Nước Mắt Cạn Dòng
Mù lòa, có khi không phải là hình phạt. Có khi đó là chút lòng thương cuối cùng của trời đất, để một người mẹ khỏi phải nhìn thấy đứa con mình dứt ruột đẻ ra, từng ngày lột bỏ phần người mà bước xuống đáy huyết ngục.
- Tàn thư họ Lê
Giữa trưa tháng Tư âm lịch, nắng đổ xuống mái ngói nhà họ Lê như ai úp cả một nong than đỏ lên trời. Cái nóng từ sân gạch Bát Tràng hắt ngược lên, dội vào mặt người ta một thứ hơi bỏng rát. Lá mít ngoài góc vườn cụp xuống, bầy gà trống tìm chỗ bóng râm dưới bụi chuối, đứng há mỏ thở. Vậy mà trong khoảng sân rộng của ngôi nhà năm gian hai chái ấy, người ta vẫn đi lại rầm rập.
Hơn hai chục gia đinh cởi trần, da bóng nhẫy mồ hôi, đang khuân từng hòm hàng ra cổng. Những chiếc đòn gánh cong xuống dưới sức nặng của vải vóc, lụa là, gấm vóc đã buộc kín bằng dây thừng. Tiếng chân nện xuống nền gạch, tiếng bánh xe cút kít lạo xạo ngoài đường, tiếng người gọi nhau í ới, tất cả trộn vào nhau thành cái âm thanh quen thuộc của những chuyến hàng lớn.
Ở bậu cửa, thằng Thức ngồi vắt vẻo, hai chân đung đưa trong đôi hài thêu đã hơi chật. Nó mới mười một tuổi, còn nhỏ, nhưng đã biết nhìn người lớn bằng ánh mắt của đứa trẻ sinh ra trong nhà có của. Nó ngồi trên cao hơn mặt sân một chút, vừa nhai kẹo lạc, vừa nhìn đám gia đinh cong lưng chuyển hàng. Vị đường phèn ngọt lịm tan trên đầu lưỡi, đến mức nó thấy cả buổi trưa nóng nực này cũng hóa ra dễ chịu.
Giữa sân, thầy nó đứng chắp tay sau lưng.
Lê Phúc là tay buôn vải có tiếng ở xứ Thanh. Nói là giàu sang phú quý thì chưa đến mức ngang hàng quan lại, nhưng trong cái thời buổi nhiễu nhương, tiền đồng tiền kẽm nhiều khi còn có tiếng nói hơn cả ấn triện. Nhà Trần đã rệu rã, họ Hồ lấn lướt, quan dưới thì nhũng nhiễu, dân trên đường thì đói khát. Người có gan đem hàng đi xa, biết lúc nào mua, lúc nào bán, biết cúi đầu trước quan nha mà cũng biết ngẩng mặt trước con buôn, là người ấy sống được.
Ông mặc áo the thâm, chân đi guốc mộc. Mồ hôi lấm tấm trên vầng trán rộng, nhưng dáng đứng vẫn đĩnh đạc. Một tay ông đặt trên cái túi gấm đeo ngang hông. Mỗi khi ông xoay người, những đồng tiền trong túi lại khẽ chạm nhau, phát ra thứ tiếng xủng xoảng vui tai.
Đứng cạnh ông Phúc là bác ruột của Thức. Nếu thầy nó đậm người, phóng khoáng, cười nói vang cả sân, thì bác Quý lại gầy gò, mặt xương, mắt sâu. Ông ít nói, nhưng chỉ cần ông đưa mắt nhìn qua, đám gia đinh đang lơ là lập tức cúi đầu làm việc. Mấy năm nay, nhà họ Lê làm ăn được một phần lớn là nhờ Lê Phúc lo đi lại, giao thiệp, liều lĩnh mở đường, còn Lê Quý lo sổ sách, tính toán, cân đo từng đồng lời lỗ.
