã dượi vách hang. Tủy xương vỡ nát. Từng thớ cơ đứt lìa. Cho đến khi một tiếng “rắc” giòn tan vang lên, cánh tay quái vật nặng trịch rơi phịch xuống nền đá, vẫn còn giật đùng đùng.

Cơn đau vượt ngưỡng làm Thức ngất lịm. Nhưng trước khi ý thức chìm vào bóng tối, hắn cảm thấy một sự nhẹ nhõm tột độ. Cái giá của sự cứu rỗi đã được trả đủ. Hắn tàn phế. Hắn tàn tạ. Nhưng hắn giữ lại được cái mạng người, giữ lại được linh hồn của một thằng dân đen An Nam sạch sẽ.

***

“Ông bị câm rồi à? Sao không cãi nữa đi!”

Tiếng chua ngoa của thằng Triển kéo giật lão trở về hiện tại. Mùi bùn thối trong hang đá biến mất, trả lại mùi ngai ngái của rơm rạ nung dưới nắng gắt.

Lão Chột chớp chớp con mắt phải. Đôi vai xô lệch của lão thả lỏng, thở hắt ra một hơi thật dài, khói thuốc lào bay tản mác.

Lão nhìn thằng bé con ông đồ, nhìn cái vẻ mặt vênh váo tự hào của nó về những trang sử chép bằng mực thơm. Sự thật của lão... quá gớm ghiếc, quá đẫm máu để nhét vào cái đầu non nớt, sạch sẽ kia.

Lịch sử cần những tượng đài, cần những vị vua anh minh thần võ đứng trên thuyền rồng, cần thanh gươm báu lấp lánh để muôn dân chiêm bái, để răn đe kẻ thù. Lịch sử không thể dựng tượng một thằng cai ngục ăn cứt đái của giặc, cũng không thể tôn thờ một cánh tay rồng thối rữa bị chặt vứt trong xó hang.

Nhưng nếu không có những kẻ ngụp lặn dưới cống rãnh nhơ nhớp ấy, thì lấy đâu ra nền móng vững chãi để xây lên bức tượng đài uy nghi kia?

Nhưng Thức không cần ai lập đền thờ cho mình. Hắn đã sống chui rúc nửa đời, nay được ngồi đây hít thở bầu không khí không có mùi thuốc súng, nhìn bọn trẻ con được ăn no ngủ kỹ, cãi nhau chí chóe. Thế là lãi to rồi.

Lão Chột toét miệng cười. Lão với tay, dùng cái mỏm cụt xoa xoa lên đầu thằng Triển, vò rối cái khăn nhiễu sạch sẽ của nó. Thằng bé cau mày hất tay lão ra.

“Ừ”, lão tặc lưỡi. “Mày nói đúng. Ông nói phét đấy”.

Lão gõ cái điếu cày xuống chân chõng cái cộc. “Trời nóng nứt cả sọ, già cả rồi lẩn thẩn, nhớ nhớ quên quên, bịa chuyện làm quà mua vui cho chúng mày thôi. Vua chúa thì phải có thần tiên giáng thế phò trợ, chứ ai lại đi nhờ vả lũ khố rách áo ôm, cống rãnh bùn lầy. Thầy mày dạy chí lý lắm”.

Lão vung tay xua xua đám trẻ.

“Thôi, cút hết đi. Trưa trờ trưa trật rồi, về nhà ôm mẹ mà ngủ. Chiều mát ra đây ông lại kể chuyện Mộc Tinh bị sét đánh cho nghe”.

Đám trẻ trâu reo lên, chộp nốt mấy củ khoai thừa rồi ùa chạy ra phía cánh đồng, bỏ lại lão già tàn tật ngồi cười hềnh hệch dưới bóng râm.

Lão ngồi đó, nhìn theo bóng lưng lũ trẻ. Tự dưng, lão thấy lòng nhẹ bẫng. Chấp nhận sự lãng quên, với lão, lại là một sự giải thoát.

U... u... u...

Tiếng tù và sừng trâu đột ngột rúc lên từ phía đầu làng, vang rền, kéo lê thê, xé toạc cái tĩnh lặng ngột ngạt của buổi trưa hè. sÂm thanh đanh thép, mang theo uy quyền của quân đội triều đình.

