Hương vị phù sa
Nhưng sự yên bình ấy không kéo dài lâu.
Khi ghe của Hai Bình vừa đi khuất một đoạn, một chiếc ghe khác nhỏ hơn, trên có mấy gã người làm mặc đồ bà ba đen của nhà lão Hương quản bỗng từ đâu trờ tới. Có lẽ chúng đã theo đuôi hai vú con cô từ lúc ra vàm. Một tên đứng trên mũi ghe, hống hách quát lớn để dằn mặt Vy trước bàn dân thiên hạ:
“Nè con nhỏ kia! Ai cho mày đậu ghe bán thứ mắm hôi hám này ở đây làm ô uế cả cái chợ? Ông chú mày dặn rồi, không trả nợ thì lo mà về nhà chuẩn bị làm vợ lẽ ông Hương quản, đừng có ra đây bày trò bôi tro trát trấu vào mặt ông Hương quản!”
Mọi sự chú ý của khu chợ nổi vốn đang dồn vào Vy sau khi được cậu Hai mua hàng, nay lại càng thêm xôn xao. Vú Tư sợ đến mức rụng rời chân tay, định chèo ghe chạy đi.
Nhưng Vy thì không.
Cái uất ức bị dồn vào đường cùng, cái hoảng sợ khi bị đưa đến một thời đại xa lạ, quyện với lòng tự tôn của một người luôn coi trọng từng nguyên vật liệu khiến cô không thể im lặng.
Cô đứng thẳng người, không hề run sợ: “Mấy người gọi mùi mắm chưng từ cá tươi quyện với hương vị đồng nội của nếp sạch là ô uế, vậy chắc cái miệng mấy người hằng ngày chỉ ăn cao lương mĩ vị, chứ không biết tới chén cơm của cha mẹ ở nhà? Muốn đuổi tôi đi thì cứ việc bước xuống đây mà dẹp, còn đứng đó chửi bới thì chỉ làm bẩn cái vàm sông này, xúc phạm mùi vị phù sa quê hương thôi!”
Đúng lúc cuộc tranh cãi đang căng thẳng nhất, chiếc ghe bầu gỗ sao đen bóng của cậu Hai Bình bỗng nhiên quay đầu lại. Có lẽ anh đã nghe thấy tiếng ồn ào, hoặc sự nhạy bén của anh nhận ra điều gì đó bất thường.
Chiếc ghe bầu dừng lại ngay sát ghe Vy lần thứ hai. Lần này, anh không ngồi trong khoang nữa mà đứng sừng sững trên mạn thuyền, bóng dáng cao lớn bao trùm lấy tất cả. Đôi mắt lạnh lùng của anh nheo lại nhìn đám người hầu nhà lão Hương quản, nhàn nhạt buông một câu với người lái ghe mình:
“Sáng sớm đi chợ mà để tiếng chó sủa làm đục cả nước sông. Dẹp đám này đi cho rảnh mắt.”
Chỉ câu nói, không cần quát tháo, đám người hầu bên phía lão Hương quản đã vội vã quay đầu chèo chạy trối chết như gặp phải hung thần.
Lúc này, anh mới dời ánh mắt sang Vy.
Anh nhìn cô gái đang đứng thở dốc vì giận, đôi mắt vẫn quắc lên đầy bướng bỉnh. Ánh mắt anh hạ xuống, dừng lại nơi gói xôi nếp than anh vẫn đang cầm trên tay, thứ mà lúc nãy anh đã trả tiền nhưng chưa hề nếm thử.
“Cô nói cái này là hương vị phù sa?” Giọng anh trầm, thấp, nghe rõ mồn một giữa sự im lặng của cả góc chợ.
Vy thoáng khựng lại. Sự áp đảo từ tầm vóc và khí chất của anh khiến cô có chút ngột ngạt, nhưng cái kiêu hãnh của một người làm nghề vẫn còn đó. Cô không run rẩy, mà chỉ nhìn thẳng vào gói xôi trong tay anh, giọng nói đã lấy lại sự bình tĩnh:
“Thưa cậu, ngon hay không phải nếm mới biết. Hương vị cũng do người ăn cảm nhận, chứ không phải do mấy kẻ chỉ biết dùng miệng để hạ nhục đồ ăn. Cậu đã mua rồi, thiết nghĩ cậu nên nếm thử để xem đồng bạc của cậu có đáng giá hay không.”