“Chuyến này không nhẹ đâu, chú ạ”. Lê Quý đặt bàn tay gầy lên nắp một hòm gỗ, gõ gõ nhẹ. “Vốn liếng trong nhà gom gần hết vào đây. Đường lên kinh đô lại chẳng yên ổn. Quan quân, sơn phỉ, thời này khó biết đứa nào ra đứa nào”.
Lê Phúc bật cười. Tiếng cười dày và ấm, như thể chỉ cần cười được thì mọi sự đã có cách xoay xở.
“Bác cả lại lo xa”. Ông vỗ vai anh mình. “Buôn bán mà sợ đường xa thì ở nhà trồng rau còn hơn. Họ Hồ xây thành Tây Đô, quan lại, phú hộ, đám quyền quý nháo nhào gom của, ai cũng cần lụa, cần gấm để tích lũy của cải. Lụa này lên đến nơi, không gấp năm thì cũng gấp bảy. Xong chuyến này, ta tậu thêm ruộng, để thằng Thức nhà em hay thằng Trường, thằng Thành nhà bác sau này khỏi phải nhìn sắc mặt thiên hạ mà sống”.
Nghe nhắc đến tên mình, Thức ngừng nhai, ngẩng mặt lên.
Lê Phúc quay lại, bước về phía nó. Bàn tay to bè của ông đặt lên đầu thằng bé, xoa xoa mớ tóc trái đào của nó rối tung. Thức cười khanh khách, ngửa cổ tránh mà vẫn thích.
“Thức Ngoan, ở nhà nghe lời u”. Ông nói, giọng bỗng hạ thấp. “Đừng có trốn học chữ để chạy ra bờ sông đánh khăng đánh đáo. U mày dạo này mệt. Trong bụng còn có em mày. Con là anh cả, phải biết trông nom nhà cửa, nghe chửa”.
“Dạ thưa, con biết rồi”. Thức đáp nhanh, nhưng mắt vẫn liếc ra đoàn xe. “Chuyến này thầy đi mấy trăng?”
“Hai trăng. Nhiều lắm là ba”. Lê Phúc cúi xuống, chạm trán mình vào trán con. “Thầy về, thầy mua cho mày một con ngựa bạch. Bờm dài, lông mượt, chạy nhanh như gió. Cho mày cưỡi quanh làng, khiến đám trẻ con nhìn đến lòi mắt”.
Mắt Thức sáng lên. “Ngựa bạch thật nhé thầy? Không được là ngựa xám đâu đấy”.
“Tiên sư mày! Khôn như rận”. Lê Phúc bật cười, vỗ nhẹ lên đầu nó. “Ngựa bạch là ngựa bạch. Thầy hứa”.
Một lời hứa của người cha nói ra thì nhẹ, mà về sau nặng đến mức đè lên cả một đời người.
Đoàn xe bắt đầu chuyển bánh.
Bánh gỗ bọc sắt nghiến trên mặt đường đất trước cổng, để lại hai vệt hằn sâu. Đám gia đinh đi hai bên, người vác giáo, người cầm gậy, người đội nón mê. Lê Phúc và Lê Quý cưỡi hai con ngựa nâu ở đầu đoàn. Thức chạy ra tận thềm, bám vào cột hiên, vươn cổ nhìn theo.
Thầy nó quay đầu lại một lần nữa, giơ tay.
Thức cũng giơ tay, miệng cười toe toét.
Khi đoàn xe vừa khuất sau rặng tre đầu làng, gió từ ngoài đồng thổi ngược vào. Ban đầu chỉ là một luồng gió nhỏ, khô và nóng. Rồi đột nhiên nó xoáy lên, cuốn bụi đỏ bay mù qua sân. Thức đưa tay che mắt. Những tấm bạt phủ hàng ngoài xe xa xa phập phồng như ngực người đang thở gấp. Trong gian chính, ngọn nến trước bàn thờ tổ tiên chao một cái.
Phụt!
Lửa tắt để lại một sợi khói trắng mảnh, uốn lên trong khoảng tối sau cánh cửa.