Mặt đất dưới gầm chõng tre bắt đầu rung lên nhè nhẹ. Lão Chột áp lòng bàn tay phải xuống mặt bàn, cảm nhận được từng đợt chấn động đều đặn. Đây hẳn phải là một đạo quân lớn, đang hành quân gấp rút.

Tiếng sáo diều trên đê đứt phụt. Đám chim lợn làm tổ trên cây đa xào xạc cất cánh bay tán loạn.

Từ phía khúc quanh của con đường cái quan, một cuộn bụi mù mịt bốc lên cao như vòi rồng. Rồi từ trong màn bụi ấy, những ngọn cờ đuôi nheo đỏ chót, thêu viền chỉ vàng chói lọi bắt đầu nhô ra. Chữ “LÊ” thêu trên cờ tung bay phần phật, kiêu hãnh cắn xé gió.

“Quân triều đình! Đội thiết kỵ của triều đình đi qua!” Tiếng của lý trưởng gào lên.

Dân làng đang cấy lúa dưới ruộng vứt vội nắm mạ, chạy dạt lên bờ. Mấy bà bán mẹt cau ven đường cuống cuồng gom quang gánh, nấp dạt vào sau những lũy tre. Đám trẻ con lúc nãy còn to mồm, giờ mặt cắt không còn một giọt máu, ôm chặt lấy đùi người lớn, len lén thò mắt ra nhìn.

Tất cả, từ già đến trẻ, từ ông đồ đến lý trưởng, đều đồng loạt quỳ rạp xuống hai bên vệ đường. Trán họ chạm sát xuống nền đất bụi bặm, nín thở. Khí thế của đạo quân chiến thắng, từng đè bẹp mười vạn quân Minh của Vương Thông, tỏa ra một sát khí uy nghiêm khiến dân đen chỉ biết run rẩy bái phục.

Đội kỵ binh tiền phong đi qua. Ngựa bọc giáp da, lính mặc áo vải cờ đào, nai nịt gọn gàng, giáo mác tua tủa sáng lóa dưới nắng mặt trời. Bước chân ngựa đều tăm tắp, vang dội như búa tạ nện xuống trống đồng.

Và ở chính giữa đạo quân, được vây quanh bởi hàng chục võ tướng vạm vỡ, là một vị Chủ tướng cưỡi trên lưng con Bạch mã cao lớn dị thường, bờm trắng toát tung bay như mây.

Đó là một nữ tướng.

Nàng mặc bộ trọng giáp bằng bạc trắng tinh khôi, sáng lóa, chạm nổi hình rồng uốn lượn ôm trọn lấy thân hình thon gọn nhưng rắn chắc. Áo choàng lụa đỏ thắm sau lưng bay cuồn cuộn như một ngọn lửa không bao giờ tắt. Dưới vành mũ trụ hình lông chim, khuôn mặt nàng lạnh băng, góc cạnh, nước da bánh mật sạm màu gió cát sa trường và rừng thiêng nước độc. Nàng toát ra một vẻ đẹp sắc sảo, gai góc, sát phạt, uy nghi đến mức không kẻ nào dám ngước lên nhìn thẳng vào mặt nàng quá một nhịp thở.

Nhưng điểm đáng sợ nhất của vị nữ tướng ấy, thứ khiến giặc ngoài khiếp vía, bá quan văn võ trong triều kiêng dè, là đôi mắt.

Dưới bóng râm của vành mũ, đôi mắt nàng rực lên một màu Hổ Phách trong vắt, tĩnh lặng nhưng sâu thẳm vô cùng. Nó chứa đựng sự hoang dã của loài dã thú, lại mang sự uy nghiêm, từ ái của thần linh núi rừng. Nàng là “Mắt Thần” của Tân triều, là vị tướng được đích thân Đức Thái Tổ giao phó trọng trách mang quân lên vùng Tây Bắc để dập tắt những tàn dư tà thuật và trấn yểm lại các long mạch bị giặc Minh đứt gãy.