Anh nhìn Vy thêm một chặp, dường như đang cân nhắc sự bướng bỉnh lạ lùng của cô gái bán hàng rong này. Anh không nói gì nữa, khẽ siết nhẹ gói xôi trong tay rồi xoay người bước thẳng vào khoang ghe.
Lần này anh đi thật, để lại một khoảng lặng đầy sức nặng trên mặt nước. Vy đứng đó, nhìn theo cái bóng lưng cao lớn dần xa, lòng chợt dâng lên một cảm giác nhẹ nhõm nhưng cũng đầy thách thức.
***
Chiếc ghe bầu lướt êm đềm trên sông, để lại sau lưng cái náo nhiệt của chợ nổi Cái Răng.
Trong khoang thuyền rộng rãi, cậu Hai Bình đặt gói xôi bọc lá chuối lên chiếc bàn gỗ cẩm lai ở góc phòng rồi bước thẳng tới chỗ đám người làm đang chờ báo cáo về chuyến hàng gạo vừa cập bến.
Vừa bước chân vào nhà lớn họ Phạm, áp lực của một chủ vựa lúa lớn nhất vùng lập tức bủa vây lấy anh. Những con số về lúa mùa, lúa chiêm, những bản khế ước vay mượn của tá điền cùng hàng tá sự vụ sổ sách từ phía ông Hội đồng Phạm giao lại khiến anh chẳng còn tâm trí đâu để nghĩ đến chuyện khác.
Bình vốn là người nói ít làm nhiều, khi đã lao vào công việc, anh có thể quên cả thời gian, quên cả bản thân mình.
Trời bắt đầu bảng lảng về chiều.
Cái nắng vàng vọt hắt qua khung cửa sổ chạm trổ của gian phòng khách. Anh vẫn ngồi đó, đôi lông mày đậm nhíu chặt trên những trang sổ đỏ loang lổ vết mực. Mãi cho đến khi thằng nhỏ hầu vào thắp đèn dầu, anh mới khẽ buông bút, đưa tay day nhẹ thái dương.
Lúc này, cái bụng rỗng bắt đầu biểu tình bằng những cơn quặn thắt âm ỉ. Anh bận đến mức quên cả bữa cơm chiều.
Anh là người kén ăn có tiếng xứ này. Những món sơn hào hải vị mà đám đầu bếp trong nhà làm ra, đôi khi chỉ nhận được cái lắc đầu lặng lẽ từ anh. Anh ghét những gì quá cầu kỳ, càng ghét những món ăn được bày biện để phô trương thay vì chú trọng vào cái gốc của hương vị.
Bỗng nhiên, trong trí nhớ của anh hiện lên một mùi hương. Nó không nồng nặc như mùi mắm cá sặc cũ, cũng không ngọt xộc như thứ xôi nếp đường thường thấy. Đó là một mùi thơm vừa mặn mòi, vừa thanh tao mà anh đã ngửi thấy trên sông lúc sáng.
Anh đứng dậy, bước về phía bàn gỗ. Gói xôi lá chuối vẫn nằm đó, im lìm và khiêm nhường. Tính từ lúc anh nhận nó từ tay cô gái bướng bỉnh kia đã trôi qua hơn 5 tiếng đồng hồ. Trong tiết trời lộng gió của vùng sông nước, gói xôi không còn nóng hổi nghi ngút khói nữa. Lớp lá chuối bên ngoài đã khô sạm, hơi săn lại do mất nhiệt.
Anh thong thả ngồi xuống, bàn tay thô ráp khéo léo gỡ từng lớp lạt tre. Khi lớp lá chuối cuối cùng được mở ra, một màu đen bóng của nếp than và sắc vàng sậm của mắm chưng hiện ra dưới ánh đèn dầu leo lét.
Vì đã để nguội lâu, lớp mỡ mỏng từ thịt ba rọi trong mắm chưng đã hơi đông lại thành một lớp màng mờ mờ trên bề mặt. Hạt nếp than cũng không còn giữ được cái vẻ mềm mượt, mướt mát như lúc vừa ra xửng; chúng bắt đầu se lại, rời nhau hơn một chút do tác động của không khí. Một người sành ăn nhìn vào sẽ thấy ngay là độ ngon đã bị giảm đi vài phần.
Bình đưa một miếng nhỏ lên miệng.
Hạt nếp than hơi cứng, có độ nhám nhẹ đặc trưng nhưng bù lại, cái vị ngọt thanh của nước dừa xiêm đã thấm sâu vào từng thớ nếp, tạo nên một độ bùi rất riêng. Khi miếng mắm chưng chạm vào đầu lưỡi, một sự bùng nổ hương vị kín đáo diễn ra.