Từ rặng tre, mấy con quạ bị động, đập cánh bay lên, kêu quàng quạc. Bầu trời vừa nãy còn nắng đến rát da bỗng tối sầm. Mây đen từ phía biển kéo vào, thấp và nặng. Những hạt mưa đầu mùa rơi xuống sân gạch.
Một hạt. Hai hạt. Rồi ào một cái, mưa đổ.
Mưa đập lên mái ngói, lên lá chuối, lên mặt sân nóng, bốc lên thứ mùi đất ẩm ngai ngái. Thức đứng dưới hiên, nhìn vào màn mưa trắng xóa che khuất con đường thầy nó vừa đi qua.
Ba tháng sau, mưa vẫn chưa dứt hẳn.
Cả xứ Thanh như bị ngâm trong một cái chum nước đục ngầu. Đường làng nhão nhoét. Những thửa ruộng ven sông đầy bùn, cỏ dại mọc cao ngang bắp chân. Sáng nào cũng có sương giăng là là trên mặt đất, đến trưa thì nắng hâm lên thứ mùi ẩm mốc chua lòm, chiều xuống lại mưa.
Nhà họ Lê vẫn đứng đó, năm gian hai chái, mái ngói đỏ sẫm vì nước mưa, cột gỗ lim đen bóng. Nhưng cái vẻ tấp nập đã biến mất. Sân rộng quá nên trông càng trống. Những chiếc xe ngựa, những hòm lụa, những đòn gánh, tiếng người cười nói ngày nào đều như bị nước mưa cuốn đi mất.
Đoàn hàng không đến kinh đô. Mà cũng không quay về.
Tin tức ban đầu chỉ là những lời rỉ tai ngoài chợ. Một gã phu xe từ mạn ngược trở xuống nói thấy xác ngựa dưới khe núi. Một người buôn muối bảo đoạn đèo ấy mấy hôm trước có máu loang trên đá. Có kẻ chắc như đinh đóng cột rằng đó là sơn tặc, có kẻ lại hạ giọng thì thào bọn cướp đi giày sắt, áo lót trong thêu chỉ đỏ như lính trong nha. Ở cái thời nhiễu nhương ấy, quan quân và giặc cướp nhiều khi chỉ khác nhau ở tấm áo. Ban ngày cầm ấn, ban đêm cầm dao; sáng đọc lệnh triều đình, tối chia nhau hàng ăn cướp.
Người ta nói đoàn buôn của anh em họ Lê bị chặn ở một khúc đèo vắng. Hàng bị vét sạch. Người bị giết. Xác quăng xuống vực. Có thể còn xương, cũng có thể đã bị những con sói đói xóa sạch dấu vết.
Những lời ấy đi qua cửa nhà họ Lê như gió độc.
U của Thức không tin. Bà vốn là người đàn bà tròn trịa, trắng trẻo, nói năng nhỏ nhẹ mà tính toán không thua gì chồng. Trước đây, mỗi khi hàng nhập về, chính bà là người ngồi trong buồng trong, sờ tay lên từng tấm lụa, biết thứ nào dệt kỹ, thứ nào pha sợi xấu. Người ngoài chỉ thấy Lê Phúc cười nói ngoài chợ, không mấy ai biết trong nhà, bà mới là người giữ chìa khóa hòm tiền.
Nhưng từ ngày chồng không về, bà gầy đi từng hôm.
Bụng bà đã nhô rõ dưới lớp áo tứ thân cũ. Đứa trẻ trong bụng là lời dặn cuối cùng của Lê Phúc trước khi đi. Vì thế bà càng không dám gục. Sáng nào cũng vậy, vừa nghe gà gáy, bà đã ra cổng đứng. Mưa thì khoác áo tơi. Nắng thì lấy khăn vấn che đầu. Đôi mắt bà nhìn mãi về phía con đường cái, nơi đoàn xe đã khuất.
“Thầy mày biết đường về đấy”. Bà nói với Thức, không rõ là nói cho nó nghe hay cho chính mình. “Người như thầy mày, trời không bắt dễ thế đâu”.