Đạo quân uy dũng tiến đến gần cây đa. Cả làng quỳ rạp, không ai dám cựa quậy.

Chỉ trừ một người.

Dưới gốc đa già, trong cái quán nước rách bươm, lão Chột vẫn ngồi vắt chân chữ ngũ trên chõng tre. Lão không quỳ. Lão cũng chẳng buồn đứng dậy gập đầu. Lão thản nhiên dùng mỏm tay cụt đè nắp ấm, rót nốt những giọt nước chè cặn cuối cùng ra bát, rồi đưa lên thổi phù phù.

Sự bất kính lù lù ra đấy. Đám dân làng quỳ gần đó lén ngước lên, mặt tái mét, mồ hôi vã ra như tắm. Thằng cha điên này chán sống rồi! Dám ngồi song song với đại tướng quân triều đình, tội khi quân khi sư chém đầu cả họ cả làng chứ chẳng chơi!

Vị nữ tướng đang lướt đi trên lưng ngựa, ánh mắt hổ phách hờ hững rà qua đám đông quỳ phục. Rồi ánh mắt ấy khựng lại. Nàng nhìn thấy cái quán nước tuềnh toàng. Nhìn thấy cái thân hình gầy nhom, mặc áo nâu sồng rách rưới. Nhìn thấy vết sẹo xù xì kéo dài từ trán xuống cổ. Nhìn thấy cái mỏm tay cụt đang bưng bát nước.

Bàn tay bọc giáp bạc của nàng bất chợt siết chặt lấy dây cương.

Con Bạch mã khẽ hí lên một tiếng ngạc nhiên vì lực giật đột ngột, nó lùi lại nửa bước rồi dừng hẳn.

Nữ tướng vung cánh tay phải lên cao, nắm tay chém mạnh vào không khí.

“DỪNG LẠI!”

Tiếng hô lạnh lẽo, sắc lẹm vang lên. Hàng trăm con ngựa đồng loạt ghìm cương. Hàng trăm bước chân lính gõ nhịp dừng phắt lại. Không một tiếng xì xào, không một vũ khí va chạm. Đạo quân đứng im phăng phắc như một bức tường thành được đúc bằng sắt nguội.

Sự im lặng ngột ngạt bao trùm cả ngã ba đường. Bầu không khí căng như dây đàn chực đứt. Đám dân làng nhắm tịt mắt lại, chờ đợi một tiếng quát tháo, một nhát gươm phạt ngang đầu gã bán nước điên rồ.

Nhưng không. Nữ tướng hất tà áo choàng đỏ sang một bên, tung người nhảy xuống khỏi lưng con bạch mã. Động tác dứt khoát, thanh thoát nhưng đầy nội lực, không gây ra một tiếng động dư thừa dù khoác trên mình bộ trọng giáp vài chục cân.

Nàng cởi bỏ chiếc mũ trụ, kẹp vào nách trái. Mái tóc đen nhánh, óng mượt xõa xuống bờ vai. Nàng chậm rãi bước về phía quán nước rách nát.

Tiếng giày trận bọc sắt nện xuống nền đất nện cộp... cộp... cộp... Mỗi bước đi của nàng như gõ thẳng vào tim những kẻ đang quỳ rạp dưới đất. Cận vệ định bước theo, nàng khẽ đưa tay cản lại. Một mình nàng bước vào dưới bóng râm của cây đa.

***

Khoảng cách từ mép đường vào đến cái chõng tre chỉ độ mười bước chân, nhưng với Mây, nó dài như một đường hầm thời gian nối từ cõi chết trở về cõi sống.

Con bé hoang dã mình đầy rận chấy, ăn cơm thiu thịt thối ngày nào, nay đã là rường cột quốc gia, hô phong hoán vũ vạn người cúi rạp. Còn gã trai trẻ gầy nhom, lấc cấc, mang trong mình dòng máu cuồng nộ của thần linh... giờ đây cạn kiệt, héo hon, khô khốc như một gốc rạ sau mùa gặt.

Mây dừng lại trước mặt Thức. Cách cái chõng tre ọp ẹp ba tấc.