Vị mặn của mắm cá sặc đã được đường thốt nốt và gừng thái chỉ thuần hóa, trở nên đằm thắm lạ thường. Đặc biệt, lòng đỏ hột vịt muối dù nguội nhưng không hề tanh, nó bùi bùi, dẻo dẻo, quyện chặt lấy cái sần sật của tiêu sọ đập dập.
Trong cái tĩnh lặng của đêm tối, câu nói của cô gái ấy bỗng dưng vang lên trong đầu anh, rõ mồn một như vừa mới nghe đâu đây: “Hương vị là do người ăn cảm nhận, chứ không phải do mấy kẻ chỉ biết dùng miệng để hạ nhục đồ ăn.”
Anh khẽ dừng đũa. Hóa ra, cô không hề nói quá.
Giữa lúc đói lòng, cái sự chân chất, mộc mạc nhưng cực kỳ chỉn chu của gói xôi này lại có sức nặng hơn hẳn những mâm cao lương mĩ vị mà anh thường thấy. Cái cách cô gái ấy xử lý hũ mắm quen thuộc thành một món ăn vừa thực tế, vừa sạch mà vẫn giữ nguyên cái phong vị sông nước thực sự khiến một người kén chọn như anh phải kinh ngạc.
Gói xôi biến mất chỉ trong chốc lát. Bình nhìn vào đống lá chuối trống không, lòng dâng lên một sự tò mò không thể kìm nén. Anh không chỉ ấn tượng với món ăn, mà còn ấn tượng với đôi bàn tay đã bày biện nó một cách tươm tất, sạch sẽ đến cực đoan dù trong cảnh nghèo túng trên ghe lườn.
Sáng hôm sau, khi thằng nhỏ hầu vào dọn phòng, anh nói: “Cho người ra chợ nổi Cái Răng, tìm chiếc ghe lườn có cô gái bán xôi nếp than hôm qua.”
Thằng nhỏ hầu ngẩn người: “Dạ... cậu tìm người ta có việc chi không cậu?”
Anh không nhìn nó, tay vẫn tiếp tục giở bản kế hoạch về vựa lúa mới, giọng nói bình thản nhưng không cho phép chối từ: “Nói với cô ấy, nhà họ Phạm đang thiếu một người lo chuyện cơm nước riêng cho cậu. Nếu muốn có một chỗ đứng vững chắc ở cái đất này thay vì lênh đênh trên sông, thì hãy dọn đồ tới đây.”
Anh biết, một người phụ nữ sắc sảo và kiêu hãnh như cô gái đó sẽ không dễ dàng cúi đầu chỉ vì tiền bạc. Nhưng anh cũng hiểu, ở cái thời buổi này, một “hương vị phù sa” như cô cần một mảnh đất đủ rộng để bám rễ và lan tỏa. Và anh, chính là người duy nhất có thể cho cô mảnh đất đó.
Sáng hôm sau, chợ nổi Cái Răng đón con nước lớn bằng những âm thanh hỗn tạp quen thuộc. Vy vừa dọn xong xửng mắm thì thấy đám ghe xuồng xung quanh dạt ra một lối nhỏ. Chiếc xuồng máy nhỏ của nhà họ Phạm, đầu mũi sơn đỏ chói lộng lẫy, từ từ trờ tới.
Thằng nhỏ hầu mà hôm qua đứng sau lưng cậu Hai Bình, nhảy phắt lên mạn ghe của Vy. Nó mặc bộ đồ bà ba trắng tinh tươm, tay cầm một chiếc khay gỗ phủ vải điều, vẻ mặt hếch lên đầy tự đắc.
“Cô là Út Vy phải không?” Nó hỏi, giọng rổn rảng như gõ phèng la.
Vy dừng tay dầm, lau mồ hôi trên trán, nhàn nhạt đáp: “Phải, có việc chi không em?”
Thằng nhỏ không vội trả lời, nó đặt cái khay gỗ xuống sạp ghe, lật tấm vải điều ra. Bên dưới là một xấp giấy bạc mười đồng mới tinh và một đôi hoa tai vàng ròng sáng lóa.
“Cậu Hai nhà tui có lời khen món xôi mắm của cô. Cậu vốn là người sành ăn, xưa nay chưa thấy món quà quê nào vừa ý cậu như món này. Cậu bảo cô có bàn tay khéo léo, hiếm ai bì kịp.”