Thức tin mẹ. Trẻ con sống được là nhờ tin lời người lớn.
Nhưng bọn chủ nợ thì không sống bằng niềm tin ấy.
Chúng đến lẻ tẻ trước. Một người, rồi hai người. Kẻ nói Lê Phúc mượn tiền mua hàng, kẻ nói Lê Quý cầm ruộng, kẻ chìa ra giấy nợ có dấu son đỏ lòm. U Thức cầm từng tờ lên xem, môi mím chặt. Có tờ đúng, có tờ sai, có tờ nét mực còn mới đến mức chỉ cần ngửi đã thấy mùi gian trá. Nhưng chồng không có nhà, bác cả cũng không có. Gia đinh theo đoàn hàng mất tăm mất tích. Một người đàn bà bụng mang dạ chửa, dù có biết giấy nợ là giả, cũng không thể cãi với cả chục cái miệng đang chực cắn vào nhà mình.
Cha Thức không về. Còn lão Tài đã đến.
Hôm ấy, trời vẫn xám, mây treo thấp. Nước từ mái hiên nhỏ tong tong xuống mấy cái chum sành đặt ngoài sân.
Lão Tài bước qua cổng nhà họ Lê như bước vào nhà mình. Lão vốn cũng buôn vải, nhưng hàng của lão xấu, lụa pha sợi thô, màu nhuộm phai nhanh. Nhiều năm trước, lão từng bị Lê Phúc chèn ép nên mất mối hàng lớn. Oán ấy lão để trong bụng, như người ta ủ rượu. Đến bây giờ, lão mới khui ra uống.
Lão mặc áo the màu mỡ gà, bụng phệ, cổ ngắn, mặt rỗ. Nục cười của lão không thành tiếng. Chỉ nhếch mép lên, để lộ hàm răng vàng, như đang thưởng thức một món ăn đã chờ từ lâu.
Sau lưng lão là những đám lính quan nha. Chúng mặc giáp, đội mũ sắt, chân đi ủng, giáo cầm trong tay.
Lão Tài lấy từ trong tay áo ra một xấp giấy. “Lê Phúc vay của ta ba ngàn quan trước chuyến hàng. Lãi mẹ đẻ lãi con. Quá hạn không trả, nhà cửa ruộng vườn phải sung vào nợ. Có quan nha chứng nhận, có dấu đây. Chị Chanh xem cho kỹ”.
Bàn tay u Thức run run cầm lấy tờ giấy, nhưng giọng vẫn cố giữ bình tĩnh. “Chữ này không phải chữ nhà tôi”.
“Chữ ai thì ra quan mà hỏi”. Lão Tài phe phẩy quạt, dù trời lạnh.
“Xin ông thư thư thêm ít hôm”. Bà nói, mắt đỏ lên. “Chồng tôi về thì nợ nào cũng trả”.
Lão Tài nhìn bụng bà, rồi nhìn lên bàn thờ trong gian chính. “Nếu nó còn sống, thì nó đã về rồi từ lâu rồi! Hoặc chẳng, nó ở lại kinh với ả đào hát nào cũng nên!”
Lão Tài không đợi thêm. Lão quay sang đám lính, hất cằm.
“Nhờ mấy quan giúp tôi thu nợ!”
Đám lính tràn vào như nước lũ. Cánh cửa kho bị cạy. Tủ chè bị lật. Chén sứ vỡ loảng xoảng. Những súc lụa còn sót lại bị kéo lê trên nền đất, bẩn nước mưa, bẩn bùn đất. Một tên lính thấy tấm vải tốt liền nhét ngay vào ngực áo. Tên khác dùng cán giáo đập vỡ cái rương gỗ, tiếng gỗ nứt nghe rang rắc như tiếng xương.
Thức đứng nép sau cột, hai tay bấu vào thân gỗ. Nó không hiểu hết chuyện gì đang xảy ra. Nó chỉ hiểu nhà mình đang bị người ta cướp trắng giữa ban ngày.