Mùi trầm hương thoang thoảng từ bộ áo giáp của nàng quyện với mùi thuốc lào nồng nặc bốc lên từ người gã chủ quán. Nàng nhìn thẳng vào con mắt phải đục lờ của lão.

Thức ngước lên nhìn nàng.

Hắn nhếch mép cười móm mém, để lộ hàm răng ố vàng quen thuộc. Hắn nhìn vị quyền thần tột đỉnh trước mặt mình như nhìn một đứa cháu gái đi lấy chồng xa vừa ghé qua nhà xin hớp nước.

Mây mở miệng. Giọng nàng trầm ấm, khàn đi vì sương gió chiến trường, không giống tiếng gầm gừ của thú hoang ngày xưa nữa, nhưng vẫn mang cái vẻ xù xì, chân thật ấy.

“Trà... có chát như trước không?”

Thức nheo mắt cười khà khà. Hắn dùng bàn tay phải, đẩy cái bát sành sứt mẻ chứa đầy thứ nước chè xanh đen quánh về phía mép chõng.

“Chát bầm ruột”, giọng hắn phều phào, tỉnh bơ. “Nuốt trôi qua họng thì xót mề. Nhưng nuốt xong... thì ngọt hậu tận tâm can. Quan lớn... đi đường xa, có dám thử một ngụm của kẻ hèn này không?”

Một câu hỏi tưng tửng, bỡn cợt, mà chứa đầy sức nặng của gần hai mươi năm im lặng.

Mây nhìn cái bát sứt mẻ. Nàng nhìn lên khuôn mặt sần sùi sẹo bỏng của Thức. Rồi ánh mắt nàng trôi xuống cái mỏm cụt nhăn nhúm, đỏ hỏn đang giấu dưới gầm bàn. Ký ức về nhát đao chặt đứt tủy xương ngày ấy lại hiện về, rành rọt như vết chém vào lồng ngực nàng. Nàng nợ hắn một mạng sống, một cánh tay, và cả một hình hài con người. Còn mảnh đất dưới chân họ nợ hắn cả một vận mệnh.

Nàng lùi lại một bước, dập hai gót giày bọc sắt vào nhau kêu “keng” một tiếng trang nghiêm.

Trước vô vàn cặp mắt hoảng loạn, không thể tin nổi của các phó tướng, lính tráng và dân làng...

Nữ tướng quân “Mắt Thần” chắp hai tay bọc giáp sắt trước ngực. Nàng từ từ gập người xuống.

Đầu nàng cúi thấp, trán gần như chạm vào bàn tay đang chắp lại. Một cái xá dài, sâu thẳm, tĩnh lặng, mang theo sự tôn kính cao thượng nhất mà một con người có thể dành cho một con người.

Đó là cái cúi đầu của một đứa con đối với cha.

Là cái cúi đầu của một người học trò đối với ân sư.

Và trên hết, đó là cái cúi đầu của lịch sử, thứ lịch sử rực rỡ, sạch sẽ, khoác long bào, buộc phải nghiêng mình tạ tội và tri ân trước sự thật, một thứ sự thật cụt tay, chột mắt, nằm chết gục dưới cống rãnh bùn lầy để cõng vương triều trên lưng.

Tiếng gió ngừng thổi. Tiếng lá đa ngừng rơi. Mọi ánh mắt mở trừng trừng, chết lặng.

Thức ngồi im trên chõng. Hắn không nhổm dậy đỡ nàng. Hắn không nói lời khách sáo rỗng tuếch “quan lớn bớt lễ”. Hắn nhận cái lạy ấy một cách bình thản, an nhiên, như thể đó là chuyện ngày mai mặt trời vẫn mọc.

Bởi vì hắn biết, hắn xứng đáng. Cụ Hạc xứng đáng. Thằng bé Thông bị chém đầu năm ấy xứng đáng. Máu của họ đã đổ xuống, không lưu danh sử sách, thì cái lạy này là phần thưởng duy nhất, và vĩ đại nhất.

Mây giữ nguyên tư thế cúi rạp trong ba nhịp thở chậm rãi.

Khi ngẩng đầu lên, trong khóe mắt nàng lấp lánh một giọt nước chực trào. Nàng không lau đi, cũng không để nó rơi xuống. Tướng quân không khóc trước ba quân.