Rồi lão Tài bước vào gian thờ.
Trên bàn thờ tổ tiên, lư hương đồng đặt chính giữa, hai bên là chân nến, bài vị, mấy chén nước trong. Đó là nơi mỗi sáng u Thức thắp hương, là nơi thầy nó trước khi đi đã chắp tay khấn nhỏ. Với Thức, gian thờ là chỗ không ai được làm ồn, không ai được bước vào bằng đôi chân bẩn.
Lão Tài thì không biết sợ. Hoặc lão biết, nhưng thù hận làm người ta can đảm một cách lạ thường. Lão vươn tay ôm lấy lư hương đồng làm tro rơi xuống, chân nhang đổ nghiêng. Một ít bụi xám vương lên bài vị ông nội Thức.
U Thức lao tới nhưng vấp phải mảnh sành ngã khuỵu xuống, lòng bàn tay rách toạc làm máu thấm trên nền gạch ướt. Bà lại bò tới, ôm lấy chân tên lính đứng gần bàn thờ, giọng vỡ đi.
“Quan lớn… xin để lại chỗ thờ tự. Nhà con có tội gì cũng xin để con trả dần. Đừng động đến hương khói tổ tiên. Người sống còn nhịn được, người chết biết kêu ai…”
Tên lính cúi nhìn bà, nét mặt có thoáng rung động.
Lão Tài đứng bên cạnh, nhếch mép.
“Chồng mày chết đường chết chợ rồi. Giữ lư hương làm gì? Đốt cho nó ngửi à?”
Tên lính cầm giáo lật ngược cán đánh giáng xuống vai bà. Bà Chanh đổ nghiêng, đầu va vào mép cửa. Tóc bà xõa ra, che kín mặt.
“U!” Thức lao tới như con chó con bị dồn vào góc, hai tay ôm lấy chân tên lính, miệng há ra cắn vào bắp chân hắn qua lớp vải ướt.
Tên lính rú lên, giật chân. Hắn chửi một câu tục tĩu rồi co chân còn lại, đá thốc vào ngực thằng bé.
Không khí trong phổi Thức bị ép bật ra. Nó bay ngược, rơi xuống sân. Cả người nó co lại, đau đến mức không khóc được. Miệng nó há ra, chỉ có một chút nước chua và máu rỉ xuống cằm.
Qua màn mưa bụi, nó thấy u mình bị kéo ra ngoài hiên. Thấy cái sập gụ trong nhà bị bốn tên lính khiêng đi. Thấy lão Tài ôm lư hương đồng, bước qua thềm như một chiến lợi phẩm vừa thu được.
Cuối cùng, cánh cổng gỗ lim đóng sập lại.
Từ khoảnh khắc ấy, nhà họ Lê không còn là nhà họ Lê nữa.
Hai mẹ con bị bỏ lại ngoài đường, trên người chỉ còn bộ áo quần ướt sũng. U Thức ngồi bệt dưới hiên, một tay ôm bụng, một tay chống xuống nền đất. Máu từ lòng bàn tay bà loang vào nước mưa thành những vệt hồng nhạt. Thức bò lại bên mẹ, muốn đỡ bà dậy, nhưng chính nó cũng không đứng nổi.
Bà im lặng nhìn chăm chăm vào cánh cổng rất lâu. Như thể nếu nhìn đủ lâu, cánh cổng ấy sẽ tự mở, thầy Thức sẽ từ bên trong bước ra, áo the thâm, tay cầm túi gấm, cười hà hà bảo với mọi chuyện chỉ là một cơn ác mộng.
Nhưng cổng không mở. Thầy nó vẫn không về.
Sau ngày ấy, hai mẹ con dạt ra túp lều xiêu vẹo bỏ hoang ngoài rìa làng, gần bãi tha ma. Mái tranh thủng lỗ chỗ, phên nứa mục, nền đất thấp nên hễ mưa lớn là nước tràn vào. Ban đêm, gió từ đồng trống thổi qua lau sậy nghe xào xạc như có người đi quanh. Xa hơn là mấy nấm mồ cũ không ai hương khói, cỏ mọc lút đầu gối.