Nàng nhìn Thức một lần cuối cùng. Ánh mắt như trao đi một lời cuối cùng: Nghỉ ngơi đi. Sống cho tốt. Ta sẽ canh giữ cái thái bình này thay ngươi.

Nàng quay gót. Dứt khoát, mạnh mẽ. Tà áo choàng đỏ phần phật quét qua đám mùn cưa vàng khè vương vãi trên mặt đất. Nàng sải bước về phía con bạch mã, tung người lên yên, đội lại chiếc mũ trụ.

“HÀNH QUÂN!”

Tiếng hô vang rền như sấm. Cả đạo quân rùng mình chuyển động. Tiếng vó ngựa, tiếng thiết giáp lại rầm rập vang lên. Đạo quân đi qua, cuốn theo những đám cát bụi mờ mịt, xa dần về phía chân núi mờ sương Tây Bắc, để lại ngã ba đường đang bàng hoàng chưa tỉnh mộng.

Khi bóng người lính cuối cùng khuất sau rặng tre, tiếng thở phào nhẹ nhõm mới đồng loạt vang lên. Dân làng lóp ngóp bò dậy, tò mò chỉ trỏ nhìn vào quán nước dưới gốc đa. Nhưng không ai dám bén mảng tới gần ông lão bán nước nữa. Trong mắt họ lúc này, lão Chột không còn là một gã ăn mày điên dở. Lão là một thứ gì đó vượt ngoài tầm hiểu biết, nửa người nửa thánh.

Thức không bận tâm đến những ánh mắt soi mói.

Hắn lơ đãng đưa tay trái... không, hắn nâng cái mỏm thịt cụt ngủn lên, định vuốt mặt theo thói quen. Bàn tay không tồn tại quơ vào không khí. Hắn khẽ cười tự giễu, thả lỏng bả vai, dựa hẳn cái lưng rệu rã vào thân cây đa sần sùi.

Hoàng hôn đang dần buông xuống. Mặt trời đỏ rực như một quả cầu lửa đang từ từ chìm nghỉm sau rặng núi xa tít tắp, hắt những tia sáng cuối ngày nhuộm vàng óng mặt đường cái quan. Gió chiều thổi về mát rượi, xua tan cái oi ả, mang theo mùi lúa nếp non thơm ngòn ngọt, mùi của sự sống đang nảy mầm từ những mảnh đất từng bị cày nát bởi đao kiếm.

Thức bưng bát nước chè đặc quánh lên, uống cạn một hơi.

Vị chát xót dội vào cuống họng. Khổ, đắng, bầm gan tím ruột. Nhưng khi trôi tuột xuống dạ dày, một dư vị ngọt ngào, ấm áp lạ lùng từ từ lan tỏa khắp lồng ngực gầy gò của gã lính già.

Bình yên quá.

Gần hai mươi năm qua, chưa có một ngày nào hắn thôi rùng mình khi nhắm mắt. Nhưng hôm nay, những con quỷ không đầu, những cái xác khô, những cột đồng tà ác... tất cả đã tan biến vào hư vô. Tiếng gầm rú của loài rồng đã chìm vào đáy nước sâu thẳm.

Lê Thức nhắm nghiền mắt. Hắn thở ra một hơi dài nhẹ bẫng. Trong cái mơn man của gió chiều, trong mùi khói rạ ấm nồng, người lính gác ngục của Đông Quan năm xưa từ từ chìm vào một giấc ngủ sâu. Giấc ngủ không mộng mị đầu tiên trong đời.

Và trong giấc mơ tĩnh lặng ấy, văng vẳng đâu đây, lẫn trong tiếng lá đa xào xạc, dường như có tiếng một người mẹ đang ru con... trầm ấm, cổ xưa, vỗ về lấy một linh hồn đã tàn tạ vì non sông.

À ơi... con ngủ cho ngoan...

Bình luận đoạn văn

Bình luận

Trả lời bình luận

Chỉnh sửa bình luận

Thiết lập văn bản

Xem trước

Nội dung sẽ hiển thị như thế này

Chọn font chữ

Cỡ chữ

12px 30px