U Thức không còn khóc thành tiếng.
Bà ngồi trong góc lều, lưng tựa vào vách phên, hai tay ôm bụng. Đứa trẻ trong bụng bà ít đạp hơn trước. Có khi cả ngày bà không thấy nó động đậy. Thức hỏi, bà chỉ lắc đầu, nói chắc nó ngủ.
Có những đêm Thức tỉnh dậy, thấy mẹ ngồi nhìn ra cửa lều. Ngoài kia chỉ có bóng tối và lau sậy. Nhưng bà cứ nhìn, đôi mắt mở to, đỏ ngầu vì thiếu ngủ. Nước mắt bà rỉ ra từng chút, lặng lẽ, dai dẳng, như nước ngấm qua vách đất. Rồi có một buổi sáng, Thức thấy khóe mắt mẹ dính những vệt ghèn vàng, tròng mắt có màng trắng mỏng. Nó sợ, nhưng không dám hỏi.
Cái thai mất vào một đêm mưa.
Thức run lẩy bẩy nhóm bếp, tay chân vụng về, và u nó nằm trên ổ rơm, mặt trắng như tro. Đứa bé ra khỏi bụng mẹ đã im lặng. Nhỏ quá, nhẹ quá, chưa kịp khóc, chưa kịp mở mắt, chưa kịp có một cái tên.
U Thức ôm nó một lúc lâu.
Sáng ra, Thức đào một cái hố nhỏ sau lều, dưới gốc cây duối. Nó đào mãi mới được một hõm đủ sâu. Bà ngồi bên cạnh, tóc xõa, môi tím lại, hai mắt nhìn đứa con bé bằng nắm tay được bọc trong mảnh áo cũ.
“Em mày có lạnh không?” Bà hỏi.
Thức im lặng vì không biết trả lời thế nào cho phải.
Từ hôm ấy, trong người bà như có cái gì tắt hẳn.
Thức bắt đầu đi kiếm ăn.
Cậu ấm nhà họ Lê giờ đây phải lội bùn ngoài bãi, mò cua, bắt tép, nhặt rau má, mót khoai sau mùa thu hoạch. Đôi tay trắng trẻo trước kia chai dần, nứt ra, máu khô đóng ở kẽ móng. Nó học cách nhìn mặt người xin ăn. Nhà nào chó dữ thì tránh. Nhà nào đàn bà có con nhỏ thì đứng xa mà gọi. Người ta thương thì cho củ khoai, bát cháo, nắm cám. Người ta ghét thì xua đi.
Có hôm nó bị đám trẻ trong làng ném đất.
“Cậu ấm kìa chúng mày ơi! Lêu lêu cậu ấm ăn bùn!”
Chúng cười, chạy quanh nó.
Thức cúi đầu nhặt mấy củ khoai còi trong rãnh nước, không đáp. Nó đã hiểu, nghèo đói làm người ta bé lại rất nhanh. Hôm qua còn là con nhà họ Lê, hôm nay đã là thằng ăn mày ngoài bãi.
Mỗi thứ kiếm được, Thức đều đem về cho mẹ trước dù u nó ăn rất ít. Nhiều khi bà cầm miếng khoai trong tay nhưng nhai rất lâu, như nhai cả nỗi mất mát, cả sự nhục nhã. Thức ngồi bên cạnh, nhìn từng miếng khoai đi qua cổ họng mẹ, lòng vừa nhẹ đi vừa nặng thêm. Nó muốn bà ăn, nhưng mỗi lần bà ăn, nó lại nhớ ra mình chỉ kiếm được chừng ấy.
Một buổi sáng cuối mùa mưa, sương từ bãi sông bò vào trắng xóa cả lối đi.
Thức trở về khi trời còn lạnh. Áo nó ướt ở gấu, bùn bết lên tận đầu gối. Trong tay nó là nửa củ khoai lang nướng, cháy xém bên ngoài, nhưng bên trong còn vàng và nóng. Nó đổi được bằng một mớ ốc nhặt ở bờ ruộng suốt từ tờ mờ sáng. Trên đường về, nó ôm củ khoai trong vạt áo, vừa đi vừa sợ nguội mất.
“U ơi”. Nó bước vào lều, cố làm giọng mình vui. “U dậy ăn đi. Hôm nay có khoai nướng. Còn nóng lắm”.
Trong góc tối, mẹ nó ngẩng đầu lên. Khuôn mặt bà gầy đi nhiều quá, hai gò má nhô cao, môi nứt, tóc bạc lẫn trong tóc đen. Thức đến gần, ngồi xuống trước mặt bà, đưa nửa củ khoai ra.
“U ăn cho khỏe, hôm nay con kiếm được ba củ cơ, cho u củ to nhất đấy, con ăn trên đường về rồi”. Nó nói dối.
Bà chìa tay ra, nhưng bàn tay ấy lại quờ sang bên cạnh củ khoai, sượt qua khoảng không. Những ngón tay gầy guộc, nổi gân xanh, mò mẫm trước mặt như tìm một vật bị ai giấu đi.
Thức tưởng mẹ còn ngái ngủ. Nó đưa củ khoai sát hơn.
“Ở đây mà u”.
Bà vẫn không cầm được. Rồi bà ngước mặt lên, nhìn về phía tiếng nói của nó. Đôi mắt bà mở to. Tròng mắt không còn đen trong như trước. Một lớp trắng đục phủ lên đó, mỏng mà lạnh, như sương đóng trên mặt ao.
“Thằng Thức đấy à?” Bà hỏi khẽ.
“Vâng, con đây u”.
“Sao trời tối thế?” Bà chớp mắt. “Sáng rồi mà… sao u không thấy mặt mày?”
Thức đứng lặng. Nó nhìn mẹ rất lâu. Rồi như hiểu ra điều gì đó, nó vội đưa tay lên cắn vào đốt ngón tay mình. Cắn mạnh đến mức đau nhói, để khỏi bật ra tiếng khóc. Nó muốn khóc. Muốn gào lên. Muốn chạy ra hỏi ông trời xem một người đàn bà đã mất chồng, mất nhà, mất con, vì cớ gì còn phải mất thêm ánh sáng.
Nhưng nó không khóc. Ở một số tuổi, nước mắt là bản năng. Ở một số phận, nước mắt lại thành thứ xa xỉ.
Thức cầm tay mẹ đặt củ khoai nóng hổi vào, rồi lấy hai tay mình bọc lấy tay bà, giữ thật chặt.
“U ăn đi”. Giọng nó nghẹn lại, cố không vỡ. “Sương mù thôi u ạ. Ngoài đồng sương còn đặc lắm”.
Bà im lặng một lúc. “Ừ”. Bà gật đầu. “Sương mù thôi con nhỉ”.
Bà đưa củ khoai lên miệng, cắn một miếng nhỏ.
Thức ngồi nhìn mẹ ăn, hai bàn tay đặt trên đầu gối, móng tay bấm sâu vào da thịt. Nó không biết từ lúc nào mình đã bắt đầu nói dối mẹ. Cũng không biết lời nói dối ấy là tội lỗi hay là chút lòng thương cuối cùng nó còn có thể cho bà.
Đêm đó, trời quang một cách hiếm hoi. Ánh trăng lọt qua những lỗ thủng trên mái tranh, rơi xuống nền đất thành từng vệt. U Thức ngủ trong góc lều, hơi thở yếu và ngắn. Có lúc bà khẽ rên trong mơ, tay đưa ra như tìm kiếm đứa con đã mất. Thức kéo tấm áo rách đắp thêm lên người mẹ, rồi lặng lẽ bước ra cửa.
Ngoài đồng, bãi tha ma nằm im dưới sương, những nấm mồ nhấp nhô như lưng người đang ngủ. Tiếng ếch nhái cũng thưa dần. Xa xa, con đường làng dẫn về ngôi nhà cũ chìm trong bóng tối.
Thức ngồi xuống bậu cửa. Trong tay nó là một con dao găm nhỏ nhặt được dưới bờ mương. Lưỡi dao han gỉ, mẻ một bên. Nó không biết con dao ấy của ai, từng dùng để làm gì, từng cắt rau, mổ cá, hay đã từng chạm vào cổ một con người. Nó chỉ biết khi nhặt nó lên, bàn tay mình bỗng có cảm giác khác.
Nó đặt lưỡi dao lên hòn đá cuội, bắt đầu mài.
Kèn kẹt!
Âm thanh khô, nhỏ, lặp đi lặp lại trong đêm. Mỗi lần lưỡi dao miết qua đá, một ít gỉ sét bong ra. Ánh kim loại mờ mờ hiện lên dưới trăng.
Thức mài chậm. Không vội. Cũng không biết để làm gì.
Nó không dám nghĩ đến việc cầm dao đi giết lão Tài. Cũng không dám nghĩ đến tên lính đã đá nó bay ra sân. Trong lòng nó, phần trẻ con hãy còn nhiều. Nó vẫn tin người tốt rồi sẽ được đền đáp, người ác rồi sẽ bị trời phạt. Nó vẫn tin chỉ cần mình chịu khó, chịu nhục, chịu đói, một ngày nào đó sẽ kiếm đủ tiền mua thuốc chữa mắt cho mẹ. Nó sẽ chuộc lại nhà. Sẽ dựng lại bàn thờ. Sẽ đứng trước mặt lão Tài bằng công lý, bằng một thứ lẽ phải trong sạch nào đó mà người lớn vẫn đem ra dạy trẻ con.
Nhưng một phần khác trong nó biết rằng lẽ phải không tự đi đến nhà người nghèo. Rằng trời đất nhiều khi im lặng trước tiếng kêu của kẻ bị đạp xuống bùn. Rằng một đứa trẻ nếu không có gì trong tay, đến cả khóc cũng phải khóc nhỏ.
Thức đưa lưỡi dao lên ngang mắt. Ánh trăng phản chiếu trên mép thép mẻ, mỏng như một vệt nước. Trong ánh sáng ấy, đôi mắt nó không còn trong veo như ngày nào còn là cậu ấm ngồi trên bậu cửa ăn kẹo lạc.
Trong góc lều, mẹ nó nằm co ro, nhỏ bé như cái bóng. Mới mấy tháng trước, bà còn đứng trong gian nhà sáng, tay cầm chìa khóa kho, mắt nhìn một lượt là biết tấm lụa nào tốt xấu. Bây giờ, đến mặt con mình bà cũng không thấy.
Thức đặt con dao xuống bên cạnh rồi quỳ xuống, chắp tay lạy mẹ ba lạy.
“Con hứa với u”. Nó thì thầm, nhỏ đến mức chính nó cũng chỉ nghe lờ mờ. “Con sẽ đi kiếm tiền. Con sẽ chữa mắt cho u. Con sẽ mua lại nhà. Con sẽ đưa u về”.
Mẹ khẽ cựa mình, nhưng vẫn chìm trong giấc ngủ.
Từ đêm ấy, trong lòng nó đã có một con đường. Con đường ấy dẫn ra khỏi làng, qua bến sông, qua những chợ xa, qua những cổng thành cao mà nó chưa từng thấy.
Ngoài đồng, gió thổi qua lau sậy. Từ chỗ gốc duối sau lều, nơi đứa em chưa kịp đặt tên đang nằm dưới lớp đất ướt, có một tiếng côn trùng rúc lên rất khẽ.
Thức ngẩng đầu nhìn về phía con đường tối.
Nó vẫn còn tin rằng chỉ cần mình đi, trời sẽ sáng.
Nhưng nó chưa hiểu có những người càng đi, càng bước sâu vào bóng tối.
Và có những giọt nước mắt, một khi đã cạn, sẽ không bao giờ trở lại thành nước mắt nữa.